Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Vũ Hải Yến
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, theo ước tính của Sở Y Tế Tp.HCM thì trung bình mỗi ngày có
khoảng 60.000 người khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế trong thành phố. Trong đó hầu
hết các bệnh viện trong thành phố điều hoạt động quá tải. Với số lượng người khám
chữa bệnh lớn như vậy, mỗi ngày các cơ sở y tế trên địa bàn thải ra khoảng 14 tấn chất
thải rắn y tế và một khối lượng lớn nước thải. Tuy nhiên, việc quản lý nguồn thải nguy
hại này đang còn nhiều bất cập. Vì vậy, bên cạnh nhu cầu tăng cường khả năng khám
chữa bệnh cải thiện điều kiện cơ sở vật chất tại các cơ sở y tế thì ngành y tế cần quan
tâm xử lý triệt để lượng CHẤT THẢI RẮN Y TẾ (CTRYT) sinh ra hiện tại và xử lý
khối lượng CTRYT sinh ra hiện tại và phát sinh trong tương lai.
Cũng như các địa phương khác, việc xử lý chất thải rắn y tế ở TP Hồ Chí Minh
đến nay vẫn do Nhà nước đảm trách với công nghệ xử lý duy nhất sau phân loại tại
nguồn là đốt tiêu hủy. Quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh dược phẩm, thực phẩm
chức năng cũng thải khoảng 500-1.000 tấn rác/ năm. Đặc biệt là khối y tế ngoài công
lập chưa được xử lý triệt để, dẫn đến một số còn được đem tiêu thụ ngoài thị trường
Chất thải y tế có khả năng là chất thải nguy hại nhất phát sinh trong cộng đồng
bởi nó có thể chứa mọi đặc tính nguy hại trực tiếp đối với sức khỏe con người và môi
trường, đạc biệt CTRYT được sinh ra ngay bênh cạnh khu vực dễ bị tổn thương nhất –
những người ốm yếu bệnh tật. Vì vậy, việc quản lý và kiểm soát CTRYT ngay tại
nguồn là nhằm ngăn chặn tối đa sự lây lan mầm bệnh và ô nhiễm đến môi trường xung
quanh.
Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định là một trong những bệnh viện đa khoa trong địa
bàn TP. HỒ CHÍ MINH. Đảm trách việc khám chữa bệnh cho nhân dân khu vực xung
quanh như quận Bình Thạnh, Gò Vấp, Phú Nhuận, Thủ Đức. Thành phần và tính chất
của CTR y tế bao gồm: Kim tiêm, bom tiêm kèm kim tiêm, thiết bị giải phẫu, mô tế
SVTH: Ngô Trọng Nhã 1 MSSV: 107108057
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Vũ Hải Yến
bào người hoặc động vật, xương, nội tạng, bình, túi hoặc ống dẫn chứa các chất lỏng từ
cơ thể, các vật dụng và vật chất khác bị loại bỏ trong quá trình thăm khám và điều trị
đối tượng của đề tài.
Thu thập thông tin từ sách, báo, internet, bài viết có liên quan đến đối
tượng nghiên cứu.
Khảo sát, xem xét hiện trạng thu gom, xử lý, lưu trữ, vận chuyển chất
thải rắn y tế trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh và Bệnh Viện Nhân
Dân Gia Định từ đó đưa ra những nhận xét đánh giá và biện pháp khắc
phục những bất cập của đề tài. Bằng các biện pháp như trực tiếp tiếp cận
công trình, xin số liệu trực tiếp của bệnh viện và có một thời gian làm
việc tại đây, tin chắc rằng đề tài sẽ đảm bảo tính khách quan và chính
xác.
6. Ý nghĩa Khoa Học- Kinh tế- Xã Hội của đề tài
Theo ước tính, trong một ngày đêm, mỗi giường bệnh thải ra môi trường khoảng
2,5 kg rác thải, chất thải, trong đó từ 10% đến 15% là loại chất thải độc hại, dễ gây lây
nhiễm. Thế nhưng, khâu quản lý rác thải, chất thải của các cơ sở y tế lại hết sức lỏng
lẻo. Hầu hết rác thải y tế bệnh phẩm chưa được phân theo đúng chủng loại, chưa được
khử khuẩn trước khi thải bỏ, không có nhà lưu chứa hoặc có nhưng không đúng
tiêuchuẩn, không bảo đảm vệ sinh và có nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng.
Trong quy chế quản lý rác thải, chất thải bệnh viện, bộ Y tế quy định rất rõ rang
và còn đưa ra quy trình thu gom , lưu trữ, vận chuyển. Theo đó, rác thải , chất thải phải
được xử lý ngay tại thời điểm mới phát sinh, đựng trong các túi hoặc thùng tùy theo
quy định về màu sắc, tiêu chuẩn. Nhưng thực tế, phần lớn các bệnh viện, cơ sở y tế,
nhất là cơ sở y tế tư nhận, chưa thực hiện đúng quy định này. Rất nhiều lần, do bất cẩn,
SVTH: Ngô Trọng Nhã 3 MSSV: 107108057
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Vũ Hải Yến
công nhân làm vệ sịnh đã đánh rơi túi đựng chất thải y tế xuống đường, nguy cơ gây
bệnh truyền nhiễm là không thế tránh được. Chính vì thế, mà các bệnh viện cần hành
động ngay các công tác bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe của chính cộng đồng mình
bằng cách thực hiện đúng quy trình thu gom, vận chuyển, lưu trữ và xử lý chất thải rắn
y tế hợp lý, đề tài tiến đến xây dựng, và hoàn thiện chu trình thu gom, xử lý chất thải
rắn y tế tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định cùng với mục tiêu quản lý hiệu không chất
CTYT là một trong những loại chất thải nằm trong danh mục A của danh mục các
chất thải nguy hại, vì vậy việc quản lý CTYT cần tuân thủ các quy định có liên quan
đến quản lý chất thải nguy hại. Chỉ riêng Tp. HCM, đến nay mạng lưới các cơ sở y tế
rộng khắp với hơn 70 bệnh viện, 24 trung tâm y tế quận – huyện, 300 trạm y tế và hơn
9000 coq sở y tế tư nhân.Trong tương lai, lượng chất thải phát sinh tại các bệnh viện có
thể cao hơn do việc sử dụng các sản phẩm dùng một lần ngày càng tăng.
SVTH: Ngô Trọng Nhã 5 MSSV: 107108057
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Vũ Hải Yến
1.2 Thành phần chất thải rắn y tế
Theo nghiên cứu của bác sĩ tại các bệnh viện nhi đồng I, thành phần của CTYT
gồm:
80% rác y tế loại thường.
18-18,5% vật sắc nhọn.
1,5-2% mô.
Bảng 1.1 Các loại chất thải rắn đặc thù phát sinh từ hoạt động y tế
Loại chất thải rắn Nguồn gốc
Chất thải sinh hoạt Các chất thải từ nhà bếp, khu hành chính, các loại bao gói,…
Chất thải chứa các vi
trùng gây bệnh
Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của người sau khi
mổ xẻ và của các động vật sau quá trình xét nghiệm, các gạc bông
lẫn máu của bệnh nhân…
Chất thải bị nhiễm bệnh Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân, các chất thải từ
quá trình lau cọ sàn nhà
Chất thải đặc biệt Các loại chất thải độc hại hơn các loại trên, các chất phóng xạ, hóa
chất dược
CTR Y Tế tại các bệnh viện được phân thành 2 nhóm như sau:
Chất thải sinh hoạt:
Phát sinh từ hoạt động sinh hoạt của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, nhân viên y
tế cũng như chất thải phát sinh tại các khu công cộng như nhà ăn vườn cây
Plastic 2250 2-8 3
5 Vải 1500 0-4 2
6
Cao su 375 0-2 0.5
7 Da 375 0-2 0.5
SVTH: Ngô Trọng Nhã 7 MSSV: 107108057
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Vũ Hải Yến
8
Rác vườn 9000 0-20 12
9 Gỗ 1500 1-4 2
10
Thủy tinh 6000 4-16 8
11 Hộp kim loại 4500 2-8 6
12
kim loại maù 750 0-1 1
13 Sắt 1500 1-4 2
14
Bụi tro 3000 0-10 4
tổng 75000 100
RÁC
Y TẾ
NGUY
HẠI
1 Thủy tinh 600 8-13 10
2 Nhựa PP 570 8-11 9.5
3 Plastic 1500 2-26 25
4 Cao su 1200 21-24 20
5 Vải 1800 27-32 30
6 kim loại màu 180 2-4 3
7 Nước 120 0-3 2
Nhóm B: Là các vật sắc nhọn, bao gồm bơm tiêm, lưỡi và cán da mổ, đinh mổ,
ống tiêm, cưa, mảnh thủy tinh và mọi vật liệu có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc
thủng, cho dù chúng có thể bị nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn.
Nhóm C: Là chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét
nghiệm, bao gồm: găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi sinh khiết/ xét
nghiệm/ nuôi cấy, túi đựng máu.
Nhóm D: Là chất thải dược phẩm, bao gồm dược phẩm quá hạng, dược phẩm bị
nhiễm khuẩn, bị đổ hoặc không có nhu cầu sử dụng, thuốc gây độc tế bào.
Nhóm E: Là các mô, cơ quan người, động vật, bao gồm tất cả các mô của cơ thể,
các cơ quan chân tay, nhau thai, bào thai, xác súc vật.
Chất thải phóng xạ:
SVTH: Ngô Trọng Nhã 9 MSSV: 107108057
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Vũ Hải Yến
Chất thải phóng xạ bao gồm chất thải rắn, lỏng, khí. Chất thải phóng xạ ở dạng
rắn bao gồm: các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chuẩn đoán, điều trị như ống
tiêm, bơm tiêm, kính bảo hộ, chai lọ đưng chất phóng xạ
Chất thải phóng xạ dạng lỏng bao gồm: dung dịch có chứa nhân phóng xạ phát
sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của bệnh nhân, các chất bài tiết,
nước súc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ
Chất thải phóng xạ khí bao gồm: các chất khí dùng trong lâm sàng như xe, các
khí thoát ra từ kho chứa chất phóng xạ
Chất thải hóa học:
Chất thải hóa học bao gồm các chất rắn, lỏng khí. Chất thải hóa học trong các cơ
sở y tế thành 2 loại:
Chất thải hóa học không gây nguy hại : như đường, acid béo, một số muối vô cơ
và hữu cơ.
Chất thải hóa học nguy hại bao gồm:
- Formaldehyd: được sử dụng trong khoa giải phẩu bệnh, lọc máu, ướp xác và
dùng để bảo quản các mẫu xét nghiệm.
- Các hóa chất quang hóa học: có trong dung dịch dùng cố định và tráng
Tuyến bệnh viện
Tổng lượng chất thải
(kg/giường bệnh/người)
Chất thải y tế
(kg/giường bệnh/người)
Bệnh viện trung
ương
4.1 - 8.7 0.4 – 1.6
Bệnh viện tỉnh 2.0 – 4.2 0.2 – 1.1
Bệnh viện huyện 0.5 – 1.8 0.1 – 0.4
Nguồn: theo tổ chức y tế thế giới (WHO) số liệu năm 1999
Bảng1.4 Lượng rác thải phát sinh tại Việt Nam theo các tuyến (kg/giường.ngày)
SVTH: Ngô Trọng Nhã 11 MSSV: 107108057
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Vũ Hải Yến
Tuyến bệnh viện Năm 2005 Năm 2010
BV đa khoa TW 0,35 0,42
BV chuyên khoa TW 0,23 - 0,29 0,28 - 0,35
BV đa khoa tỉnh 0,29 0,35
BV chuyên khoa tỉnh 0,17 – 0,29 0,21 – 0,35
BV Huyện, ngành 0,17 – 0,22 0,21 – 0,28
Nguồn: Bộ Y tế, 2010
Hiện nay (năm 2012) trên cả nước, lượng CTR trung bình thải ra mỗi ngày là
0,86kg/giường bệnh, trong đó, CTR y tế là 0,14kg/giường bệnh. Tổng lượng CTR ở
các BV trên toàn quốc lên tới 100 tấn và 16 tấn CTR y tế cần được xử lý. Tỷ lệ này
khác nhau giữa các BV, tùy thuộc số giường bệnh, BV chuyên khoa hay đa khoa, các
thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại BV, số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng.
Bảng 1.5 Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
Khoa
Tổng lượng CT phát sinh
(kg/giường.ngày)
và chuyên khoa
Bệnh viện đa
khoa trung
ương
Bệnh viện
chuyên khoa
trung ương
Bệnh viện
đa khoa
tuyến tỉnh
Bệnh viện
chuyên khoa
tuyến tỉnh
Bệnh viện
huyện và
ngành
Khối lượng chất thải
rắn nguy hại
(kg/giường/ngày)
0,3 0,225 0,225 0,2 0,175
Nguồn: bộ y tế, Quy hoạch quản lý chất thải y tế, năm 2009
1.5. Quản lý chất thải rắn y tế
Quản lý chất thải rắn y tế là các hoạt động kiểm soát chất thải trong suốt quá trình
từ khi chất thải phát sinh đến xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và thiêu hủy
chất thải.
Thu gom là việc tách, phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải tại
địa điểm tập trung chất thải bệnh viện.
Vận chuyển là quá trình chuyên chở từ nơi phát sinh đến nơi xử lý ban đầu, lưu
giữ, tiêu hủy.
Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt trùng các chất thải có nguy cơ lây
SVTH: Ngô Trọng Nhã 14 MSSV: 107108057
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Vũ Hải Yến
Hướng dẫn
Thông tin cộng đồng.
Quan hệ quốc tế.
Trong công tác quản lý CTR, hệ thống quản lý hành chính là hệ quả của hệ thống
kỹ thuật, cùng phối hợp nhịp nhàng với nhau giúp cho công tác quản lý tốt, giảm bớt
tác động xấu đến môi trường. Mỗi phòng ban hay mỗi thành phần trong hệ thống có
chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ và quyền lợi khác nhau. Việc phân chia các thành
phần để chỉ rõ trách nhiệm với nhau và tạo mối liên kết theo kiểu mắt xích.
Hình 1.1. Quy trình xử lý chất thải y tế tại bệnh viện
SVTH: Ngô Trọng Nhã 15 MSSV: 107108057
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Vũ Hải Yến
1.6. Các quy định về phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu trữ chất thải y tế
1.6.1. Mã hóa các túi và thùng đựng chất thải
Chất thải lâm sàng được phân loại ngay tại nguồn thải và phải để trong các túi
hoặc thùng đựng có màu sắc dễ nhận dạng. Tất cả các bệnh viện sẽ áp dụng một hệ
thống mã hóa màu sắc chuẩn mực theo quy định như sau:
Màu vàng: đựng chất thải lâm sàng, bên ngoài có biểu tượng sinh học.
Màu xanh đựng chất thải sinh hoạt.
Màu đen dựng chất thải hóa học, chất thải phóng xạ, thuốc gây độc tế bào.
Màu trắng: đựng các thất thải y tế có thể tái chế.
Các túi, hộp và thùng đựng các màu trên chỉ được sử dụng để đựng chất thải và
không dùng vào các mục đích khác. Túi đựng chất thải lâm sàng:
Túi đựng chất thải để đem đi đốt phải là túi nhựa PE hoặc PP, không dùng túi
nhựa PVC vì khi đốt sẽ gây ra nhiều chất ô nhiễm.
Thành túi dày, kích thước túi phù hợp với lượng thải phát sinh, thể tích tối đa của
túi là 0.1m
3
.
SVTH: Ngô Trọng Nhã 17 MSSV: 107108057
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Vũ Hải Yến
Các chất thải lâm sàng và chất thải sinh hoạt phát sinh trong bệnh viện và các cơ
sở y tế không được trộn lẫn với nhau. Nếu không may bị trộn lẫn hai loại chất thải thì
chất thải đó phải được xử lý như là chất thải lâm sàng.
1.6.3. Thu gom chất thải
Các thùng hoặc túi đựng chất thải lâm sàng phải được chuyển đi khỏi khoa,
phòng hằng ngày hoặc khi có tình huống đòi hỏi. Không được vận chuyển các túi đựng
chất thải nếu không được bảo vệ để tránh gây đổ chất thải ra ngoài. Các hộp đựng vật
sắc nhọn phải dán kín và cho vào túi nilon trước khi vận chuyển ra khỏi phòng. Hộ lý
sẽ thu gom chất thải lâm sàng và đem đến khu tập trung chất thải quy định trong bệnh
viện. Không được thay thế các túi thải lâm sàng màu vàng bằng các túi khác trong mọi
hoàn cảnh. Những nơi đặt thùng đựng chất thải lâm sàng và CTSH phải được định rõ
tại mỗi khoa, phòng. Mỗi khoa cần có nơi lưu giữ các túi đựng chất thải theo từng loại.
Trách nhiệm của điều dưỡng viên phải đảm bảo một khi chất thải lâm sàng được đưa ra
khỏi khoa phải để trong túi nilon có màu vàng.
1.6.4. Vận chuyển các túi đựng chất thải rắn
Những nhân viên vận chuyển chất thải lâm sàng từ túi vào thùng và từ các thùng
chứa lớn có thể ít chú ý đến các công việc thường lệ hàng ngày.
Chính vì vậy, nguy cơ bị tổn thương đối với những nhân viên chuyên chở chất
thải với khối lượng lớn ngày càng tăng lên. Nhân viên làm công việc vận chuyển phải
được đào tạo và nắm được các vấn đề sau:
Trước tiên phải kiểm tra các túi hoặc thùng đựng chất thải đã buộc kín chưa.
Các túi đựng chất thải chỉ được nhấc lên ở phần cổ của túi và bỏ vào thùng sao
cho lần vận chuyển sau cũng có thể nhấc được phần cổ của túi đựng chất thải lên. Cần
hạn chế tối đa vận chuyển chất thải bằng tay ở những nơi có thể được bởi vì đây là
SVTH: Ngô Trọng Nhã 18 MSSV: 107108057
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Vũ Hải Yến
nguồn chính gây ra rùi ro do kim tiêm đâm vào tay khi bơm tiêm không được phân loại
và bỏ vào thùng đựng vật sắc nhọn theo đúng quy định .
Cách xa nơi chuẩn bị đổ đồ ăn, nhà kho, nơi công cộng và lối đi.
Hạn chế được đường vận chuyển ngoài trời từ nơi thu gom ban đầu.
Có đường để xe chuyên chở chất thải từ bên ngoài đến.
Nơi lưu giữ chất thải y tế nguy hại riêng biệt với chất thải sinh hoạt.
Có mái che, hàng rào bảo vệ có cửa và khóa, tường ốp gạch men kính
Không để súc vật, các loài gặm nhấm, côn trùng ra vào tự do
Diện tích đủ rông để có thể lưu trữ chất thải trong vòng 2 ngày.
Có phương tiện rửa tay và rửa dụng cụ.
Có dụng cụ bảo hộ lao động cho nhân viên.
Có dụng cụ hóa chất làm vệ sinh.
Có hệ thống cống thoát nước
Nền dốc dễ thoát nước vào ống , không thấm nước.
Thông khí tốt.
Có đèn chiếu sáng
Về diện tích lưu trữ chất thải, tùy theo mức độ phát sinh chất thải tại đơn vị mà
nơi lưu giữ chất thải có diện tích phù hợp. Theo tài liệu của WHO, thông thường tỷ
SVTH: Ngô Trọng Nhã 20 MSSV: 107108057
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Vũ Hải Yến
trọng của chất thải là 0.11kg/lít chất thải tương đương 110 kg/m3. Theo nghiên cứu của
bộ y tế năm 1998, lượng chất thải phát sinh trung bình là 0.14kg
Chất thải y tế / Giường bệnh/ ngày và 0.72 kg CTRSH/ giường bệnh/ ngày ( số
liệu chung của các tuyến bệnh viện). Như vậy theo cách tính toàn của Vụ điều trị, diện
tích tối thiểu lưu trữ chất thải y tế là 1.0-1.4m
2
/ giường bệnh và khu lưu trữ chất thải
sinh hoạt 4.0-5.0 m
2
/ giường bệnh, không kể diện tích sẽ tăng thêm nếu bệnh viện
nhận đốt chất thải cho các bệnh viện lân cận khác khả năng gia tăng việc sử dụng các
sản phẩm dùng 1 lần.
chất thải phải có thiết bị làm lạnh có thể dung để lưu giữ một lượng chât thái lớn trong
bệnh viện và mỗi lần đến chuyên chở lại thay thế bằng một thùng chuyên dụng khác.
Việc thiết kế thùng này phải đảm bảo những đặc tính thích hợp cho việc lưu giữ chất
thải lâm sàng như : an toàn tương đối nhẹ sử dụng tiện lợi, thành trong và thành ngoài
phải nhẵn để tiện lợi cho việc vệ sinh và khử khuẩn.
• Sử dụng thùng đựng thứ cấp
Các túi đựng chất thải lâm sàng có thể chuyển trực tiếp lên các thùng xe chuyển
chở chất thải để vận chuyển đi thiêu đốt. Tuy nhiên, một số công ty thương mại và
bệnh viện Châu Âu và ở Mỹ sử dụng hệ thống thùng đựng thứ cấp, tức là các túi và
thùng đựng chất thải được cho vào một thùng đựng thư cấp để vận chuyển và đưa đi
tiêu hủy. Ví dụ: các hộp carton có bánh xe , các thùng bằng nhựa có nắp đậy và đã
chứa đầy chất thải ở bên trong và các thùng này được vận chuyển đến lò thiêu và sau
đó được tiêu hủy hoàn toàn cúng với các túi đựng chất thải. Tuy nhiên, việc sử dụng hệ
thống thùng đụng chất thải sẽ làm tăng giá thành tiêu hủy chất thải.
SVTH: Ngô Trọng Nhã 22 MSSV: 107108057
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Vũ Hải Yến
• Vệ sinh và khử khuẩn
Xe chuyển chở chất thải y tế phải được làm sạch và sát khuẩn ngay sau khi có
chất thải rơi vải trong thùng xe. Việc vệ sinh xe chuyên dụng phải tiến hành tại 1 địa
điểm có mặt bằng thích hợp và có hệ thống dẫn nước vệ sinh vào cống thải, trên xe
luôn có đủ túi nhựa, quần áo bảo hộ, các dụng cụ làm sạch, sát khuẩn để làm sạch và
tiệt khuẩn các dụng cụ, phương tiện bị nhiễm bẩn do chất thải rơi vãi trong quá trình
giao nhận, vận chuyển chất thải.
• Các biện pháp đảm bảo an toàn
Nhân viên ( cơ quan tiêu hủy chất thải hoặc nhà thầu tư nhân) có trách nhiệm vận
chuyển chất thải y tế từ nơi này đến nơi khác phải có hệ thong bảo hộ lao động trong
quá trình vận hành để đảm bảo :
Người thu gom, các lái xe và những người lao động tay chân phải biết và được
huấn luyện để đặc tính và nguy cơ của các chất thải mà họ đang vận chuyển
Các nhân viên phải làm quen với các quy trình sử lý khi vô tình rơi vãi chất thải
chức thu gom và tiêu huy CTRYT nguy hại cho toàn bộ cơ sở y tế trên địa bàn. Còn tại
các tỉnh, thành phố khác, CTRYT được xử lý và tiêu huy với những mức độ khác nhau,
một số lò đốt hiện phải ngừng hoạt động. Một số lò đốt không đạt tiêu chuẩn về nhiệt
độ buồng đốt thứ cấp và khí thải lò đốt vượt mức tiêu chuẩn cho phép. Theo khuyến
cáo của Tổ chức Y tế Thế giới cũng như các chuyên gia cần nghiên cứu và triển khai,
áp dụng các công nghệ không đốt (thiết bị khử khuẩn bằng nhiệt ướt hoặc vi sóng),
thân thiện hơn với môi trường, chi phí vận hành lại rẻ hơn phương pháp đốt và tăng cơ
SVTH: Ngô Trọng Nhã 24 MSSV: 107108057
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Vũ Hải Yến
hội tái chế chất thải. Nhưng hiện nay, ở nước ta vẫn còn thiếu các cơ sở tái chế chất
thải, mặc dù, có rất nhiều những vật liệu từ chất thải BV như chai dịch truyền chứa
dung dịch huyết thanh ngọt (đường glucose 5%, 20%), huyết thanh mặn (NaCl 0,9%),
các dung dịch acide amine; các loại bao gói nilon và một số chất nhựa khác; các vật
liệu giấy, thủy tinh là hoàn toàn không có yếu tố nguy hại, có thể tái chế để hạn chế
việc thiêu đốt chất thải gây ô nhiễm, đồng thời là nguồn thu để BV tái đầu tư cho xử lý
chất thải. Trong Quy chế quản lý chất thải y tế (2007) đã bổ sung nội dung tái chế CTR
y tế không nguy hại làm căn cứ để các cơ sở y tế thực hiện. Tuy nhiên, nhiều địa
phương chưa có cơ sở tái chế, do vậy, việc quản lý tái chế các chất thải y tế không
nguy hại còn gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là thiếu nguồn kinh phí đầu tư, xây dựng và
vận hành hệ thống xử lý chất thải, trong khi tổng chi phí cho xử lý CTR là tương đối
lớn. Chi phí cho vận hành xử lý chất thải y tế chiếm đến 5% ngân sách Nhà nước cấp
cho cơ sở y tế. Hơn nữa, kinh phí đầu tư xây mới, cải tạo B V còn hạn chế, nên tiến độ
thực hiện của các BV còn chậm. Tuy vậy, Thành phố Hồ Chí Minh cũng đang tăng
cường công tác quản lý và tìm kiếm các hướng quản lý tốt hơn nhằm hạn chế lượng
chất thải y tế phát sinh, cùng với việc bảo hộ cho người lao động trong ngành.
1.7.1 Các hoạt động quản lý chất thải y tế
Đối với các cơ sở y tế
Từ năm 2003 đã phối hợp với TTYT Quận Bình Thạnh, Gò Vấp, BV Nguyễn
Trãi, Ung Bướu tổ chức các lớp tập huấn về phân loại, thu gom, xử lý chất thải y tế
cho các nhân viện y tế và 2 lớp tập huấn cho nhân viên thu gom chất thải rắn y tế của