Đ Ạ I H Ọ C Q U Ố C G IA H À N Ộ I
■ ■ ■
K H O A L U Ậ T
■
T S . L Ê V Ă N B ÍN H
Đề tài NCKH cơ bản trong KHXN và NV cấp ĐHQGHN
(MãsốQL.05.01)
NHỮNG VẤN ĐỀ Cơ BẢN CỦA CÔNG TÁC HÀNH CHÍNH TổNG
NHẰM PHỤC VỤ ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN cứu KHOA HỌC
TẠI MỘT ĐƠN VỊ ĐÀO TẠO LUẬT CHẤT LƯỢNG CAO
(Từ thực tiễn của Khoa Luật trực th uộc ĐHQGH N )
' OAI HOC QUỐC GIA HA NỌ!
rP(JNG TÂM THÕNG TIN THƯ VIỆN
i ~ f ) T i U £
NĂM-2007
M Ụ C L Ụ C
■ ■
Chương 1 Cơ sở iý luận của công tác hành chính tổng hợp trong một đơn
vị đào tạo chất lượng cao
1.1. Khái niệm, vai trò của công tác hành chính tổng hợp
1.2. Các lĩnh vực quản lý trong công tác hành chính tổng hợp trong
một đơn vị đào tạo luật chất lượng cao
7.2.7. Công tác tổ chức cán bộ
1.2.2. Công tác hành chính-quản trị và cơ sở vật chất
1.2.3. Công tác kếtoán-tài vụ
1.2.4. Công tác văn thư
1.2.5.Công tác thư viện giáo trình
Chương 3 Một sô giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác hành
chính tổng hợp trong một đơn vị đào tạo luật chất lượng cao
3.1. Giải pháp về công tác tổ chức, cán bộ-nhân sự
3.2. Giải pháp về công tác (nề nếp) hành chính
3.3. Giải pháp về mối quan hệ hành chính giữa thủ trưởng
với các đơn vị và giữa các đơn vị với nhau trong Khoa
T r a n g
Phần mở đầu
3.4. Giải pháp về công tác văn thư
3.5. Giải pháp về cơ sở vật chất
3.6. Giải pháp về công tác tài chính
3.7. Giải pháp về công tác thanh tra và thanh tra nhân dân
3.8. Giải pháp về công tác quan hệ quốc tế
Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Nhiệm vụ cơ bản và quan trọng nhất của một cơ sở đào tạo nói chung và
đào tạo luật nói riêng đó là nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học nhằm đáp
ứng nguồn nhân lực (nhân tài), nguồn lao động trí thức cho đất nước. Để thực
hiện nhiệm vụ đó đòi hỏi mỗi cơ sở đào tạo phải không ngừng đổi mới phương
pháp, nâng cao năng lực giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại cơ sở mình, đồng
thời liên kết với các cơ sở đào tạo có uy tín trong và ngoài nước để học hỏi, trao
đổi kinh nghiệm (công nghệ đào tạo) và hoàn thiện chính mình, điều đó là hoàn
toàn phù hợp đối với một cơ sở đào tạo ỉuật chất lượng cao như Khoa Luật trực
sự phối hợp chặt chẽ; tác phong làm việc còn mang nặng tính quan liêu. Điều đó,
đã dẫn đến việc giải quyết các công việc (hoặc sự vụ) còn chậm, còn gây khó
khăn cho sinh viên, học viên và giảng viên, đã ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình
đào tạo và nghiên cứu khoa học cũng như hợp tác quốc tế về các lĩnh vực nói
trên. Những khiếm khuyết đó là hoàn toàn thực tế vì nó đã được minh chứng
bằng 6 yếu kém trong Kết luận của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tình hình thực
hiện nhiệm vụ năm học 2006-2007 của bậc đại học và cao đẳng: Một là, chất
lượng đào tạo giáo dục đại học, cao đẳng nói chung còn thấp, chưa đáp ứng nhu
cầu nguồn nhân lực có chất lượng cao. Đặc biệt chất lượng đào tạo không chính
quy và chất lượng đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ còn thấp, sự chuyển động của các
trường để nâng cao chất lượng đào tạo với đối tượng này chưa rõ ràng, chưa mạnh
mẽ; Hai là, sinh viên ra trường còn yếu về kỹ năng thực hành nghề nghiệp, thiếu
kỹ năng làm việc theo nhóm, dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp khó tuyển
được người, trong khi sinh viên ra trường lại khó xin việc. Chương trình đào tạo
của các trường không có sự tư vấn, đóng góp của các doanh nghiệp; Ba là, chưa
2
thực sự tạo ra phân loại các trường trong hệ thống, chủ yếu việc đánh gía, phân
loại các trường chỉ mới tập trung vào các kết quả đầu vào như kết quả tuyển sinh,
đội ngũ cán bộ giảng dạy, chưa chú ý đánh giá sản phẩm đầu ra như kết quả
nghiên cứu khoa học, dịch vụ xã hội v.v ; Bốn là, phương pháp giảng dạy,
phương pháp đánh giá thi và kiểm tra còn chậm đổi mới, còn đơn điệu, chưa đảm
bảo được độ tin cậy và tính chính xác. Cơ sở vật chất, thiết bị hỗ trợ giảng còn
thiếu, không đồng bộ; Năm là, công tác quản lý giảng viên ở các trường đại học
công lập chưa thực sự dựa trên hiệu quả công việc, chưa khuyến khích người giỏi
cống hiến tốt, sàng lọc những người không đạt chuẩn trình độ đào tạo, không đáp
ứng yêu cầu hiện nay; và Sáu là, việc chấp hành chế độ báo cáo định kỳ và báo
cáo tình hình theo yêu cầu của cơ quan quản lý của các trường rất kém 1.
Thiết nghĩ từ những thông tin phân tích và tư liệu nói trên việc lựa chọn đề
tài “Những vấn đề cơ bản của công tác hành chính-tổng hợp nhằm phục vụ đào
tạo và nghiên cứu khoa học tại một đơn vị đào tạo luật chất lượng cao (Từ thực
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài còn có thể được sử dụng để làm tài
liệu tham khảo cho các đơn vị đào tạo khác là thành viên Đại học Quốc gia Hà
Nội.
5. Bô cục của đề tài.
Căn cứ vào mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài, ngoài các phần Mở
đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung của đề tài được chia làm
3 chương như sau:
Chương 1: C ơ sở ỉỷ luận của công tác hành chính tổng hợp trong một đơn
vị đào tạo luật chất lượng cao. Chương này được nghiên cứu một cách khái quát
lý luận về các mảng công việc của các bộ phận thuộc Phòng hành chính tổng hợp
Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội như: Khái niệm, vai trò của cồng
tác hành chính tổng hợp; Các lĩnh vực quản lý trong công tác hành chính tổng
4
hợp trong một đơn vị đào tạo luật chất lượng cao (bao gồm: Công tác tổ chức cán
bộ; Công tác hành chính-quản trị và cơ sở vật chất; Công tác kế toán-tài vụ; Công
tác văn thư; Công tác thư viện giáo trình; Công tác đối ngoại; Công tác thanh tra,
thi đua-khen thưởng);
Chương 2: Thực trạng công tác hành chính tổng hợp tại một cơ sở đào tạo
luật chất lượng cao (Từ thực tiễn Khoa Luật trực thuộc ĐHQGHN). Trong
chương này, đề tài tập trung đánh giá thực trạng các mảng công việc mà Phòng
hành chính tổng hợp phụ trách (như: thực trạng công tác tổ chức cán bộ; thực
trạng công tác quản lý cơ sở vật chất, thư viện, giáo trình; thực trạng công tác tài
chính-kế toán; thực trạng công tác văn thư; thực trạng công tác quan hệ quốc tế;
thực trạng công tác thanh tra, thi đua-khen thưởng), qua đó đánh giá những mặt
mạnh, những điểm yếu hoặc còn bất cập chưa thực sự hợp lý để kiến nghị các
biện pháp khắc phục nhằm đào tạo nguồn nhân lực cho phù hợp với yêu cầu của
thị trường nguồn nhân lực.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác hành chính
tổng hợp trong một đơn vị đào tạo luật chất lượng cao. Trên cơ sở đánh giá thực
trạng tại chương 2, trong chương 3 tập trung vào việc kiến nghị các giải pháp
1 R. Drago. Khoa học hành chính. Paris. Giáo trình luật, 1992.
6
Theo điều 109 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung
theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội) thì cơ quan
hành chính cao nhất của Việt Nam là Chính phủ.
Ngày nay, trên thế giới đã xuất hiện thêm kiểu ‘Vỡ' quan hành chính độc
lập”. Cùng với sự xuất hiện của cơ quan hành chính này thì một số chức năng
điều tiết của Nhà nước đã được thực hiện hiệu quả hơn và đương nhiên cũng được
người dân dễ “chấp nhậrC hơn vì khi đó các chức năng này được trao cho những
cơ quan không chịu sự chỉ đạo và quản lý của quyền lực chính trị (ví dụ trong
lĩnh vực kinh tế v.v ). Trên cơ sở phân tích đó, chúng ta thấy rằng, khái niệm
hành chính có thể được hiểu theo phương pháp loại trừ là phù hợp và khoa học
hơn cả, vì ngay cả khi cơ quan hành chính có được một quyền nào đó trong bộ
máy nhà nước thì quyền này cũng không bao giờ có thể là quyền tối cao. Thực tế
đã minh chứng rằng, chỉ có Nghị viện là cơ quan quyền lực tối cao theo hiến
định, tòa án và cơ quan hành pháp cũng được trao một phần quyền lực nhà nước
theo luật định, nhưng riêng cơ quan hành chính thì về bản chất khồng bao giờ có
quyền tối cao.
Trở lại với công tác hành-chính tổng hợp ở một đơn vị đào tạo chất lượng
cao như tại Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội hiện nay, chắc chắn
một điều rằng, trong hoạt động, nó không giống như các khái niệm về hành chính
nói trên, mà ngược lại nó có đặc thù riêng, nó bao gồm một tập hợp các chức
năng, nhiệm vụ được quy định cụ thể trong các Bộ phận thuộc Phòng nhằm phục
vụ cho các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học mà đã được quy định cụ
thể trong Quy chế tổ chức và hoạt động của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc
gia Hà Nội (được ban hành kèm theo Quyết định số 192/HCTH-KL ngày
12/8/2003 của Chủ nhiệm Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) (sau
đây gọi là Quy chế-2003) với tên gọi là Phòng hành chính tổng hợp. Theo đó
Phòng bao gồm nhiều bộ phận với các chức năng nhiệm vụ riêng và tạo thành
một Phòng hành chính tổng hợp đặc thù thuộc Khoa (nó không giống như Phòng
thuộc Phòng mà chúng tôi sẽ trình bày vào từng mục cụ thể có liên quan trong
Đề tài.
1.2. Các lĩnh vực quản lý trong công tác hành chính tổng hợp trong một
đơn vị đào tạo luật chất lượng cao.
7.2.7. Công tác tổ chức cán bộ
Theo quy định tại Quy chế tổ chức và hoạt động của Khoa Luật trực thuộc
Đại học Quốc gia Hà Nội, thì công tác tổ chức cán bộ-nhân sự bao gồm: Quản lý
hồ sơ các nhân của cán bộ, viên chức trong Khoa; Thực hiện công tác chính sách,
ỉao động, tiền lương và bảo hiểm; Đảm bảo cho việc tuyển chọn, sử dụng và quản
lý cán bộ, viên chức trong Khoa được triển khai theo đúng quy trình, hướng dẫn
của Đại học Quốc gia Hà nội và các quy định của pháp luật về cán bộ, viên chức;
Quy hoạch cán bộ trên cơ sở nhu cầu về nhân sự của Khoa, lập kế hoạch cán bộ-
nhân sự hàng năm để trình Chủ nhiệm Khoa phê duyệt; Theo dõi công tác bảo vệ
nội bộ, xét khen thưởng và kỷ luật cán bộ, viên chức; Tham mưu, giúp việc cho
Ban chủ nhiệm Khoa trong công tác quy hoạch và kế hoạch, thi đua, khen thưởng
và kỷ luật theo các quy định chung của Nhà nước, của Đại học Quốc gia Hà Nội
và của Khoa; Thực hiện các nhiệm vụ khác có liên quan đến công tác tổ chức cán
bộ-nhân sự theo yêu cầu của Ban chủ nhiệm Khoa
Chúng ta biết rằng, công tác tổ chức cán bộ-nhân sự luôn có tầm quan
trọng đặc biệt trong mọi cơ quan tổ chức, quyết định trực tiếp đến sự thành, bại
của đơn vị. Do đó, công tác cán bộ cần được đặc biệt chú trọng, xây dựng một
đội ngũ cán bộ, viên chức ổn định, chuyên môn hóa, cơ cấu hợp lý, có phẩm chất
và năng lực là yếu tố quyết định cho sự thành bại của mọi tổ chức nói chung và
Khoa Luật trực thuộc Đại học quốc gia Hà Nội nói riêng. Cán bộ lãnh đạo phải
được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức toàn diện, về chính trị, về quản lý nhà nước,
quản lý kinh tế-xã hội, việc bố trí và điều động đảm nhiệm các chức vụ hoặc vị
trí công tác trong Khoa phải phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vì sự phát triển của mỗi
các nhân và vì lợi ích chung toàn Khoa.
9
Để khuyên khích các cán bộ, viên chức làm việc và cống hiến, cần nghiên
nước, của Đại học Quốc gia Hà Nội và của Khoa, hàng năm Hội đổng mua sắm
cơ sở vật chất Khoa Luật đều tham mưu giúp việc cho Ban chủ nhiệm Khoa về
lĩnh vực này và cuối mỗi năm tài chính Khoa đều thành lập Hội đồng kiểm kê tài
sản, mọi việc làm của các ban này đều có lưu biên bản và tuyệt đối tuân theo các
quy định của pháp luật, của Đại học Quốc gia Hà Nội và của Khoa.
Các công việc khác như, bảo dưỡng, bảo trì máy tính, máy in, máy điểu
hòa và thực hiện thủ tục mua sắm trang thiết bị thường có kế hoạch từ đầu năm
theo sự đề nghị của các đơn vị thuộc Khoa và viêc thực hiện các công việc đó đều
nằm trong kế hoạch mà Khoa đã làm dự toán trình và đã được Đại học Quốc gia
Hà Nội phê duyệt. Những trường hợp đột xuất, thì được thực hiện theo lộ trình đó
là Trưởng các đơn vị thuộc Khoa để xuất bằng văn bản về Phòng hành chính tổng
hợp, lãnh đạo phòng trình ra Hội đồng, sau khi Hội đồng phê duyệt thì Phòng
hành chính tổng hợp sẽ tiến hành thực thi kế hoạch đó.
Về công tác giảng đường phục vụ cho đào tạo tại Khoa Luật luôn là vấn đê
thời sự. Vấn đề này không chỉ được lãnh đạo Khoa quan tâm mà còn được toàn
thể cán bộ chủ chốt chú ý, trong đó nhiệm vụ nặng nề nhất là Bộ phận Cơ sở vật
chất thuộc Phòng hành chính tổng hợp là đơn vị thực thi. Do đặc thù của Khoa
Luật hiện nay, cơ sở vật chất chưa thể đảm bảo đủ chỗ ngồi cho không chỉ sinh
viên, học viên mà cả các cán bộ viên chức của Khoa, nên việc liên hệ thuê địa
điểm ngoài Khoa để đủ phòng học cho các đối tượng nói trên đang là một vấn đề
bức xúc và việc thực hiện nó là cố gắng lớn cần được ghi nhận của Bộ phận này.
1 Quy chế'2003 đã dản. -Tr.27.
11
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng công tác hành chính-quản trị và
cơ sở vật chất có chức năng và vai trò quan trọng, tác động trực tiếp đến chất
lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học ở mọi đơn vị đào tạo.
ỉ .2.3. Công tác k ếto án -tài vụ
Có thể nói rằng, không có một đơn vị nào có thể thực hiện nhiệm vụ mà lại
không có kinh phí (không có tài chính) và Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc
gia cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Để thực hiện tốt công tác đào tạo và
thu chi; Thực hiện tài chính công khai theo tháng, học kỳ, năm học trên cơ sở các
quy định chung của pháp luật hiện hành; Tham mưu, giúp việc cho Ban chủ
nhiệm Khoa trong công tác tài chính, cơ sở vật chất và xây dựng cơ bản theo
đúng quy định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Thực hiện các nhiệm vụ khác liên
quan đến hoạt động tài chính khi Ban chủ nhiệm Khoa yêu cầu. 2). Người làm
thủ quỹ phải chịu trách nhiệm thu, giữ và chi tiền theo phiếu và hệ thống sổ sách
do Kế toán trưởng lập theo đúng quy định nghiệp vụ; 3). Việc thu-chi và tạm ứng
tiền phải đúng quy trình sử dụng kinh phí do luật định. Phiếu thu phải có chữ ký
của kế toán, phiếu chi hoặc giấy tạm ứng tiền phải có đầy đủ các chữ ký của bổn
người: kế toán trưởng, trưởng phòng hành chính tổng họp (hoặc trưởng phòng
quản lý đào tạo và khoa học hay Phó chủ nhiệm Khoa được phân công phụ trách
mảng công tác tương ứng) và Chủ nhiệm Khoa. Phương thức cất giữ nguồn tiền
phải được thực hiện theo đúng chế độ về quản lý tiền mặt; và 4). Chuyên viên
phụ trách Bộ phân kế toán-tài vụ (kế toán trưởng), phải chấp hành sự phân công,
điều hành trực tiếp của Trưởng phòng hành chính tổng hợp và sự chỉ đạo của Ban
chủ nhiệm Khoa (khi cần thiết) để hoàn thành nhiệm vụ được giao, đồng thời
chịu trách nhiêm trước thủ trưởng cơ quan với tích chất là chủ tài khoản trong
việc thực hiện các nhiệm vụ của mình1.
1 Quy chế-2003 đã dản. -Tr.27-28.
13
Theo quy định hiện hành của pháp luật, của Đại học Quốc gia Hà Nội và
của Khoa về công tác tài chính, Bộ phận kế toán-tài vụ đã hoàn thành các nhiệm
vụ chuyên môn của mình như: làm các báo cáo quyết toán theo Thông tư số
121/2002/TT-BTC ngày 31/12/2002 và Thông tư số 03/2004/TT-BTC ngày
13/01/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn kế toán các đơn vị sự nghiệp có thu
thực hiện theo luật ngân sách nhà nước và khoán chi hành chính. Qua các kỳ
kiểm tra của Ban kế hoạch-tài chính, Đại học Quốc gia Hà Nội đều có kết luận vể
sổ sách rõ ràng, đầy đủ đúng quy định, các chứng từ lưu giữ khoa học dễ tra cứu.
Từ tháng 7/2000, Khoa Luật là một đơn vị dự toán độc lập, được nhận kinh
phí nhà nước cấp theo hạn mức được duyệt. Từ năm 2002 đến nay, Khoa Luật là
quản lý của các cơ quan, tổ chức.
Trên cơ sở phân tích nói trên, chúng ta thấy rằng công tác văn thư có
những mục đích và ý nghĩa riêng, là một công việc quan trọng, đảm bảo sự thông
suốt cho công tác điều hành, quản lý cơ quan, đơn vị và công tác này được thể
hiện ở các mặt sau:
Một là, công tác văn thư đảm bảo thông tin cho hoạt động quản lý điều
hành của cơ quan đơn vị. Trong hoạt động quản lý của các cơ quan thì từ việc đề
ra chủ trương, chính sách, xây dựng chương trình kế hoạch công tác cho đến việc
phản ánh tình hình, nêu kiến nghị với cấp trên hoặc giải quyết những công việc
cụ thể nào đó nói chung đều phải dựa vào các nguồn thông tin có liên quan.
Thông tin càng đầy đủ, chính xác và nắm bắt được kịp thời thì hoạt động quản lý
của cơ quan càng đạt hiệu quả cao. Thực tiễn đã minh chứng rằng, để đưa ra được
các quyết định quản lý đúng đắn, có khả năng thực thi, thì lãnh đạo cơ quan cần
phải nắm hiểu đầy đủ và chính xác thông tin về những vấn đề, sự việc có liên
quan; các cán bộ, viên chức để làm tốt trách nhiệm của mình trong việc giúp thủ
trưởng cơ quan đơn vị, theo dõi, nắm tình hình, đề xuất ý kiến giải quyết, soạn
15
thảo văn bản về những vấn đề, sự việc được phân công, tất yếu phải tiến hành thu
thập và xử lý các nguồn thông tin có liên quan.
Ví dụ, tại Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, để soạn thảo
một báo cáo tổng kết công tác năm học của đơn vị thì cán bộ được phân công viết
dự thảo phải thu thập và xử lý các nguồn thông tin như: Văn bản giao chỉ tiêu kế
hoạch đào tạo cho Khoa Luật của Đại học Quốc gia Hà Nội; kế hoạch công tác
năm của Khoa Luật; các báo cáo tình hình thực hiện công tác tháng, quý, 6 tháng
của các đơn vị trực thuộc Khoa Luật; Các văn bản chỉ đạo của các cơ quan cấp
trên như: của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Ban Giám đốc Đại học Quốc gia Hà
Nội, của các Ban chuyên môn Đại học Quốc gia Hà Nội và của các đơn vị trực
thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội khác có liên quan trong năm học và trong quá
trình Khoa Luật thực hiện các nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học mà Đại
học Quốc gia Hà Nội giao.
lưu giấy tờ. Quan lưu trong lĩnh vực này của thời hiện đại được dùng để chỉ cái
biểu hiện xa rời thực tế, thiếu sâu sát quần chúng và cơ sở, ngồi một chỗ ra lệnh
cấp dưới thực hiện, giải quyết công việc không qua các công đoạn điều tra, xác
minh, nghiên cứu cụ thể, đưa ra các quyết định quản lý không phù hợp với thực
tiễn và không có khả năng thực thi. Tệ quan lưu trong cơ quan thường gắn liền
với việc lạm phát giấy tờ, tức là ban hành văn bản trong trường hợp không thực
sự cần thiết hoặc có thể thay thế bằng một hình thức khác để truyền đạt thông tin
hoặc chỉ đạo hướng dẫn thì khi đó có thể thuận tiện và đạt hiệu quả cao hơn.
Quan liêu và giấy tờ có thể xem là bạn đồng hành và có quan hệ mật thiết vì tác
phong làm việc quan liêu ắt sẽ dẫn đến việc lạm phát giấy tờ, ngược lại lạm phát
giấy tờ là chính là biểu hiện của bệnh quan lưu. Tác hại của căn bệnh này là rất
lớn, nó làm giảm hiệu quả và năng xuất công việc, làm cho thiếu gắn kết trong
các mối quan hệ công tác giữa các thành viên trong đơn vị hoặc giữa lãnh đạo
điều hành với các cán bộ, viên chức thuộc quyền. Tệ quan lưu, giấy tờ là một
17
ĐAI HOC Q UỐ C GIA HA NOI
TRUNG TÂM THÔNG TIN THU VIỆN
phạm trù lịch sử, tồn tại cùng với nhà nước và chỉ có thể thực sự chấm dứt khi
không dùng văn bản làm phương tiện cho hoạt động quản lý. Chính vì nguyên do
đó mà khi làm tốt công tác văn thư sẽ có tác dụng tích cực đối với việc phòng
chống tộ quan liêu, giấy tờ. Việc chuyển giao kịp thời các văn bản, giấy tờ và các
thông tin quản lý đến đúng đối tượng có trách nhiệm giải quyết hoặc thực hiện
được nhanh chóng, kịp thời, soạn và ban hành các quyết định chính xác và phù
hợp với thực tiễn, có khả năng thực thi, tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của
nhà nước. Đây cũng là một vấn đề bức xúc nên Đảng và Nhà nước ta đã, đang
đặc biệt quan tâm và đã được thể hiện bằng chương trình cải cách hành chính của
chính phủ. Do đó, việc đổi mới công tác văn thư trong Khoa Luật cũng là một
việc cần làm, tức là cần khảo sát, đánh giá lại các văn bản, các quy định hiện
hành trong Khoa, phải tổ chức lấy ý kiến các cán bộ, viên chức toàn Khoa theo
một trong các hình thức dân chủ đã được quy định để tiến hành sửa đổi cho phù
cụ thể ở đây là phải làm tốt các khâu soạn thảo, ban hành văn bản, lập hồ sơ hiện
hành vào giao nộp hồ sơ vào lưu trữ cơ quan. Nếu như, văn bản được soạn thảo có
nội dung chính xác, các thành phần thuộc thể thức văn bản được thê hiện đầy đủ
và đúng đắn, thì sẽ đảm bảo cho tài liệu lưu trữ có độ chính xác cao và sẽ góp
phần nâng cao chất lượng của tài liệu lưu trữ và tất nhiên tạo điều kiện thuận lợi
cho việc nghiên cứu sử dụng1.
Tóm lại, dù trong bất cứ cơ quan, đơn vị nào thì công tác văn thư luôn có
một vai trò quan trọng đối với hoạt động của cơ quan, đơn vị mình. Đây là một
công việc có quan hệ mật thiết với việc ban hành chủ trương, chương trình, kế
hoạch công tác, lãnh đạo chỉ đạo và tổ chức thực hiện của đơn vị, công tác này
mang cả tính nghiệp vụ kỹ thuật và có tính chính trị cao cần được lãnh đạo các
đơn vị nói chung và Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội nói riêng đặc
biệt quan tâm và coi trọng đúng mức.
' Đọc thêm.: Vương Đình Quyển. Lý luận và Phương pháp công tác văn thư. N XB. Đ HQG H N, 2005, -Tr. 10-23.
19
Qua phân tích, chúng ta thấy rằng công tác vãn thư đóng vai trò đặc biệt
quan trọng cho công tác điều hành, cho đào tạo và nghiên cứu khoa học của một
đơ vị đào tạo như Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
1.2.5. Công tác thư viện giáo trình
Trong một đơn vị đào tạo và nhất là đơn vị đào tạo chất lượng cao như
Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội thì công tác giáo trình phải được
đặc biệt trú trọng, điều đó còn là một trong các tiêu chí để đánh giá, so sánh thứ
bậc giữa các cơ sở đào tạo luật với nhau, cũng như thang bậc trình độ của thầy và
trò Khoa Luật khi đem so sánh với các cơ sở đào tạo luật khác. Theo Quy chế-
2003, Bộ phận này thuộc Phòng hành chính tổng hợp, có chức năng thực hiện các
nhiệm vụ như: Lập và trình Chủ nhiệm Khoa phê duyệt kế hoạch biên soạn, sửa
chữa, bổ sung hoặc tái bản giáo trình, sách chuyên khảo trên cơ sở đề xuất của
các Bộ môn vào đầu mỗi học kỳ, năm học; Làm các thủ tục liên quan đến việc in
ấn và xuất bản giáo trình, quản lý kho sách và thủ tục xuất-nhập sách giáo trình;
Trực tiếp phát hành sách cho các cơ sở và hiệu sách theo giá và phí phát hành
trong các buổi đàm phán, xây dựng các dự án hợp tác quốc tế giữa Khoa với đối
tác nước ngoài; Tham mưu, giúp việc cho Ban Chủ nhiệm Khoa trong công tác
hợp tác quốc tế theo quy định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Thực hiện các
nhiệm vụ khác liên quan đến công tác hợp tác quốc tế khi Ban Chủ nhiệm Khoa
yêu cầu1.
Hiện nay, Bộ phận này đã được chuyển thành một Bộ phận thuộc Ban Chủ
nhiệm Khoa, do một Phó Chủ nhiệm tạm thời phụ trách, nhưng vẫn sinh hoạt
hành chính tại Phòng hành chính tổng hợp
Về tổ chức nhân sự hiện nay Bộ phận này chưa thực sự ổn định, có một số
cán bộ đang làm việc theo dạng hợp đồng lao động cấp Khoa và thực sự chưa
tương xứng đúng với chức năng và nhiệm vụ hoạt động của Bộ phận này.
1 Quy chế-2003 đã dản. Đ6, -Tr.30.
21
Hợp tác quốc tế về đào tạo hiện nay tại Khoa Luật luôn được xác định là
mũi nhọn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là việc tiếp thu chương
trình, phương pháp và công nghệ đào tạo của một số trường đại học tiên tiến trên
thế giới để đưa vào công tác đào tạo tại Khoa. Xuất phát từ tinh thần đó, Khoa
Luật đã có quan hệ hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu khoa học với các
quốc gia như: Mỹ, Nhật Bản, Nga, Bỉ, Trung Quốc, Hà Lan, Singapore, Hà Quốc,
Lào v.v Trong đó, Khoa Luật đã tham gia chương trình liên kết đào tạo và
nghiên cứu khoa học với Cộng hòa Pháp, tham gia tổ chức Pháp ngữ trong việc
đào tạo các thạc sĩ và tiến sĩ luật học do phía Pháp cấp bằng; với Nhật Bản, đào
tạo cử nhân luật học văn bằng 2 với sự giúp đỡ của tổ chức JICA. Ngoài ra, Khoa
Luật còn tổ chức các buổi hội thảo khoa học quốc tế, các buổi nói chuyện chuyên
đề và mời các chuyên gia nước ngoài thuyết trình, tham gia các chương trình trao
đổi chuyên gia, giảng viên, sinh viên v.v
1.2.7. C ông tác thanh tra, thi đua-khen thưởng
ỉ . 2.7.1. Công tác thanh tra.
Thanh tra Khoa Luật hiện nay vẫn đang sinh hoạt trong Phòng hành chính
tổng hợp Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, do đó đề tài này sẽ tập