Mô hình quản lý rác thải dựa vào cộng đồng - Pdf 19

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là kết quả nghiên cứu của tôi. Số liệu và kết
quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được sử dụng trong bất cứ luận
văn, luận án nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khoá luận đều
đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong khoá luận đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Thị Hạnh
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể
các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã truyền đạt cho tôi
những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Kỹ sư Trần Thị
Thu Trang đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho
tôi hoàn thành quá trình nghiên cứu đề tài này.
Qua đây tôi cũng xin cảm ơn toàn thể cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi
trường huyện Kim Bảng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập
những thông tin cần thiết cho đề tài.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã
động viên và giúp đỡ tôi về mặt tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học
tập và thực hiện đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan, khách quan khoá
luận không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi rất mong nhận được sự
thông cảm và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Thị Hạnh

các vấn đề quản lý rác thải yếu kém ở các xã, thị trấn có tổ thu gom đồng thời
góp phần thực hiện quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ngày 22/2/2005 về ban
hành nghị quyết số 41của bộ chính trị, dự án BVMT tỉnh Hà Nam giai đoạn
2006-2010.
* Mục tiêu của mô hình: góp phần giảm sự ô nhiễm của môi trường, tạo
thu nhập cho một số người dân trong xã; cải tiến khả năng quản lý của nhóm
quản lý môi trường ở các làng, xã và huyện về quản lý rác thải ở vùng nông
thôn, nâng cao sự quan tâm của cộng đồng về tái chế, phân loại thu gom và xử
lý rác thải sinh hoạt; làm đẹp mỹ quan của xóm, làng và vùng xung quanh.
* Mô hình quản lý rác thải sinh hoạt dựa vào cộng đồng tại huyện Kim
Bảng cho thấy được sự tham gia phối hợp giữa các cơ quan, các tổ chức và
cộng đồng trong quá trình thực hiện mô hình. Đồng thời cũng thấy được tỷ lệ
thu gom rác thải sinh hoạt khi thực hiện mô hình đã tăng lên khoảng 80%; cơ
sở vật chất trang thiết bị phương tiện vận chuyển còn thô sơ, ít về số lượng,
chủng loại ảnh hưởng tới hiệu quả thu gom rác; nguồn kinh phí để duy trì hoạt
động của tổ thu gom chủ yếu từ người dân đóng góp, mức đóng góp tuỳ thuộc
vào sự thống nhất của người dân trong từng thôn, xóm. Rác thải được phân
loại tại các hộ gia đình. Tuy nhiên tỷ lệ này còn rất ít, rác hữu cơ được đem ủ
làm phân compost còn rác vô cơ được đem chôn lấp tại các bãi rác tại mỗi xã,
thị trấn.
4. Khi thực hiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt dựa vào cộng
đồng đã đem lại hiệu quả về kinh tế: tiết kiệm được diện tích chôn lấp, tận
dụng được tài nguyên rác; hiệu quả về xã hội: tạo công ăn việc làm cho người
thu gom rác, đảm bảo sức khỏe cho người dân địa phương; hiệu quả về môi
trường: giảm lượng phát thải ra môi trường, giảm sự ảnh hưởng tới các thành
phần ra môi trường.
iv
5. Những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện mô hình quản lý rác thải
sinh hoạt dựa vào cộng đồng
* Thuận lợi:

xung quanh về công tác quản lý rác thải.
Thứ hai, đối với cơ quan chính quyền địa phương: cần tuyên truyền, tập
huấn nhằm nâng cao ý thức BVMT của người dân; ban hành những nội quy,
quy chế về hành động gây ô nhiễm môi trường ở xã, thị trấn; nâng cao thu
nhập cho người làm công tác vệ sinh môi trường; nâng cao chất lượng thu
gom rác thải.
vi
MỤC LỤC
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình đất đai của huyện Kim Bảng qua 3 năm (2007 - 2009) 32
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Kim Bảng qua 3 năm (2007 -
2009) 35
Bảng 3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Kim Bảng qua 3 năm (2007
– 2009) 39
Bảng 4.1 Khối lượng rác thải trong vùng nghiên cứu 43
Bảng 4.2 Thành phần rác thải sinh hoạt tại vùng nghiên cứu 44
Bảng 4.3 Thành phần rác thải trong tương lai tại vùng nghiên cứu 45
Bảng 4.4 Đánh giá chung về chủ hộ tiến hành điều tra 51
Bảng 4.5 Vật dụng chứa rác của hộ điều tra 52
Bảng 4.6 Sự phân loại rác thải trong hộ gia đình 55
Bảng 4.7 Thiết bị thu gom và phương tiện vận chuyển rác trong vùng nghiên
cứu 58
Bảng 4.8 Kết quả về điều tra thời gian thu gom rác thải 59
Bảng 4.9 Khối lượng rác thải ra ở khu vực nghiên cứu 61
Bảng 4.10 Kết quả tổng hợp về đánh giá hiệu quả thu gom rác thải 62
Bảng 4.11 Một số bãi rác chính tiến hành quan sát 64
Bảng 4.12 Mức sẵn lòng đóng góp của người dân thôn Điền 65
Bảng 4.13 Mức sẵn lòng đóng góp của người dân xóm 10 - thị trấn Quế 66
Bảng 4.14 Mức sẵn lòng đóng góp của người dân thôn Phương Khê 67

do rác thải gây ra. Không chỉ có đô thị mà hiện nay các vùng nông thôn cũng
đang đối diện với vấn đề rác thải sinh hoạt. Quá trình công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước làm cho đời sống của người dân ngày càng được nâng cao
nhưng đồng thời thì lượng rác thải ra ngày càng nhiều. Bên cạnh đó, sự đa
dạng về sản phẩm hàng hoá để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội đã làm
cho rác thải trở nên đa dạng nhiều về chủng loại và khó phân huỷ dẫn đến ô
nhiễm môi trường. Mặt khác do chưa hiểu biết hoặc người dân có ý thức chưa
cao đối với tác hại của rác thải đến môi trường, cũng như sự thiếu đầu tư các
phương tiện thu gom và xử lý rác của chính quyền địa phương đã làm cho rác
thải sinh hoạt ngày càng nhiều và gây nên ô nhiễm. Một khi không được xử lý
và quản lý đúng đắn chúng sẽ gây ra nhiều tác hại đến môi trường như: làm
ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí. Nhưng nếu
chúng ta biết cách quản lý và tận dụng thì rác thải sẽ trở thành nguồn tài
nguyên có giá trị thông qua việc tái chế, tái sử dụng, đồng thời tạo ra thu nhập
cho người dân.
Huyện Kim Bảng là một huyện nằm ở phía tây bắc của tỉnh Hà Nam.
Huyện nằm gần trục quốc lộ 1A, 21A, 21B, 38B và vùng du lịch nổi tiếng
chùa Hương Tích của Hà Nội ở phía Tây. Đây là điều kiện thuận lợi tạo cho
huyện khả năng phát triển và giao lưu kinh tế văn hoá xã hội, từng bước hoà
nhập với nền kinh tế của tỉnh và khu vực. Trong những năm qua để thực hiện
đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước. Nền kinh tế của huyện đã có
những chuyển biến tích cực: sự gia tăng về số lượng của các công ty lớn nhỏ
1
cùng với sự phát triển của các dịch vụ, các làng nghề trên địa bàn huyện đã và
đang làm thay đổi cuộc sống của người dân nơi đây. Tuy nhiên mặt trái của
sự phát triển đó là tạo ra nhiều rác thải hơn trong đó có rác thải sinh hoạt gây
nên ô nhiễm môi trường ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng và các hệ sinh
thái ngày càng bị đe dọa bởi công tác quản lý, quy hoạch xử lý rác thải chưa
được triệt để còn gây nhiều tác động xấu đến đời sống của người dân. Chính
vì vậy vấn đề rác thải, cách quản lý rác thải ra sao để đạt hiệu quả là vấn đề

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu mô hình quản lý rác
thải dựa vào cộng đồng tại huyện Kim Bảng-Hà Nam.
- Phạm vi không gian: đề tài được tiến hành nghiên cứu tại huyện Kim
Bảng - Hà Nam.
- Phạm vi thời gian:
+ Nghiên cứu sử dụng số liệu nghiên cứu trong 5 năm từ năm 2006 đến
năm 2010.
+ Thời gian nghiên cứu: đề tài được tiến hành từ tháng 12 đến tháng 4
năm 2010.
3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
2.1.1 Những khái niệm có liên quan
* Khái niệm về rác thải sinh hoạt (chất thải rắn sinh hoạt)
Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải liên quan đến các hoạt động của
con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan trường học,
các trung tâm dịch vụ thương mại. Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao
gồm kim loại, sành sứ, thuỷ tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực
phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, giấy, rơm, rạ, vỏ rau quả……
* Khái niệm về cộng đồng và tổ chức cộng đồng
Khái niệm về cộng đồng cũng có nhiều quan điểm khác nhau:
- Cộng đồng là một tập thể cùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung,
hoặc có cùng tình trạng tương tự nhau về một khía cạnh nào đó. (Nguồn: từ
điển Anh Việt-Đại học Oxford)
- Cộng đồng là toàn thể những người sống thành một xã hội nói chung
có những điểm giống nhau và gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội.
(Nguồn: từ điển Tiếng Việt, 2005)
- Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người
sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh

- Hoạt động thường xuyên, không vụ lợi, góp phần vào việc phát triển
kinh tế xã hội của đất nước.
Về cơ sở pháp lý, các tổ chức dựa vào cộng đồng có thể chia làm 3
nhóm cơ bản:
Hội và hiệp hội là các tổ chức xã hội thành lập theo các quy định pháp
lý về hội và hiệp hội như sau: hội khuyến học Việt Nam, hội bảo vệ tài
5
nguyên thiên nhiên và môi trường Việt Nam… cho đến nay có khoảng 300
hội hoạt động ở phạm vi địa phương.
Các tổ chức tự quản ở các cơ sở thành lập theo các quy định pháp lý về
các tổ chức tự quản như: câu lạc bộ khuyến nông, câu lạc bộ vay vốn, tổ hoà
giải, nhóm tín dụng tiết kiệm, nhóm sở thích.
Các tổ chức kinh tế-nghề nghiệp thành lập theo các quy định pháp luật
về tổ chức kinh tế hợp tác như: hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
chi hội, nghề cá…(Nguồn: Trương Văn Tuyển, 2007)
*Khái niệm về sự tham gia của cộng đồng
Có nhiều cách hiểu khác nhau về sự tham gia của cộng đồng:
- Sự tham gia của cộng đồng là việc một cộng đồng được tham gia tư
vấn ý kiến, tỏ thái độ và mối quan tâm của họ về một kế hoạch phát triển hay
một qui hoạch phát triển kinh tế vùng, khu vực, hoặc kế hoạch sử dụng tài
nguyên. Đây là cơ hội để người dân có thể bày tỏ ý kiến của mình và bằng
cách đó họ có thể làm ảnh hưởng đến sự ra quyết định của cấp có thẩm quyền.
Điều này sẽ tác động rất lớn đến kế hoạch của một vùng rộng lớn, hoặc cũng
có thể là một dự án nhỏ.
- Hình thức tham gia của cộng đồng có thể khác nhau: có thể là một
chính sách về môi trường, qui hoạch vùng, xây dựng các nhà máy, khu công
nghiệp. Mức độ và loại hình tham gia của cộng đồng ở từng vùng mang tính
đặc trưng riêng, đặc biệt còn tùy thuộc vào tâm lý, trình độ dân trí và khả
năng nhận thức những vấn đề liên quan đến ý kiến tham vấn, đóng góp của
cộng đồng.(Nguồn: http://www.sotnmt-bentre.gov.vn)

của cộng đồng vào các khâu của chương trình, hoạt động còn hạn chế.
Cách tiếp cận phát triển định hướng cộng đồng hay còn gọi là phát triển
dựa trên cộng đồng được áp dụng phổ biến từ năm 2000. Các chương trình,
7
dự án phát triển định hướng cộng đồng có đặc điểm là trao cho cộng đồng
quyền kiểm soát quá trình ra quyết định và đóng góp nguồn lực vào việc lập
kế hoạch, thiết kế, thực hiện, vận hành, bảo trì những cơ sở hạ tầng.
Các chương trình phát triển định hướng cộng đồng ở thời kỳ này có quy
mô lớn hơn so với chương trình có sự tham gia của cộng đồng và không chỉ
dừng lại ở sự tham gia mà tăng cường sự quản lý của cộng đồng và sự tham
gia của chính quyền địa phương, gắn kết với cải cách ở mức độ rộng hơn và
tính thực thi cao hơn. Mức độ trao thẩm quyền khác nhau trong các chương
trình, dự án. Mức trao thẩm quyền thấp nhất là các tổ chức nhà nước và nhà
đầu tư quản lý nguồn vốn đầu tư và thực hiện các hoạt động, nhưng có lấy ý
kiến tham vấn của tổ chức cộng đồng. Mức trao thẩm quyền cao là tổ chức
cộng đồng tham gia vào kiểm soát các quyết định đầu tư, quản lý các nguồn
vốn đầu tư và chịu trách nhiệm toàn bộ các hoạt động. Mức trao quyền cho tổ
chức cộng đồng phụ thuộc vào các yếu tố:
- Năng lực và sự sẵn sàng của cộng đồng để huy động và tổ chức;
- Sự sẵn sàng và phương pháp mà các cấp chính quyền cao hơn trao
quyền cho cấp dưới;
- Sự hạn chế của khung pháp lý đối với cộng đồng trong việc tiếp nhận quyền
kiểm soát các nguồn vốn nhà nước hay nhà tài trợ phát triển chính thức (ODA);
- Khoảng cách xa xôi của các cộng đồng có thể gây khó khăn cho việc
thực hiện;
- Trình độ học vấn của cộng đồng cũng ảnh hưởng đến việc chuẩn bị tài
liệu của chương trình, dự án và báo cáo;
- Tính chất của công việc sẽ tiến hành.
Tuy nhiên, phát triển định hướng cộng đồng không phải là thích hợp và
mang lại hiệu quả với mọi trường hợp. Có các trường hợp mà tư nhân hay tổ

ẩm 70-80%) sẽ được các vi sinh vật phân huỷ tạo ra mùi hôi và nhiều loại khí
9
ô nhiễm khác có tác động xấu đến môi trường, sức khoẻ và khả năng hoạt
động của con người.
* Tác hại của rác thải sinh hoạt đến môi trường đất
Thành phần chất thải khá phức tạp, bao gồm giấy, thức ăn thừa, rác làm
vườn, kim loại, thuỷ tinh, nhựa tổng hợp,….có thể xử lý chất thải bằng cách chế
biến, chôn lấp, nhưng bằng cách gì thì môi trường đất cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Các chất thải hữu cơ sẽ được vi sinh vật phân huỷ trong môi trường đất
trong hai điều kiện hiếu khí và kỵ khí, khi có độ ẩm thích hợp sẽ tạo ra hàng loạt
các sản phẩm trung gian, cuối cùng hình thành các chất khoáng đơn giản, nước….
Với một lượng chất thải và nước rò rỉ vừa phải thì khả năng tự làm sạch
của môi trường đất sẽ phân huỷ các chất này trở thành các chất ít ô nhiễm
hoặc không ô nhiễm. Nhưng với lượng rác quá lớn vượt quá khả năng tự làm
sạch của đất thì môi trường đất sẽ trở nên quá tải và bị ô nhiễm. Các chất ô
nhiễm này cùng với kim loại nặng, các chất độc hại và các vi trùng theo nước
trong đất chảy xuống nguồn nước ngầm làm ô nhiễm tầng nước này.
Đối với chất thải không phân huỷ (nhựa, cao su,…) nếu không có giải
pháp xử lý thích hợp là nguy cơ gây thoái hoá và giảm độ phì của đất.
Ảnh hưởng quan trọng nhất đối với đất là việc tích tụ các chất chứa kim
loại nặng, sơn, các chất khó phân huỷ như nylon, sành sứ…trong đất. Các
chất này được giữ lại trong đất sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tính chất đất sau này.
Chất nhiễm bẩn quan trọng nhất là kim loại nặng. Kim loại nặng được coi
là yếu tố cần thiết cho cây trồng, tuy nhiên chúng cũng được coi là chất ô nhiễm
đến môi trường đất nếu chúng có nồng độ vượt quá mức nhu cầu sử dụng của
sinh vật. Tác động này ảnh hưởng lâu dài đến việc sử dụng đất sau này.
* Tác hại của chất thải đến cảnh quan môi trường và sức khoẻ cộng đồng
Chất thải phát sinh từ các khu dân cư, nếu không được thu gom và xử
lý đúng cách sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến môi trường, ảnh
hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng dân cư.

thực hiện theo nguyện vọng, nhu cầu thực tế và ý tưởng của chính cộng đồng,
trong đó các tổ chức quần chúng đóng vai trò như một công cụ hỗ trợ thúc
đẩy cho các hoạt động cộng đồng. Mô hình là một phương tiện cho người dân
trong cộng đồng tham gia vào quá trình ra quyết định. Quá trình này đưa ra
một giới hạn đầy đủ về các bên tham gia, từ đó phá vỡ những rào cản giữa các
bên liên quan và đưa ra những mục tiêu rõ ràng; tạo cơ hội cho cộng đồng
tham gia vào quá trình quản lý và xác lập khả năng tự trị. Do đó, đây là một
cơ chế quan trọng cho sự tham gia thực sự của cộng đồng vào giải quyết các
vấn đề của khu vực, duy trì tính công khai từ đó tạo hiệu quả cao trong việc
xây dựng năng lực quản lý của chính quyền địa phương. Với những lý do đó,
tiếp cận, áp dụng và nhân rộng mô hình này là một trong những bước đi quan
trọng hướng tới một xã hội phát triển bền vững.
Khái niệm quản lý môi trường dựa vào cộng đồng (CBEM): Là phương
thức bảo vệ môi trường trên cơ sở một vấn đề môi trường cụ thể ở địa
phương, thông qua việc tập hợp các cá nhân và tổ chức cần thiết để giải quyết
vấn đề đó. Phương pháp này sử dụng các công cụ sẵn có để tập trung cải tạo
hoặc bảo vệ một tài nguyên nào đó hay tạo ra lợi ích về môi trường như dự án
tái tạo năng lượng, phục hồi lưu vực, Và đồng quản lý tài nguyên đó thông
qua sự hợp tác giữa các đối tác chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức phi
chính phủ và cộng đồng dân cư.
* Khái niệm quản lý rác thải dựa vào cộng đồng
Về cơ bản, quản lý dựa vào cộng đồng là một khái niệm rất đơn giản,
xuất phát từ thực tế ngư dân và những cộng đồng ven biển, là những người
mà cuộc sống của họ phụ thuộc vào nguồn tài nguyên biển nên có vai trò rộng
lớn trong việc quản lý những tài nguyên này. Khái niệm này phù hợp với
quan điểm phổ biến là những quyết định quản lý tốt nhất thường xuất phát
trực tiếp từ chính cấp độ đó.
12
Chính ý nghĩ cho rằng những người sử dụng tài nguyên và những cộng
đồng này nên có trách nhiệm trước tiên đối với việc quản lý tài nguyên của họ

* Vai trò của cộng đồng đối với chất thải kinh tế
Kinh tế chất thải là một phạm trù đề cập đến những khía cạnh kinh tế
trong quá trình xử lý chất thải, từ khâu phát sinh, phân loại, thu gom, vận
chuyển, tái sử dụng, tái chế, chôn lấp chất thải cũng như áp dụng các công cụ
kinh tế trong quản lý chất thải. Dân chúng trong cộng đồng đều trực tiếp hay
gián tiếp liên quan đến các khâu này với tư cách hoặc là chủ thể của hoạt
động, hoặc và là đối tượng thụ hưởng hay đối tượng chịu tác động của các
hoạt động đó về mặt kinh tế hay vệ sinh, sức khỏe, hoặc cả hai. Các hoạt động
kinh tế từ chất thải ở nước ta chủ yếu được tiến hành với quy mô nhỏ, gắn với
kinh tế cá thể hay phi hình thức như: hoạt động mua bán đồng nát chủ yếu là
cá thể mà số đông là phụ nữ thực hiện; phân loại rác tại nhà cũng là phần việc
gắn với phụ nữ hoặc trẻ em; nhặt rác, bới rác tại bãi chôn lấp cũng là nhóm
đối tượng phụ nữ và trẻ em là chủ yếu. Họ là những người nghèo, có vị trí
thấp trong xã hội. Các nhóm đối tượng này không chịu sự điều tiết của các
quy chế, quy định như đối với các tổ chức hoặc cá nhân có tư cách pháp nhân.
Ngoài ra, các hoạt động tái chế quy mô nhỏ ở thôn xã cũng hoạt động dưới
hình thức phi chính thức. Chính vì vậy, tổ chức cộng đồng có vai trò quan
trọng đối với các thành viên của mình thông qua các quy định của cộng đồng.
Phát triển sự tham gia của cộng đồng về kinh tế chất thải chính là mở
rộng vai trò quản lý của quần chúng nhân dân đối với chất thải. Mở rộng
chuyển dịch năng lực quản lý chất thải về khía cạnh kinh tế từ trung ương tới
địa phương, từ cấp lãnh đạo đến người dân, tăng cường sự tham gia của mọi
người dân đối với rác thải. Mọi người dân được tham gia vào quá trình xác
định lợi ích và ra quyết định, tăng cường mối quan hệ cộng tác giữa chính
quyền trung ương với các cấp địa phương trong vấn đề quản lý chất thải mang
14
lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao nhất.
Vai trò của cộng đồng và tham gia cộng đồng về kinh tế chất thải thể
hiện ở các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, tính phức tạp, đa dạng về nhiều mặt của kinh tế chất thải cần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status