Điều tra, nghiên cứu hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại thanh hóa và đề xuất các giải pháp cải thiện - Pdf 10

1 Điều tra, nghiên cứu hiện trạng quản lý chất thải rắn
y tế tại Thanh Hóa và đề xuất các giải pháp cải thiện

Nguyễn Thị Vân Anh

Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên; Chuyên ngành: Khoa học môi trƣờng; Mã số: 608502
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Ngô Kim Chi
Năm bảo vệ: 2011

Abstract: Tổng quan về chất thải rắn y tế; tác động của chất thải rắn y tế với môi trƣờng và sức
khỏe cộng đồng; tình hình quản lý chất thải rắn y tế trong và ngoài nƣớc; các văn bản pháp lý
có liên quan đến quản lý chất thải y tế. Trình bày về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội tỉnh
Thanh Hóa cũng nhƣ hiện trạng hệ thống kỹ thuật quản lý chất thải rắn (CTR) y tế tại tỉnh.
Nghiên cứu về mục tiêu, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu quản lý chất rắn y tế tại Thanh
Hóa. Phân tích, đánh giá về khối lƣợng, quy trình phân loại, thu gom, lƣu giữ, xử lý CTR y tế
tại tỉnh. Đƣa ra kết quả nghiên cứu: điều tra đánh giá bổ sung về hiện trạng quản lý chất thải
rắn y tế tại tỉnh Thanh Hóa; đánh giá hiện trạng hệ thống kỹ thuật quản lý chất thải rắn y tế
(CTRYT) tại tỉnh. Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm do CTR y tế của tỉnh
trong thời gian tới.

Keywords: Khoa học môi trƣờng; Quản lý chất thải; Chất thải rắn; Thanh Hóa; Y tế

Content
Hiện nay, sự phát triển hơn nữa các loại hình công nghiệp, dịch vụ, gia tăng nhu cầu tiêu dùng,
hƣởng thụ vật chất… đã làm gia tăng lƣợng lớn chất thải nguy hại đƣợc thải ra môi trƣờng, đặc biệt là chất
thải rắn y tế. Chất thải rắn y tế nguy hại tiềm ẩn cao hơn khả năng lây nhiễm, gây tổn thƣơng hơn bất kỳ
loại chất thải khác, có thể truyền các bệnh nguy hiểm cho những ngƣời phơi nhiễm (nhƣ HIV, HBV,
HCV).

Khoảng 75-90% chất thải bệnh viện là chất thải thông thƣờng, tƣơng tự nhƣ chất thải sinh hoạt,
không có nguy cơ gì. Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, CTR trong
cơ sở y tế đƣợc phân thành 5 nhóm, trong đó nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4 là CTRYT nguy hại chiếm
khoảng 10-25%:
1. Chất thải lây nhiễm
2. Chất thải hóa học nguy hại
3. Chất thải phóng xạ
4. Bình chứa áp suất
5. Chất thải thông thƣờng

1.2. Tác động của chất thải rắn y tế với môi trƣờng và sức khỏe cộng đồng
1.2.1. Đối với sức khỏe cộng đồng
- Nguy cơ của các vật sắc nhọn (chất thải lây nhiễm): Các vật sắc nhọn không những có nguy cơ
gây thƣơng tích cho những ngƣời phơi nhiễm mà qua đó còn có thể truyền các bệnh nguy hiểm.
- Nguy cơ của các chất thải rắn hóa học và dƣợc phẩm: Các chất thải hóa học có thể gây hại cho sức
khỏe con ngƣời do các tính chất: ăn mòn, gây độc, dễ cháy, gây nổ, gây sốc hoặc ảnh hƣởng đến di truyền.
- Nguy cơ của chất thải phóng xạ: Các chất thải phóng xạ có thể gây hại cho sức khỏe do có khả năng
gây ảnh hƣởng đến chất liệu di truyền. Ngoài ra chất thải phóng xạ còn gây ra một loạt các triệu chứng: đau
đầu, ngủ gà, nôn.
1.2.2. Đối với môi trƣờng
- Việc xả thải bữa bãi chất lâm sàng, ví dụ xả chung chất thải lây nhiễm vào chất thải thông thƣờng,
có thể tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nƣớc do làm tăng BOD.
- Vận hành và bảo dƣỡng kém lò đốt có thể dẫn đến xả ra khí thải chứa nhiều chất ô nhiễm nhƣ các
kim loại nặng (chì, thủy ngân,…), bụi, HCl, SO
2
, CO, NO
x
và cả dioxin/furans.
- Phiếu điều tra sẽ dành để phỏng vấn trƣởng khoa chống nhiễm khuẩn hoặc y tá trƣởng và cán bộ
quản lý lò đốt, phòng hành chính tổng hợp.
- Cách điều tra : phỏng vấn trực tiếp tại các 11 bệnh viện tuyến tỉnh và 1 bệnh viện tuyến huyện, 4
bệnh viện tƣ nhân nằm tại thành phố và gửi phiếu tra về 25 các bệnh viện đa khoa tuyến huyện
2.3.3. Phƣơng pháp quan sát thực tế
Phƣơng pháp quan sát thực tế là một phƣơng pháp thu thập dữ liệu thứ cấp về đối tƣợng nghiên cứu
bằng cách ghi chép trực tiếp lại những nhân tố có liên quan đến đối tƣợng nghiên cứu tại hiện trƣờng, khi
sự việc đang diễn ra. Quan sát cho phép phát hiện vấn đề, kiểm tra và hiệu chỉnh những thông tin đã thu
đƣợc qua phỏng vấn và từ tài liệu thứ cấp.Việc quan sát cho phép đánh giá một cách tổng quan về hiện
trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Thanh Hóa.
2.3.4. Phƣơng pháp phỏng vấn bằng thƣ
Phƣơng pháp phỏng vấn bằng thƣ đƣợc thực hiện theo cách: bảng câu hỏi đƣợc soạn sẵn, gửi kèm
theo phong bì và thông qua công tác thanh, kiểm tra đến các bệnh viện huyện trong tỉnh của Sở y tế Thanh
Hóa để gửi đến 25/26 bệnh viện tuyến huyện ở xa.
2.3.5. Phƣơng pháp phỏng vân qua điện thoại
Phƣơng pháp đƣợc áp dụng trong luận văn với mục đích để kiểm tra lại thông tin đã đƣợc điều tra
trong bảng câu hỏi. Các đối tƣợng gọi điện đến là lãnh đạo, hoặc các cán bộ phụ trách về quản lý chất thải
rắn y tế tại các cơ sở y tế mà chƣa tiếp xúc trong quá trình điều tra bằng bảng hỏi.
2.3.6. Tổng hợp, phân tích số liệu
Số liệu đƣợc tổng hợp và xử lý trên chƣơng trình Excel Microsoft

CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Kết quả điều tra và đánh giá bổ sung
3.1.1. Đặc điểm hệ thống khám chữa bệnh tại Thanh Hoá
Toàn tỉnh Thanh Hóa hiện có 71 đơn vị y tế công lập, bao gồm các bệnh viện đa khoa (BVĐK),
chuyên khoa (CK), các TTYT tuyến tỉnh, tuyến huyện và 21 bệnh viện (BV), phòng khám đa khoa tƣ nhân
với gần 10.000 giƣờng bệnh. Các BV luôn trong tình trạng quá tải bệnh nhân, công suất sử dụng giƣờng
bệnh chiếm đa phần từ 130% đến hơn 200%.
a. Thông tin chung về số giường bệnh tại các bệnh viện tuyến tỉnh và bệnh viện tư nhân
Nhìn chung công suất sử dụng giƣờng bệnh tại các BVĐK lớn hơn tại các BVCK. Với các BV

Có 4/9 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh có tỉ lệ phát thải CTRYT nguy hại dao động từ 0,21 – 0,23
kg/giƣờng/ngày, xấp xỉ tỉ lệ phát thải trung bình theo khảo sát của Bộ Y tế là 0,2 kg/giƣờng/ngày. Các bệnh
viện còn lại có tỉ lệ phát sinh thấp hơn, dao động từ 0,08 – 0,16 kg/giƣờng/ngày.
b.Tại các bệnh viện tuyến huyện, thị, thành phố
Toàn tỉnh Thanh Hóa có 26 BVĐK tuyến huyện, thị, thành phố, với 16 bệnh viện tại thành phố, thị
xã, các huyện miền xuôi và 10 bệnh viện tại các huyện miền núi. Riêng tại huyện Ngọc Lặc không có
BVĐK tuyến huyện do đã nâng cấp BVĐK Ngọc Lặc thành Bệnh viện Đa khoa Khu vực Ngọc Lặc trực
thuộc tỉnh vào năm 2004. Tổng lƣợng phát thải CTRYT nguy hại của các BVĐK tuyến huyện, thị, thành
phố theo số liệu hiện có là 600,5 kg/ngày, tỉ lệ phát sinh CTRYT nguy hại xấp xỉ 0,17 kg/giƣờng/ngày,
thấp nhất tại BVĐK Yên Định, BVĐK Thiệu Hóa – 0,13 kg/giƣờng/ngày, cao nhất tại BVĐK thành phố -
0,3 kg/giƣờng/ngày.
Mức độ phát sinh CTRYT nguy hại trung bình tại các bệnh viện tuyến huyện là 0,167
kg/giƣờng/ngày, thấp hơn mức phát sinh trung bình tại các bệnh viện huyện theo khảo sát của Bộ y tế.
c.Tình hình phát sinh CTR y tế nguy hại tại các cơ sở y tế khác ngoài bệnh viện
Tại các trạm y tế
Trạm y tế xã phƣờng có rất ít bệnh nhân điều trị nội trú, chính vì vậy số giƣờng bệnh không nhiều,
một số trạm y tế không có giƣờng bệnh. Những trạm y tế nằm gần khu vực trung tâm Thành phố phần lớn
làm công tác dự phòng là chính. Chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh từ các trạm y tế chủ yếu do tiêm
phòng và một ít của điều trị. Tổng khối lƣợng CTR y tế nguy hại phát sinh của 636 trạm y tế là 450
kg/ngày, tƣơng ứng khoảng 0.71 kg/trạm/ngày.
Tại các cơ sở y tế hệ dự phòng, trường đào tạo y dược
CTRYT nguy hại tại các cơ sở y tế hệ dự phòng là không nhiều, phát sinh từ việc thực hiện các
chƣơng trình y tế. Nhƣ tại TTYT thành phố Thanh Hóa, CTRYT nguy hại chủ yếu là bơm kim tiêm do
thực hiện chƣơng trình phòng chống HIV/AIDS, lấy máu sàng lọc HIV cho đối tƣợng sử dụng ma túy, gái
mại dâm….
Với các Trung tâm (TT) y tế huyện, TT y tế dự phòng, các TT y tế xã phƣờng, lƣợng CTYT phát
sinh tại cơ sở là nhỏ hơn, và có thể ít chủng loại hơn tại các bệnh viện tuyến tỉnh. CTYT tại TT y tế dự
phòng lƣợng thải tối đa là 5-8kg/ngày.
3.1.3. Đặc thù hiện trạng Quản lý CTR y tế tại tỉnh Thanh Hoá
3.1.3.1. Thực hành phân loại rác tại bệnh viện

có 8/11 BV tuyến tỉnh, 4 bệnh viện tƣ nhân, 7 TTYT thuộc Sở Y tế, 1 TTYT dự phòng Thành phố, 1
BVĐK nhƣng chỉ có 2 lò đốt CTRYT nguy hại tại các BVĐK Tỉnh, BV tƣ nhân Hợp Lực, trong đó BVĐK
tỉnh cần thay thế. Hiện tại hầu hết các BV, cơ sở y tế tƣ và công lập đều ký hợp đồng xử lý CTR nguy hại
với BVĐK tỉnh với chi phí xử lý 10.000 đồng/kg CTRYT nguy hại. Do đặc thù về chuyên môn, bên cạnh
việc ký hợp đồng xử lý CTRYT nguy hại với BVĐK tỉnh, BV Phụ Sản tỉnh cũng đã ký hợp đồng với công
ty TNHH một thành viên Môi trƣờng và công trình đô thị Thanh Hóa để chôn cất rau thai, bệnh phẩm, u
cục tại nghĩa trang Nhân Dân Chợ Nhàng. Thông thƣờng chất thải sẽ đƣợc đốt luôn trong ngày hoặc lƣu
giữ không quá 48 giờ.
Với một số cơ sở y tế chƣa có cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại đạt tiêu chuẩn tại địa phƣơng thì xây
dựng hố chôn lấp hợp vệ sinh. Tro sau khi tiêu hủy bằng lò đốt sẽ đƣợc các cơ sở y tế ký hợp đồng với
công ty Môi trƣờng tại các huyện, thị, thành phố đem đi xử lý.
3.1.4. Đánh giá về quản lý chất thải rắn y tế
Tại các cơ sở y tế đều có 1 bộ phận chuyên trách về quản lý chất thải y tế, bao gồm các cán bộ, công
nhân viên quản lý, thu gom, xử lý. Công tác quản lý tùy theo từng BV và các cơ sở y tế đƣợc phân cho các
bộ phận khác nhau. Thông thƣờng các BV tuyến tỉnh, một số BVĐK tuyến huyện thành lập hội đồng chống
nhiễm khuẩn, tổ chống nhiễm khuẩn thuộc Khoa Chống nhiễm khuẩn để xây dựng, phổ biến quy trình phân
loại, thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải Y tế. Một số cơ sở y tế giao cho khoa Truyền nhiễm,
khoa Lây, phòng điều dƣỡng, phòng hộ lý thực hiện các công tác trong quản lý chất thải y tế. Việc xử lý,
tiêu hủy CTRYT nguy hại và vận hành, quản lý lò đốt sẽ do 1 đến 2 nhân viên phụ trách. Có thể thấy về
công tác tổ chức quản lý và nhân lực cho quản lý chất thải rắn y tế các cơ sở y tế tại tỉnh Thanh Hóa đã
thực hiện tốt và đầy đủ. Qua phỏng vấn, điều tra cho thấy một điều khả quan là các bộ y tế có nhận thức tốt
về phân loại các vật sắc nhọn, hiểu rõ đƣợc mức độ nguy hại của việc phân loại không tốt tại nguồn và
những rủi ro từ kim tiêm và các vật sắc nhọn.
Để nâng cao nhận thức cho cán bộ, nhân viên y tế cũng nhƣ đội ngũ phụ trách về quản lý CTRYT, Sở
Y tế Thanh Hóa cũng đã cử cán bộ tham gia các lớp tập huấn của Bộ Y tế cũng nhƣ mở các lớp nâng cao
năng lực về quản lý chất thải rắn y tế cho các cán bộ, nhân viên y tế của các cở sở y tế trong tỉnh Thanh
Hóa, cũng nhƣ gửi các công văn và hƣớng dẫn về quy chế quản lý chất thải y tế theo quyết định số
43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y tế đến các cơ sở.
3.2. Đánh giá hiện trạng hệ thống kỹ thuật quản lý CTR y tế tại tỉnh Thanh Hoá
3.2.1. Hệ thống thu gom, vận chuyển, lƣu giữ CTR y tế bên trong các cơ sở y tế

Hiện tại, Thanh Hóa có 3/11 bệnh viện tuyến tỉnh có lò đốt, phân bổ tại 3 khu vực khác nhau trong
tỉnh: BVĐK tỉnh tại Thành phố Thanh Hóa, BV Lao và Bệnh phổi tại xã Quảng Thịnh – huyện Quảng
Xƣơng, BVĐK khu vực Ngọc Lặc tại huyện Ngọc Lặc. Trong đó, lò đốt Hoval MZ4 của BVĐK tỉnh đã cũ
kỹ, công nghệ lạc hậu, vận hành kém hiệu quả.
Từ giữa năm 2008, Sở Y tế đã đầu từ xây dựng cho 100% BV tuyến huyện có lò đốt chất thải rắn.
Tuy nhiên, trên thực tế vấn đề xử lý chất thải vẫn đang là bài toán khó vì chi phí vận hành các hệ thống xử
lý chất thải khá cao so với nguồn thu của BV. Nhiều BV dù đã đƣợc đầu tƣ các lò đốt rác thải nhƣng vẫn
không vận hành hoặc chỉ vận hành đối phó khi có đoàn kiểm tra đến do không có kinh phí để các lò đốt
hoạt động.
Các trạm y tế xã, phƣờng chỉ xử lý đốt thủ công hoặc chôn lấp thiếu an toàn.
3.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm do CTR y tế
3.3.1. Giải pháp về công nghệ
Đối với BV tuyến tỉnh, tư nhân: xây dựng một khu vực xử lý tập trung, và sử dụng công nghệ lò hấp
để xử lý CTRYTNH. Và cần phải có xe đông lạnh để vận chuyển CTRYT nguy hại bên ngoài cơ sở y tế
Đối với BV tuyến huyện: nên bảo trì, bảo dƣỡng thƣờng xuyên để các đảm bảo các thông số kỹ
thuật của lò đốt. Vật sắc nhọn (đƣợc tách phần nhọn hoặc không) đƣợc ngâm hoá chất khử khuẩn hoặc
đóng rắn bằng xi măng rồi chôn trong các bể chôn rác đƣợc xây bằng xi măng
Ngoài ra cần thay thế và loại bỏ sử dụng thủy ngân ở các loại hình (nhiệt kế, vật liệu làm răng…), do thủy
ngân là một kim loại độc đối với con ngƣời và môi trƣờng. nếu bị đốt cháy hoặc tiêu huỷ không đúng cách,
những nhiệt kế này sẽ làm thuỷ ngân thoát ra thành dòng.
3.3.2. Giải pháp về quản lý
 Phát triển thể chế và nguồn lực con ngƣời cho quản lý chất thải y tế.
 Tăng cƣờng hƣớng dẫn quản lý chất thải y tế cho các cơ sở y tế trên cơ sở phát huy tốt nhất các
thực hành tốt nhất về quản lý chất thải y tế theo hƣớng an toàn.
 Tăng cƣờng tuyên truyền đến các các bộ, nhân viên y tế, bệnh nhân cũng nhƣ những ngƣời có khả
năng tiếp xúc cao với chất thải y tế về tác hại đối với sức khỏe của chất thải.
7

 Cần một Sổ tay hƣớng dẫn kỹ thuật trong quản lý CTRYT – đây sẽ là phƣơng tiện đầu tay để các cơ
sở y tế các tuyến có thể tự triển khai QLCTRYT an toàn và nhân rộng theo điều kiện cơ sở của mình

có lò đốt, là bệnh viện Đa khoa Tỉnh, bệnh viện Đa khoa Khu vực Ngọc Lặc, bệnh viện Lao và bệnh Phổi.
7/11 bệnh viện tuyến tỉnh hợp đồng thuê đốt CTRYT nguy hại với bệnh viện Đa khoa tỉnh. Tuy nhiên lò
đốt của bệnh viện Đa khoa tỉnh đƣợc đã quá tải và xuống cấp, cần phải thay thế.
Các trạm y tế xã, phƣờng chỉ xử lý CTRYT nguy hại bằng các lò đốt thủ công hoặc chôn lấp thiếu an
toàn.
Nhận thức của cán bộ, nhân viên y tế về tác hại của CTRYT nguy hại
Trong quá trình đi phỏng vấn, điều tra cho thấy nhận thức của các cán bộ, nhân viên y tế về tác hại
của chất thải rắn y tế, cũng nhƣ những nội dung trong Quy chế Quản lý Chất thải Y tế (Ban hành kèm theo
Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế) là tƣơng đối đầy đủ.

Kiến nghị
Nhìn chung, các cở sở y tế tại tỉnh Thanh Hóa đều quan tâm đến vấn đề xử lý CTR y tế nguy hại, và
có biện pháp xử lý chất thải, bảo vệ môi trƣờng theo khả năng hiện có. Tuy nhiên, việc xử lý cũng nhƣ quá
trình thu gom, vận chuyển vẫn còn một số bất cập do chƣa đƣợc đầu tƣ đúng mức về hệ thống xử lý chất
thải, hạn hẹp về nguồn kinh phí. Bên cạnh đó là sự quan tâm chƣa đúng mức của cơ quan chủ quản, lãnh
đạo bệnh viện, cơ quan quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng đối với công tác bảo vệ môi trƣờng tại các cơ sở y
tế. Để giải quyết tình trạng này, luận văn đƣa ra một số kiến nghị nhƣ sau:
 Nghiêm túc thực hiện các quy định về quản lý chất thải y tế; tăng cƣờng công tác chỉ đạo, nắm sát
tình hình cơ sở; tăng cƣờng công tác thanh, kiểm tra của cơ quan chủ quản cũng nhƣ cơ quan quản lý nhà
nƣớc về môi trƣờng;
8

 Cung cấp bổ sung nguồn lực tài chính cho các cơ sở y tế đầu tƣ, bảo dƣỡng trang thiết bị cũng nhƣ
dụng cụ thu gom, vận chuyển chất thải theo đúng quy định, kinh phí mua nhiên liệu cho lò đốt.
 Tạo kinh phí và khuyến khích các đầu tƣ từ các nguồn cho xử lý chất thải rắn y tế.
Tăng trách nhiệm cá nhân về QLCTYT
 Tăng cƣờng truyền thông cho các cán bộ, nhân viên chuyên trách trong QLCTRYT, cũng nhƣ cán
bộ, nhân viên bệnh viện và ngƣời nhà bệnh nhân, và ngƣời dân ở khu vực xung quanh bệnh viện.
15. EU cấm sử dụng thủy ngân trong các dụng cụ đo nhiệt

16. Health-care waste management (10/2011).

17. Ngộ độc thủy ngân ở trẻ em.

18. Nhiễm độc thủy ngân do trám răng (12/07/2005 11:32).

19. Quy hoạch phát triển Hệ thống y tế tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020 theo Quyết định số 202/QĐ-UBND
ngày 10/01/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa.
/>=0&p_p_state=normal&p_p_mode=view&p_p_col_id=column2&p_p_col_pos=0&p_p_col_count=1
9

&_news_view_INSTANCE_zWg9_struts_action=/news_view/view_news&_news_view_INSTANCE_z
Wg9_newsId=3931&_news_view_INSTANCE_zWg9_itemIndex=18&
20. Trám răng bằng vật liệu gì? Ở trẻ em trám răng phòng ngừa nhƣ thế nào.

21. Xử lý chất thải ở bệnh viện:chỉ là giải pháp tạm thời do thiếu kinh phí (02/10/2011 – 19:22)

22. Wastes from healthcare activities (11/2011)

Tiếng Anh
23. WHO (1999), Safe management of wastes from health-care activities, Geneva.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status