ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUỒNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TựNHIÊN
Báo cáo đề tài:
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ XÂY DỤNG
ĐỊNH HƯỚNG CHUYỂN Đ ổ i c ơ c â u s ử d ụ n g ĐÂT p h ụ c v ụ
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
TẠI HAI XÃ ĐỔNG QUANG VÀ PHÙ KHÊ, HUYỆN TỪ SƠN,
Mã sỏ: QT - 06 - 27
Chủ trì đề tài: TS. Trần Văn Tuấn
Những người tham gia: TS. Trần Quốc Bình
Th.s. Phạm Thị Phin
CN. Lê Thị Hồng
CN. Nguyễn Xuân Sơn
0A I h c c r~'r- HÀ NỘI
'TPỰNG '■
*r -
V : 'H Ự '/|Ệ N !
TỈNH BẲC NINH
Hà Nội - 2007
TÓM TẮT BÁO CÁO
1. TÊN ĐỀ TÀI: Nghiên cứu hiện trạng và xây dựng định hướng chuyển đổi cơ
Cấu sử dụng đất phục vụ công nghiệp hoá, hỉện đạỉ hoá nông nghỉệp nông thôn
tại hai xã Đồng Quang và Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
MÃ SỐ: QT - 06 - 27
2. CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: TS. Trần Vãn Tuấn
3. CÁN BỘ PHỐI HỢP: TS. Trần Quốc Bình
Th.s. Phạm Thị Phin
CN. Lê Thị Hồng
CN. Nguyễn Xuân Sơn
4. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN c ú u
4.1. Mục tiêu: Trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất và đặc điểm công
- Đã công bố 01 bài báo trong Tuyển tập các công trình khoa học Hội nghị khoa học
Địa lý - Địa chính năm 2006: Xây dựng định hướng quy hoạch sử dụng đất phục vụ
phát triển tiểu thủ công nghiệp làng nghề ở xã Đồng Quang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bấc
Ninh, tr 372 - 377.
6. TÌNH HÌNH KINH PHÍ CỦA ĐỀ TÀI:
Kinh phí: 15.000.000 đ, thực hiện trong 1 năm.
Đã quyết toán xong với tài vụ
XÁC NHẬN CỦA BCN KHOA
CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI
PGS.TS Nhữ Thị Xuân
TS. Trần Văn Tuấn
XÁC NHẬN CỦA TRƯỜNG
S u m m a r ỵ a r e p o r t
(sort report)
1. Project title: Assessment of present conditions and suggestion of orientation
for land use structure’ change to support industrialization and modemization
of agriculture in Dong Quang and Phu Khe communes, Tu Son district, Bac
Ninh province.
2. Code number: QT-06-27
3. Project head: Dr. Tran Van Tuan
4. Research objectỉves and contents
4.1 Obịectives.
Assessment of present conditions and characteristics of industrialization and
modemization of agriculture for suggestion of orientation for land use structure’
rational change to 2020.
4.2Contents\
- Assessment of natural, socio-economic conditions, characteristics of
industrialization and modemization in Dong Quang and Phu Khe communes.
- Analysis of land use and land use structure in these communes in 2006.
- Prediction of land use needs for socio-economic development to meet the
7
2.1. Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu
7
2.1.1. Vị trí địa lý 7
2.1.2. Địa hình 7
2.1.3 Khí hậu 7
2.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 8
2.1.5. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên 9
2.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của hai xã Đồng Quang và Phù Khê. 9
2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế 9
2.2.2 Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ 10
2.2.3 Sản xuất nông nghiệp
11
2.2.4 Dân số và lao động 13
2.2.5 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
14
2.3 Đặc điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn khu vực
nghiên cứu 17
Chương3. Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất của haỉ xã Đồng Quang và
Phù Khê 19
3.1. Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất xã Đồng Quang năm 2006
19
3.1.1. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
21
3.1.2 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp 21
3.1.3 Hiện trạng đất chưa sử dụng
23
3.1.4 Biến động sử dụng đất giai đoạn 2000 - 2006 23
3.2. Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất xã Phù Khê năm 2006
phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn hai xã đến 2020 37
4.3.1 Dự báo nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích sử dụng chủ yếu trên địa
bàn xã Đồng Quang 37
4.3.2 Dự báo nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích sử dụng chủ yếu trên địa
bàn xã Phù Khê 42
4.4 Định hướng bố trí sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất hai xã
Đồng Quang và Phù Khê đến 2020 47
4.4.1 Định hướng bố trí sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất của xã
Đồng Quang 43
4.4.2 Định hướng bố trí sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất xã
Phù Khê 7 51
4.5 Một số giải pháp thực hiện 55
Kết luận 56
Tàì liệu tham khảo 57
Phụ lục 59
MỞ ĐẦU
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐ H) nồng nghiệp, nông thôn là một
chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo công
ăn việc làm, tăng thu nhập cho dân cư nông thồn, tạo tiền đề để giải quyết các vấn
đề xã hội, đưa nồng thôn nước ta tiến lên văn minh, hiện đại. CNH, HĐH nồng
nghiệp nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của CNH,
HĐH đất nước.
Để thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn phải tiến hành chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thồn, trong đó chú trọng phát triển công nghiệp, dịch vụ tại khu
vực nồng thôn; hiện đại hoá nồng nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã
hội. Cùng với quá trình này cần phải có sự chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nhằm đáp
ứng các nhu cầu sử dụng cho các mục đích kinh tế, xã hội trong quá trình CNH,
HĐH.
Xã Đồng Quang và xã Phù Phê là hai xã của huyện Từ Sơn có làng nghề mộc
truyền thống từ lâu đời và hiện nay đang phát triển mạnh sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: dùng để phân tích, đánh giá hiện trạng sử
dụng đất và tổng hợp nhu cầu sử dụng đất trên địa bàn hai xã.
- Phương pháp bản đồ và GIS: ứng dụng để xây dựng các bản đồ hiện trạng
sử dụng đất và định hướng sử dụng đất.
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến chuyên gia của địa phương về
nhu cầu sử dụng đất và định hướng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn hai
Cấu trúc đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của đề tài gồm 4 chương:
Chương ỉ: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nồng nghiệp, nông thôn và yêu cầu
chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất.
Chương 2: Khái quát các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc điểm
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn khu vực nghiên cứu.
Chương 3: Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất của hai xã Đồng Quang và Phù
Khê.
Chương 4: Đề xuất định hướng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất của hai xã
Đồng Quang và Phù Khê đến năm 2020.
2
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ
YÊU CẦU CHUYỂN Đ ổi c ơ CÂU sử DỤNG ĐẤT
1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn là
nhiệm vụ rất quan trọng nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp vào nãm 2020. Năm 1996, Đại hội VIII của Đảng
quyết định chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Quan điểm và nội dung của CNH, HĐH nông nghiệp nồng thôn đã được thể hiện
trong Văn kiện của Đại hội [1]:
- Phát triển toàn diện nồng, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng tập trung
chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hoá nhiều
về số lượng, tốt về chất lượng, bảo đảm an toàn về lương thực trong xã hội, đáp ứng
được yêu cầu của cồng nghiệp chế biến và của thị trường trong, ngoài nước.
dân [4]:
- Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nồng thôn theo hướng tạo
ra giá trị gia tãng ngày càng cao, gắn với cồng nghiệp chế biến và thị trường; thực
hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và
công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất chất lượng và sức cạnh tranh,
phù hợp đặc điểm từng vùng, từng địa phương. Tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm
và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao
động nông nghiệp. Sớm khắc phục tình trạng manh mún về đất canh tác của các hộ
nông dân; phát triển các khu công nghiệp công nghệ cao, vùng trồng trọt và chăn
nuôi tập trung, doanh nghiệp cồng nghiệp và dịch vụ gắn với hình thành các ngành
nghề, làng nghề, hợp tác xã, trang trại, tạo ra những sản phẩm có thị trường và hiệu
quả kinh tế cao.
- Phát triển đổng bộ và có hiệu quả nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và bảo vệ
nguồn lợi thuỷ sản. Coi trọng khâu sản xuất và cung cấp giống tốt, bảo vệ mồi
trường, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu.
- Tăng cường các hoạt động khuyến nông, khuyến công, khuyến lâm, khuyến
ngư, công tác thú y, bảo vệ thực vật và các dịch vụ kỹ thuật khác ở nông thôn.
Chuyển giao nhanh và ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học
vào sản xuất nông nghiệp; chú trọng các khâu giống, kỹ thuật canh tác, nuôi trồng,
công nghệ sau thu hoạch và công nghệ chế biến.
- Khẩn trương xây dựng các quy hoạch phát triển nông thôn. Thực hiện xây
dựng chương trình nông thôn mới. Xây dụng các làng, xã, ấp , bản có cuộc sống no
4
đủ, văn minh, môi trường lành manh. Hình thành các khu dân cư đô thị hoá với kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ như: thuỷ lợi, giao thông, điện, nước sạch, cụm
công nghiệp, trường học, trạm y tế, bưu điện, chợ. Phát huy dân chủ ở nông thôn đi
đôi với xây dựng nếp sống văn hoá, nâng cao trình độ dân trí, bài trừ tệ nạn xã hội,
hủ tục, mê tín, dị đoan; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội.
- Chú trọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân, trước hết ở các vùng
sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, giao thông,
NÔNG THÔN KHU v ự c NGHIÊN cứ u
2.1 Đỉều kỉện tự nhỉên của khu vực nghỉên cứu
2.1.1. Vị trí địa lý
Khu vực nghiên cứu gồm hai xã Đồng Quang và Phù Khê tiếp giáp nhau,
nằm ở phía tây bắc huyện Từ Sơn, cách trung tâm huyện 2,5 km theo đường quốc lộ
1 A và tỉnh lộ 271. Khoảng cách từ khu vực nghiên cứu đến thị xã Bắc Ninh khoảng
13 km và đến Thủ đô Hà Nội khoảng 18 km theo đường quốc lộ 1 A. Khu vực
nghiên cứu có ranh giới tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp xã Hương Mạc.
- Phía Nam giáp xã Đình Bảng.
- Phía Đông giáp xã Tam Sơn và Đồng Nguyên.
- Phía Tây giáp xã Châu Khê và huỵện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Với vị trí địa lý gần trung tâm huyện và quốc lộ 1A thông qua tỉnh lộ 271,
gần Trung tâm của tỉnh Bắc Ninh và thành phố Hà Nội, cả hai xã Đồng Quang và
Phù Khê có điều kiện thuận lợi trong giao lun kinh tế, khai thác lợi thế và nguồn
nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là nghề truyền thống sản xuất đồ gỗ
mỹ nghệ và sản xuất nông nghiệp. Xã Đồng Quang có vị trí thuận lợi hơn so với xã
Phù Khê do xã nằm ở gần đường quốc lộ 1A và thị trấn Từ Sơn hơn.
2.1.2. Địa hình
Khu vực nghiên cứu có địa hình tương đối bằng phẳng, phần lớn diện tích đất
của cả hai xã đều có địa hình vàn, vàn thấp. Địa hình có xu thế nghiêng dần từ Tây
Bắc xuống Đông Nam. Độ cao trung bình khoảng 2,5 - 5 m so với mặt nước biển.
Nhìn chung địa hình của hai xã Đồng Quang và Phù Khê thuận lợi cho việc
xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo mặt bằng xây dựng các cơ sở sản xuất kinh doanh, phát
triển các khu dân cư, các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thuận lợi cho
phát triển nồng nghiệp, nhất là lúa, rau màu.
2.1.3 Khí hậu
Khu vực nghiên cứu thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng nên mang
đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình nâm 23,3°c, nhiệt độ
7
cơ giới thịt nhẹ, do biến đổi của quá trình canh tác lúa nước nên đã có hiện tượng
bạc màu, hàm lượng các chất dinh dưỡng nghèo.
- Tài nguyên nước:
+ Nguồn nước mặt: Sông Ngũ Huyện Khê chảy qua địa bàn hai xã với chiều
dài gần 2,8 km. Đây là nguồn nước mặt chủ yếu của khu vực nghiên cứu. Sồng Ngũ
Huyện Khê nối liền với sông Cầu rất thuận lợi cho việc tưới tiêu. Mùa khô các trạm
bơm lấy nước tưới cho đồng ruộng, mùa mưa khi úng lụt xuất hiện, nước được rút từ
trong đồng ruộng ra sông Ngũ Huyện Khê và tiêu ra sông Cầu. Ngoài ra trên địa bàn
hai xã còn có nhiều ao hồ. Nguồn nước mặt khá dồi dào đã tạo điều kiện cung cấp
nước cho sản xuất.
+ Nguồn nước ngầm tuy chưa được khảo sát tính toán cụ thể, nhưng qua thực
tế sử dụng của người dân cho thấy, mực nước ngầm có độ sâu trung bình từ 2 - 5 m,
có thể khai thác phục vụ sinh hoạt và tưới cho cây trồng tại các vườn gia đình trong
mùa khô.
2.1.5. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên
• Lợi thế:
- Khu vực nghiên cứu có vị trí địa lý khá thuận lợi: cách khồng xa trung tâm
huyện, thị xã Bắc Ninh và khu tam giác kinh tế trọng điểm phía bắc: Hà Nội - Hải
Phòng - Quảng Ninh sẽ là lợi thế cho cả hai xã trong quá trình phát triển. Vị trí địa
lý kết hợp với hệ thống đường giao thồng thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho Đồng Quang
và Phù Khê giao lưu kinh tế và nắm bắt được thị trường, kinh nghiệm, tiếp cận công
nghệ phục vụ cho CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
- Với điều kiện khí hậu, đất đai, nguồn nước thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho
Đồng Quang và Phù Khê có thể phát triển nông nghiệp đa dạng, chuyển đổi cơ cấu
cây trồng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
• Hạn chế:
- Lượng mưa phân bố không đều trong năm, làm úng ngập, hạn hán cục bộ
vẫn còn xảy ra ở một số vùng gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp.
- Đất đai tuy khá phì nhiêu nhưng do quá trình canh tác ở một vài khu vực
chưa khoa học dẫn đến có một số diện tích đất bị bạc màu. Phần lớn diện tích đất
14,6 %, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ chiếm 85,4 %, đến năm 2005,
tỷ lệ công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ đã tăng đáng kể và chiếm 91,8 %.
Cũng trong giai đoạn này, cơ cấu kinh tế của Phù Khê cũng có sự chuyển dịch rõ
rệt, tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ đã tăng từ 63,8 % năm 2000 lên 71,8%
nầm 2005. Tuy nhiên tỷ trọng ngành nông nghiệp của Phù Khê còn lớn, năm 2005
chiếm 28,3%.
2.2.2. Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Xã Đồng Quang và xã Phù Khê có nghề mộc truyền thống từ lâu đời. Hiện
nay, nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ là nghề tiểu thủ công nghiệp chính của người dân
trong cả hai xã. Các sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ như bàn, ghế, tủ, sập, được tiêu thụ ở
trong nước và cho xuất khẩu.
Ở xã Đổng Quang, ngoài sản xuất còn phát triển kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ
và có sự thu hút đầu tư của một số ngành công nghiệp khác như kim loại, nhựa, điện
10
tử. Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ của Đổng Quang
tăng mạnh mẽ, năm 2000 là 89.493 triệu đồng, năm 2005 lên đến 150.207 triệu
đồng. Số cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng đáng kể, năm 2000
có 1.036 cơ sở, nãm 2004 đã có 1.438 cơ sở. Số lao động sản xuất cồng nghiệp - tiểu
thủ công nghiệp năm 2004 là 7.349 người. Số cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ
cá thể tăng mạnh, năm 2000 là 91 cơ sở, năm 2004 lên đến 653 cơ sở. Số lao động
cá thể kinh doanh thương mại, dịch vụ cũng tăng rất mạnh, năm 2000 là 103 người,
năm 2004 đã lên đến 944 người [15]. Nhịp độ tăng trưởng bình quân công nghiệp -
tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong giai đoạn 2000 - 2005 là 7,34 %/nãm.
Tại xã Phù Khê, nghề chính của người dân trong xã cũng là sản xuất đồ gỗ
mỹ nghệ nhưng qui mô nhỏ hơn và manh mún hom so với Đồng Quang. Tổng giá trị
sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đã tăng từ 34,1 tỷ đồng năm 2000 lên
81,7 tỷ đồng năm 2005. Số cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ cồng nghiệp cá thể
năm 2004 là 1161 cơ sở, số lao động tham gia ngành này là 4273 người. Dịch vụ
còn ở quy mô nhỏ, chủ yếu các hộ buôn bán phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân
dân trong xã. Số cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ cá thể là 120 cơ sở, thu hút
năm 2004 chỉ còn 3369 con. Số lợn xuất chuồng bình quân hàng năm trong 5 năm
qua đạt 1,5 con/hộ.
Gia cầm: Đầu năm 2004 do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm đã gây thiệt hại
lớn cho các hộ chăn nuôi, tổng số gà phải huỷ là 7.500 con. Hiện nay chỉ còn một số
hộ nuôi lẻ tẻ trong qui mô gia đình.
Nuôi trồng thuỷ sản: Một số diện tích ao, hổ trong xã cho đấu thầu, ao trong
khuôn viên của các hộ gia đình, cá nhân đã được người dân sử dụng để thả cá, năm
2004 sản lượng đạt 18 tấn.
Xã Phù Khê: hiện có 233,32 ha đất nông nghiệp, chiếm 67,1 % tổng diện
tích tự nhiên. Trong ngành trồng trọt, cây lúa là cây chủ lực với diện tích 213, 56 ha,
chủ yếu là lúa 2 vụ. Trong những nãm gần đây do khắc phục được tình trạng úng
ngập, đưa các giống mới có năng suất cao vào sản xuất nên mặc dù diện tích gieo
trổng có giảm nhưng sản lượng vẫn khá ổn định:
- Năm 2002 diện tích lúa cả năm của Phù Khê là 434 ha, sản lượng lúa đạt
2203 tấn.
- Năm 2003 diện tích lúa cả nãm 429 ha, sản lượng đạt 2220 tấn.
- Năm 2004 diện tích lúa cả năm 429 ha, sản lượng đạt 2279 tấn.
Ngoài lúa còn một diện tích nhỏ cây màu hàng năm trồng vào vụ đông như
khoai lang, khoai tây.
12
Nhìn chung cơ cấu cây trồng của Phù Khê còn đơn điệu, chưa chú ý đến mở
rông diện tích cây vụ đông, rau màu, do vậy nồng nghiệp chưa khai thác hết tiềm
năng đất đai.
Trong chăn nuôi, năm 2004 toàn xã có 15 con trâu, 64 con bò, đàn lợn có
1826 con. Trong đó đàn lợn lái vẫn được duy trì, toàn xã có khoảng 100 -130 con
hàng năm cung cấp gần 2000 con lợn giống phục vụ phát triển chăn nuôi.
Đàn gà: Năm 2004 toàn xã có khoảng 2000 con tập trung trong 5 -7 hộ gia
đình, nuôi theo hướng công nghiệp lấy thịt và trứng. Sau đợt dịch cúm gia cầm năm
2004, hiện nay trong xã chỉ còn một số hộ nuôi lẻ tẻ.
Tính đến đầu năm 2005 cả xã có 17,66 ha đất nuôi trồng thủy sản, sản lượng
Thôn Phù Khê Đông: tổng số nhân khẩu là 2393, số hộ là 577 hộ.
Thôn Tiến Bào: tổng số nhân khẩu là 1747, số hộ là 421.
Thôn Nghĩa Lập: tổng số nhân khẩu là 1768, số hộ là 426.
Mật độ dân số của xã Phù Khê tương đối cao: 2263 người/km2. Trong một số
năm gần đây tỷ lệ tăng dân số tự nhiên không ổn định: Năm 2002 tỷ lệ tăng dân số
là 1,78%, năm 2003 - 2,28%, năm 2004 - 1,76%, năm 2005 - 1,65%. Nguyên nhân
chủ yếu là do người dân chưa hiểu rõ Pháp lệnh dân số mới ban hành nên tỷ lệ sinh
con thứ ba tăng trong năm 2003, 2004. Trong những năm tới xã cần tiếp tục tăng
cường công tác truyền thồng dân số, kế hoạch hoá gia đình để đến năm 2010 tỷ lệ
tăng dân số là 1,25% theo kế hoạch phát triển của huyện và địa phương.
+ Lao động, việc làm và thu nhập
Hiện nay trong phạm vi toàn xã có khoảng 75% số hộ làm nghề mộc. Nghề
mộc sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ thu hút một lực lượng lớn lao động, tận dụng cả ỉao
động ngoài độ tuổi có khả năng làm việc. Bên cạnh đó đa phần số hộ trong xã đều
có đất nông nghiệp để canh tác.
Thu nhập bình quân trên đầu người năm 2005 khoảng 7,5 triệu đồng/nãm.
Đời sống người dân tương đối ổn định, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng
cao. Tuy nhiên trong xã vẫn còn khoảng 100 - 130 hộ thuộc diện nghèo.
2.2.5 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
- Giao thông:
Đường tỉnh lộ 271 đi qua địa bàn hai xã Đồng Quang và Phù Khê dài 4,8 km,
là đường giao thông huyết mạch để địa phương tiếp cận với thị trường bên ngoài,
góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của khu vực. Đoạn tỉnh lộ 271
từ quốc lộ 1A đến đầu làng Đồng Kỵ, xã Đồng Quang đã được mở rộng từ 9 m
thành 33 m. Tuy nhiên đoạn còn lại qua làng Đồng Kỵ và xã Phù Khê đang bị
xuống cấp, bề rộng còn hẹp nên cần được mở rộng và nâng cấp.
14
Hệ thống đường liên thôn của hai xã được đầu tư nâng cấp. Ở xã Đồng
Quang, tuyến đường Đồng Kỵ đi Tam Sơn đã được dải cấp phối, xã đã tiến hành bê
tông hoá đường giao thông trong các thồn Đồng Kỵ, Trang Liệt, Bính Hạ.
khu vực phía Bắc xã Phù Khê và các xã lân cận.
- Điện:
Trong thời gian qua, tại hai xã đã xây dựng mới một số trạm biến áp đảm
bảo nguồn điện phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất.
- Các công trình văn hoá, y tế, giáo dục:
+ Xã Đồng Quang: Quy mồ giáo dục phát triển mạnh và toàn diện ở cả 3 bậc
học, giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở. Theo số liệu
thống kê của Phòng Giáo dục - đào tạo Từ Sơn năm 2005, xã Đổng Quang có 5
trường với 127 lớp và 4.165 học sinh [14]. Năm học 2004 - 2005 bậc học mầm non
có 44 lớp với 1.070 cháu, tăng 8 lớp, 235 cháu so với năm học 2000 - 2001; bậc tiểu
học có 2 trường gồm 52 lớp với 1.710 học sinh, tãng 4 lớp, 125 học sinh; bậc trung
học cơ sở gồm 31 lớp với 1.385 học sinh, tăng 3 lớp, 86 học sinh, so với năm học
2000-2001.
Văn hoá thông tin: Xã có nhà bưu điện và một trạm truyền thanh. Số máy
điện thoại cố định năm 2000 là 936 máy đến 2004 là 2759 máy [15]. Nhà văn hoá
của thôn Trang Liệt đã được xây dựng mới, còn các thôn Đồng Kỵ và Bính Hạ chưa
có nhà văn hoá, hiện tại các thôn này sử dụng các nhà kho cũ làm nơi sinh hoạt.
Y tế: Có trạm y tế xã, hàng năm thực hiện tốt các chương trình quốc gia về y
tế ở cơ sở như tiêm chủng mở rộng, phòng chống bệnh truyền nhiễm, không để dịch
bệnh xảy ra trên địa bàn. Trong 5 năm qua (2000 - 2005) đã tổ chức khám bệnh cho
63.871 ca, điều trị tại trạm 22.083 ca, trẻ em dưới 6 tuổi được tiêm đủ vắc xin phòng
bệnh. Ngoài ra còn phối hợp với đài phát thanh tuyên truyền chăm sóc sức khoẻ cho
nhân dân.
Thể dục thể thao: Phong trào thể dục thể thao được quan tâm phát triển. Các
loại hình câu lạc bộ thể dục thể thao hoạt động thường xuyên, có hiệu quả, đạt kết
quả cao trong các kỳ thi đấu do huyện và tỉnh tổ chức. Tuy vậy, để phong trào thể
dục thể thao phát triển mạnh hơn, chăm sóc sức khoẻ cho các tầng lớp thanh thiếu
niên được tốt hơn cần mở rộng và mở mới thêm sân tập thể dục, thể thao tại các
thôn.
+ Xã Phù Khê có 3 trường học: Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở với tổng
nông nghiệp, nông thôn của hai xã Đồng Quang và Phù Khê:
- Quá trình phát triển công nghiệp nông thôn ở hai xã gắn với việc phát triển
tiểu thủ công nghiệp làng nghề.
17
ĐAI HOC QUÒC G i* ► 4
TRUNG TÁM THỐNG Tin Thư Vitn
Phát triển tiểu thủ công nghiệp làng nghề và cụ thể là sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ
là yếu tố chính của phát triển công nghiệp nông thôn trên địa bàn hai xã. Theo số
liệu điều tra của đề tài năm 2005, trong tổng số 3343 hộ của xã Đồng Quang có tới
2667 hộ tham gia sản xuất đồ gố mỹ nghệ, chiếm 80% số hộ. Nghề này thu hút hầu
hết lực lượng lao động tại địa phương (khoảng 8000 lao động) và khoảng 4500 lao
động từ nơi khác. Quy mô sản xuất của các hộ gia đình trong xã Đồng Quang có sự
khác nhau: phần lớn là các hộ sản xuất nhỏ có doanh thu từ 20 - 30 triệu đồng/
tháng với thu nhập từ 2 - 4 triệu đồng/ tháng, chiếm khoảng 88%, số còn lại là các
hộ sản xuất lớn (thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc hợp tác xã) với doanh
số có thể đạt tới 100 - 120 triệu đồng/ tháng.
Sự phát triển khá mạnh của sản xuất và kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ đã góp
phẩn chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành cồng nghiệp -
tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ của xã, giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp.
Tại xã Phù Khê, trong tổng số 1903 hộ của xã có khoảng 1400 hộ tham gia
sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ. Quy mồ sản xuất của các hộ trên địa bàn xã đều thuộc sản
xuất nhỏ và chủ yếu trong khuôn viên hộ gia đình. Sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ tuy kém
hơn so với Đổng Quang nhưng cũng là yếu tố quyết định cho việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn trên địa bàn xã.
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
lớn của hai xã còn chậm, ruộng đất manh mún. Năng suất cây trồng (cây lúa) tuy đã
có cao hơn một số năm trước đây nhưng so với các xã khác trong huyện mức tăng
còn thấp.
- Cơ sở hạ tầng nông thôn trên địa bàn hai xã từng bước đã được đầu tư xây
dựng, tuy nhiên vẫn còn nhiều tuyến đường giao thông và thuỷ lợi cần tiếp tục được