0
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ SẢN
LÊ KHẢ TẠO
ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH QUẢN LÍ NGHỀ CÁ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở
XÃ PHÙ LONG, CÁT HẢI, HẢI PHÒNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha trang, tháng 8 năm 2005
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
1
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
2
Tôi cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Đồng thời tôi cũng xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện
luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Nha trang, tháng 8 năm 2005
Tác giả
Lê Khả Tạo
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
3
LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn:
TS Nguyễn Long- Viện Nghiên cứu hải sản là người đã trực tiếp hướng
dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này.
Chi cục Bảo vệ nguồ lợi thuỷ sản Hải Phòng
UBND huyện Cát Hải
UBND xã Phù Long
Hội đồng quản lí nguồn lợi xã Phù Long
Đồn biên phòng 50
Ông Nguyễn Văn Hào- chủ nhiệm đề tài xây dựng, thực nghiệm mô hình
quản lí nguồn lợi ven bờ xã Phù Long.
8
Một số khái niệm
9
Danh mục các biểu bảng
10
Phần 1
12
TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
12
Chương 1
12
Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
12
1.1 Tình hình quản lí nghề cá ở nước ngoài 12
1.2 Thực trạng nghề cá ở Việt Nam 13
1.2.1 Số lượng tàu thuyền khai thác thuỷ sản ở Việt nam 13
1.2.2 Lao động nghề cá 14
1.2.3 Sản lượng khai thác 14
1.3 Những chính sách quản lí nghề cá đã áp dụng và những tồn tại cần
khác phục
15
1.3.1 Những chính sách quản lí nghề cá đã áp dụng 15
1.3.2 Các tồn tại trong công tác quản lí nghề cá hiện nay 16
1.4 Vấn đề quản lí dựa trên cộng đồng 18
1.5 Thực trạng nghề cá ở Hải Phòng và Phù Long 19
1.5.1 Nghề cá Hải Phòng 19
1.5.1.1 Nguồn lợi thuỷ sản 19
1.5.1.2 Số lượng tàu thuyền 20
1.5.1.3 Lao động nghề cá 22
1.5.1.4 Thực trạng công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản ở Hải Phòng 23
3.1.2. Công tác quản lí trước khi thực hiện mô hình 33
3.2.Áp dụng mô hình quản lí 34
3.2.1. Giới thiệu mô hình 34
3.2.1.1. Tại sao Phù Long được chọn 34
3.2.1.2. Mục tiêu, kết quả của mô hình 35
3.2.1.3. Nội dụng mô hình quản lí 35
3.2.2.Tổ chức thực hiện quản lí cộng đồng 37
3.2.2.1. Chức năng vai trò của các tổ chức thực hiện 37
3.2.2.2. Các chính sách được áp dụng 38
3.2.2.3. Cách tổ chức để cộng đồng ngư dân tham gia 38
3.2.2.4. Các biện pháp tuyên truyền 39
3.2.2.5. Sự tham gia của người dân 39
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
6
Chương 4
41
Kết quả thực hiện quản lí dựa vào công đồng ở xã Phù Long
41
4.1. Các công việc đã được tiến hành 41
4.2. Kết quả thực hiện mô hình 42
4.2.1. Sự thay đổi nhận thức và năng lực của cộng đồng 42
4.2.2. Sự thay đổi về nguồn lợi 45
4.2.3. Sự thay đổi về quyền sử dụng quản lí nguồn lợi của địa phương 47
4.2.4. Sự thay đổi thu nhập và đời sống của người dân 49
4.3. Đánh giá mô hình quản lí nguồn lợi ven bờ tại xã Phù Long. 51
4.3.1. Tính phù hợp 51
4.3.2. Tính hiệu quả 51
4.3.3. Sự bền vững 52
4.4. Định hướng và các giảI pháp hoàn thiện mô hình 52
BTS : Bộ thuỷ sản
CV : Công suất
K N : Kiểm ngư
QLDTĐ : Quản lí dựa trên cộng đồng
RNM : Rừng ngập mặn
SD : Sử dụng
UBND : Uỷ Ban nhân dân
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
8
LỜI MỞ ĐẦU
Nguồn lợi ven bờ có vai trò vô cùng quan trọng đối với Việt Nam-một đất
nước nghèo có trên 17 triệu dân sinh sống dọc theo bờ biển chủ yếu dựa vào nghề
khai thác nhỏ ven bờ .Việc bảo vệ nguồn tài nguyên này có ý nghĩa to lớn về kinh
tế và xã hội.
Với Cát Hải- một huyện đảo có đời sống kinh tế dựa trên 2 ngành kinh tế
cơ bản là du lich và thủy sản, tài nguyên ven biển lại càng mang ý nghĩa to lớn.
Tuy nhiên,cũng như tại các địa phương ven biển khác, tài nguyên và môi trường
biển Cát Hải đang xuống cấp nhanh chóng do ô nhiễm nước biển, các hoạt động
khai thác hủy diệt như mìn, hóa chất kích điện và các loại lưới mắt nhỏ .
Chính quyền và nhân dân Huyện đảo cần phải quản lý, bảo vệ nguồn sống
của mình để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của Huyện đảo. Khi cơ chế quản
lý nguồn lợi biển theo ngành tỏ ra chưa hiệu quả, giải pháp được huyện lựa chọn là
quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng đồng.
Mô hình quản lý nguồn lợi ven bờ xã Phù Long, huyện Cát Hải là mô hình
đầu tiên về quản lý nguồn lợi ven bờ do cộng đồng địa phương thưc hiện được thử
nghiệm tại Việt Nam. Trong đó chính quyền và ngư dân địa phương cùng chia xẻ
và hơp tác chặt chẽ trong việc bảo vệ tài nguyên biển của địa phương mình.
Ủy ban Nhân dân và các chi hội nghề cá xã Phù Long đã thành lâp một hội
Cộng đồng :
Cộng đồng bao gồm phần lớn là những ngư dân đánh bắt thuỷ sản quy mô
nhỏ và có thể nhiều đối tượng với nhiều lợi ích khác nhau cùng sống ở địa phương. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
10
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng
Nôi dung Trang
1-1
Trữ lượng và khả năng khai thác cá nổi và đáy ở vùng biển ven bờ
vịnh Bắc Bộ năm 2003
19
1-2 Sự biến động tàu thuyền và sản lượng khai thác
20
1-3 Cơ cấu tàu thuyền theo nhóm công suất
21
1-4 Phân bố lao động nghề cá ở Hải Phòng năm 1999
22
1-5 Kết quả kiểm tra công tác bảo vệ nguồn lợi vùng biển Hải Phòng
23
1-6
Sự biến động tàu thuyền, sản lượng khai thác xã Phù Long từ năm
2000 đến năm 2004
25
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
11
nguồn lợi
4-9 Tạo sinh kế mới thay cho nghề khai thác biển
50
4-10 Thu nhập của người dân so với trước khi có mô hình
50
Phần phụ lục
1
Thống kê số lượng tàu thuyền, sản lượng và lao động nghề cá Việt
Nam từ năm 1988 đến năm 2003
61
2
Kết quả khảo sát thực địa một số loàI thường gặpở Phù Long trong một
mẻ lưới giã có công suất 30cv
62
3 Nuôi ngao thay thế nghề khai thác biển
63
4 Nuôi dê thay thế nghề khai thác biển
64
5 Những băn khoăn của hội đồng quản lí
65
6 Mẫu đIều tra thực địa nguồn lợi
7 Những băn khoăn của người vi phạm
8 Mẫu phiếu điều tra
nhiên dẫn đến tình trạng thu hẹp công ăn việc làm của ngư dân vùng ven biển,
nhưng hiệu quả về sinh thái là rõ rệt. Để thực hiện tốt việc này cần phải có sự kết
hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chủ quản và nghề cá ở địa phương cũng như công
tác tuyên truyền đến mọi ngư dân.
Ở Pêru, Chilê vốn là những cường quốc về thuỷ sản, nhưng trước thực tế
nguồn lợi ngày càng suy giảm, các nước này cũng đã bắt đầu áp dụng các hình
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
13
thức hạn chế khai thác. Thí dụ ở Chilê từ tháng 1 đến tháng 4 hàng năm trong vùng
biển từ 05 hải lí trở vào đều bị cấm khai thác.
Philipin với 20 năm thực hiện quản lý tài nguyên thiên nhiên, năm 1998 có
439 khu bảo tồn biển. Tuy nhiên chỉ có 10% trong đó bao gồm 26.500 ha mặt nước
đã hoạt động đầy đủ theo nội dung của nó. Ở Philipin cũng hình thành các văn bản
pháp quy liên quan đến bảo vệ nguồn lợi ven biển. Cụ thể là năm 1987, Chính phủ
đã có biện pháp bảo hộ quyền sinh sống của các ngư dân và cộng đồng ven biển
sống dựa vào khai thác nguồn lợi ven bờ. Năm 1991, Chính phủ đã trao quyền
quản lý nguồn lợi ven biển trong khu vực mặt nước ven bờ cho các huyện và thành
phố quản lý. Năm 1998, Chính phủ ra luật nghề cá xác định quản lý tài nguyên ven
bờ, trong đó vai trò của chính quyền địa phương là chủ yếu. Cơ sở để quản lý
nguồn lợi ven biển của Phiipin là sự đe dọa an ninh lương thực. Năm 1996, lợi ích
kinh tế từ tài nguyên ven biển ước đạt 3,5 tỷ USD chiếm 17% GDP. Tổn thất kinh
tế từ sự hủy hoại tài nguyên ven biển vào khoảng 0,5 tỷ USD/năm. Xu hướng ưu
tiên toàn cầu hiện nay là bảo vệ sự đa dạng sinh học của biển và thay đổi khí hậu
toàn cầu.
Mô hình quản lý tài nguyên dựa trên cơ sở cộng đồng được nhiều nước sử
dụng, đặc biệt ở những nước đang phát triển, và mô hình này gần đây cho thấy tính
hiệu quả của nó. Quy mô của hình thức quản lý kiểu này thường được áp dụng
trong phạm vi nhỏ và mục tiêu chủ yếu là bảo vệ nguồn lợi thủy sản nhằm sử dụng
hợp lý tài nguyên. Bảo vệ nguồn lợi là nhằm tăng cường khả năng tái tạo của
vậy nghề cá là duy nhất đối họ. Mặc dù lực lượng lao động nghề cá nhiều như vậy
nhưng số thuyền trưởng, thủy thủ có trình độ chuyên mô cao thì còn rất thiếu.
Hiện nay đa số thanh niên vùng ven biển không muốn làm nghề biển do lao
động nặng nhọc, thu nhập thấp, không khuyến khích được người đi biển.
1.2.3.Sản lượng khai thác
Từ bảng 1 phụ lục 1 có thể nhận xét
Sản lượng khai thác thủy sản trong 15 năm qua đã giảm sút nghiêm trọng.
Nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ có dấu hiệu bị khai thác quá mức từ 1,08
tấn/cv/năm(1998) xuống còn 0,35 tấn/cv/ năm (2003). Đặc biệt năm 2002 sản
lượng khai thác đã vượt qua ngưỡng 1.400.000 tấn [ 4]
]
.
Như vậy hiệu quả khai thác đã bị suy giảm, thực tế đã có nhiều tàu, hợp tác
xã bị phá sản. Do số lượng tàu thuyền tăng nhiều, nguồn lợi bị suy giảm, nên sản
lương của mỗi đơn vị tàu ngày càng giảm. Để đảm bảo được hiệu quả kinh tế buộc
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
15
các chủ tàu phải tăng số mẻ khai thác trong một ngày đêm, tăng thời gian hoạt
động trên biển, giảm kích thước mắt lưới.
Từ những phân tích ở trên đã dẫn đến sự cạnh tranh giữa những người sử
dụng nguồn lợi với nhau, các ngành nghề khai thác với nhau, cạnh tranh giữa các
tàu đánh cá của các địa phương với nhau, cạnh tranh giữa nghề cá quy mô lớn và
nhỏ với nhau, cạnh tranh giữa các tàu lớn với tàu nhỏ với nhau. Nhằm đem lại
hiệu quả kinh tế nhiều người đã sử dụng hình thức khai thác bất hợp pháp, phản
khoa học như xung điện , chất nổ, hóa chất, sử dụng lưới có kích thước mắt nhỏ,
nhằm mang lại lợi ích trước mắt, nhưng thiệt hại về nguồn lợi không thể tính được.
Vấn đề này nếu không được giải quyết kịp thời, sẽ ảnh hưởng rất xấu đến nguồn
lợi đồng thời dẫn đến nguồn lợi sẽ bị cạn kiệt.
1.3. Những chính sách quản lí nghề cá đã áp dụng và những tồn tại cần khác
Trước những đòi hỏi phát triển của ngành thủy sản, sự quan tâm chỉ đạo của
Bộ thủy sản, UBND các cấp và sự hỗ trợ của các bộ, ngành có liên quan chỉ trong
một thời gian ngắn đã hình thành một hệ thống tổ chức Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản
trong cả nước, đến nay đã có 34 Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Ngoài ra các
địa phương còn xây dựng các trạm, mạng lưới cộng tác viên bảo vệ nguồn lợi thuỷ
sản đến các cấp xã phường. Đội tàu bảo vệ nguồn lợi trên biển ngày càng được
phát triển về số lượng đến năm 2001 đã có 92 chiếc tàu KN [14]. Lực lượng Bảo
vệ nguồn lợi hàng năm tiến hành kiểm tra và xử lí tới 16.000 vụ vi phạm đồng
thời kết hợp với lực lượng Biên Phòng tiến hành xua đuổi, bắt 41 tàu nước ngoài
vào đánh trộm hải sản trên vùng biển Việt Nam
Các chi cục ở các địa phương tiến hành quản lí nghề cá, tuyên truyền với
nhiều hình thức như báo đài truyền hình, in và phát hành nhiều tờ bướm, các ấn
phẩm tuyên truyền về Pháp lệnh Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thủy sản
1.3.2.Các tồn tại trong công tác quản lí nghề cá hiện nay
Hiện nay, tổ chức cơ cấu sản xuất ngành thủy sản đã thay đổi rất nhiều so
với thời kỳ trước đây. Tất nhiên đây là sự phát triển mới phù hợp với những chính
sách cải cách của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Khi tổ chức sản xuất thay
đổi thì đương nhiên bộ máy tổ chức, cơ chế quản lý điều hành sản xuất phải thay
đổi để phù hợp với nhu cầu đó.
Trong việc quản lý bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản như hiện nay chỉ tập trung ở
bộ máy cấp tỉnh thành phố nên việc kiểm tra giám sát không được chặt chẽ ở các
khu vực bởi lực lượng thanh kiểm tra quá mỏng trên diện tích quá rộng. Nếu như
so với số lượng ngư dân và tàu thuyền khai thác thì số lượng cán bộ trực tiếp quản
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
17
lý nghề cá quá ít không thể kiểm tra được trên vùng biển rộng nếu như không có
sự tham gia của ngư dân.
Nghề cá Việt Nam là nghề cá nhân dân với quy mô nhỏ, số lương ngư dân
lớn tập trung phân bố rải rác ở các vùng ven biển một số hộ sống trực tiếp dưới
vùng ven bờ dựa vào cộng đồng, thay phương thức quản lý tập trung chỉ đạo từ
trên xuống dưới được thay bằng phương thức từ dưới lên trên. Họ tự đề ra các quy
chế, quy định quản lí, họ tự thực thi thì sẽ có ý nghĩa thực tế hơn.
1.4.Vấn đề quản lí dựa trên cộng đồng
Từ các yêu cầu và tồn tại trên, đòi hỏi cần phải có một biện pháp quản lí
nghề cá phù hợp. Hệ thống quản lí nghề cá hiện nay quản lí tập trung chỉ đạo từ
trên xuống đang bị thiếu mắt xích là tổ chức ngư dân để quản lí nghề cá. Vì vậy
chỉ khi áp dụng quản lí theo hình thức mọi người cùng tham gia mới có thể giải
quyết triệt để nghề cá ven bờ như hiện nay. Vì vậy cần phải có một mô hình quản
lí. Đó là mô hình quản lí dựa trên cộng đồng.
Nói chung, ngư dân có xu hướng nghĩ rằng các điều khoản quản lí nghề cá
của Nhà nước đề ra không sát với thực tế nghề cá của họ. Vì vậy họ không tự
nguyện thực hiện những quy định này. Ngược lại, nếu được tham gia xây dựng
những điều khoản quản lí, ngư dân sẽ rất cẩn thận tự đề ra các quy định cho họ.
Đây là những bước đầu tiên rất quan trọng trong công tác quản lí nghề cá.
Một điều quan trọng nữa là hệ thống quản lí phải được nhận thức từ chính
ngư dân mà không có sự ép buộc của chính quyền. Ngư dân tự đề ra các điều
khoản quản lí và chính họ phải thực hiện.
Thực hiện “ngư dân tự quản” có ý nghĩa như sau:
- Ngư dân có khả năng phát hiện được những vi phạm trong số những người
đánh cá
- Sự hạn chế đánh bắt nêu ra trong các quy định của Nhà nước được áp
dụng cho tất cả các vùng, nên thường không sát. Ngược lại, nếu ngư dân trực tiếp
tham gia xây dựng các quy định hạn chế đánh bắt cho địa phương họ thì sẽ rất chi
tiết và có hiệu quả thực sự trong quản lí nguồn lợi và khai thác.
Vai trò của Tổ chức ngư dân (hay Hợp tác xã kiểu mới) trong quản lí nghề
cá.
- Hợp tác xã có vai trò lớn, như là chiếc chìa khoá dẫn tới thành công của
quản lí nghề cá ven bờ.
- Hợp tác xã sẽ như chiếc cầu nối giữa các cơ quan quản lí nhà nước và
Cá nổi nhỏ 119.800
68,7
59.900
Vịnh Bắc Bộ
(Nửa phía tây)
Cá đáy 54.605
31,3
21.842
Tổng số 174.405
100,0
81.742Nguồn: Dụ án điều tra nguồn lợi hải sản ven bờ năm 2003
Theo tài liệu [13]. Sản lượng khai thác vịnh Bắc Bộ ở nơi có độ sâu < 50 m
nước năm 1999 đã đạt tới mức 146.203 tấn, năm 1994 sản lượng khai thác vùng
ven bờ đạt được 109.744 tấn, trong khi khả năng cho phép khai thác là 109.282
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
20
1.100
14.0003 1990 680
1.179
14.500
11.300
4 1995 643
2.990
33.000
13.000
5 1996 326
2.800
36.300
16.500
26.000
10 2002
3.251
102.162
28.467
11 2003
2.634
108.108
28.953
12 2004
2.406
102.811
31.722Nguồn: Sở thủy sản Hải Phòng
ảnh hưởng trực tiếp biến động về nguồn lợi trong toàn vịnh.
Tổng số 2680 tàu thuyền máy của Hải Phòng năm 2001 được phân ra các
loại công suất như sau:
Bảng 1-3: Cơ cấu tàu thuyền theo nhóm công suất
Nhóm công suất Số lương tàu (chiếc) Tỉ lệ %
<15cv 71 3,4
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
22
15-20cv 1059 39,5
20-45cv 973 36,3
45-90cv 134 5,0
>90cv 443 16,5
Nguồn: Sở thủy sản Hải Phòng
Các tàu có công suất máy nhỏ hơn 45cv chiếm tới 79,2% tổng số tàu, các
tàu này thường hoạt động vùng ven bờ theo thời vụ, ngoài ra vẫn có một số hộ
nông dân sắm thuyền nhỏ khai thác ở ven bờ vào mùa nông nhàn, đã gây ra tình
trạng khai thác quá mức ở vùng nước ven bờ.
1.5.1.3. Lao động nghề cá
Nghề cá quy mô nhỏ của Hải Phòng chiếm tới 99% số lượng tầu 93% tổng
công suất, chiếm 99% tổng số lao động đánh cá và khai thác được 90% tổng số sản
lượng khai thác toàn thành phố.
Bảng 1-4: Phân bố lao động nghề cá ở Hải phòng năm 1999
TT Tên đơn vị
Số hộ kt
(Hộ)
Lao
động TT
Lao động
DV
1996 Nhà nước cấp cho tàu Kiểm Ngư 400 CV, cuối năm 2002 trạm Kiểm Ngư
Cát Bà đi vào hoạt động.
Hiện nay Chi cục có 20 người, trong đó có 01 tàu kiểm ngư, 01 trạm Kiểm
ngư Cát Bà với 06 thanh tra viên bảo vệ nguồn lợi và 09 lao động hợp đồng. Với
lực lượng ít, quản lí trên một địa bàn có diện tích rộng khoảng 15.850 hải lý
vuông, nên việc quản lí và bảo vệ nguồn lợi còn gặp nhiều khó khăn.
Ngoài ra còn có khoảng 700 - 800 tàu thuyền từ các địa phương khác đến
đánh bắt thủy sản tại khu vực ven biển Hải Phòng.
Do cơ chế quản lí phân theo vùng biển giữa các địa phương, nên khi bị
kiểm tra các phương tiện vi phạm bỏ chạy sang vùng biển của tỉnh khác, gâykhó
khăn cho công tác kiểm tra kiểm soát.
Hơn nữa, các tàu cá khai thác bất hợp pháp thường thông tin cho nhau khi
có tàu của lực lượng kiểm tra nên việc kiểm soát rất khó khăn.
Bảng 1- 5: Kết quả kiểm tra công tác bảo vệ nguồn lợi vùng biển Hải Phòng
Nội dung 1998 1999 2000 2001 2002
Tổng số
Số lượt P. T kiểm tra 1100 2300 2077 2100 2500
10077
Xử phạt số P.T vi phạm
500 719 622 615 320 2776
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
24
Trong đó:
Số vụ SD chất nổ
Số vụ SD xung điện
Số vụ SD chất độc
23
347
Nguồn: Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Qua bảng:1-5 nhận thấy số vụ vi ngày càng tăng. Các vụ sử dụng chất nổ,
chất độc chủ yếu là tầu thuyền đánh bắt ở ngoài khơi hoạt động theo mùa vụ, con
nước, còn các phương tiện dùng xung điện để đánh bắt thuỷ sản chủ yếu là thuyền
nan và tàu gỗ có công suất nhỏ hoạt động chủ yếu ở tuyến ven bờ và lộng với các
tàu có công suất nhỏ hơn 45cv.
Sử dụng chất độc thực chất không phải giảm đi mà do việc khai thác nguồn
lợi đã bị cạn kiệt (đặc biệt ở đảo Bạch Long Vỹ, đảo Cô Tô) không đem lại hiệu
quả kinh tế nên họ chuyển làm nghề khác.
Thống kê các phương tiện đánh bắt bất hợp pháp ở khu vực ven bờ cho thấy
có 57% ngư dân sử dụng thuyền máy 6 CV. Số tàu thuyền có công suất lớn hơn, từ
12 – 22 CV chiếm 34% và khoảng 9% tàu có công suất trên 22CV.
Trên đây là một số vụ vi phạm được phát hiện, thực chất còn quá nhỏ đối
với vùng biển Hải Phòng nói riêng và vịnh Bắc Bộ nói chung.
Tuy nhiên, công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản vẫn còn nhiều bất cập đó là:
- Việc quản lý tàu cá trong đăng ký, đăng kiểm, cấp giấy phép khai thác.
- Các thủ tục khác như bằng thuyền trưởng, bằng máy trưởng, sổ danh bạ
thuyền viên.
- Việc hoạt động tại các tuyến khai thác; tuyến ven bờ, tuyến lộng, tuyến xa
bờ.
- Đặc biệt các nghề khai thác vi phạm bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản còn nhiều
hạn chế.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com