MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU…………………………………………………………. 2
PHÀN I: NHỮNG THÀNH TỰU KINH TẾVIỆT NAM……………… 3
1. KẾT QUẢ KINH TẾ VIỆT NAM TRONG
NHỮNG NĂM QUA……………………………………………
4
1.1.Tăng trưởng kinh tế qua các năm………………………………
4
1.2.Những thành công trong tăng trưởng kinh tế khác…………….
7
KẾT LUẬN PHẦN I…………………………………………………….
1
0
PHẦN II MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM……
11
2.1. BẢN CHẤT ĐẶC TRƯNG CỦA MÔ HÌNH KINH
TẾ VIỆT NAM………………………………………………………
11
2.2. ĐẶC ĐIỂM MÔ HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM…………………
12
2.2.1 Xuất khẩu tài nguyên chiểm tỷ trọng lớn……………………….
12
2.2.2. Lao động trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam………………
13
2.2.3 Tỷ lệ phân phối vốn đầu tư……………………………………
15
2.3 HỆ QUẢ CỦA CƠ CẤU KINH TẾ VIỆT NAM…………………
17
KẾT LUẬN PHẦN 2…………………………………………………….
19
nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Duy trì được tốc độ tăng
trưởng trung bình khoảng 7% một năm. Trong 10 năm thực hiện Chiến lược
phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010, chúng ta đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi,
vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động tiêu cực của hai
cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực và toàn cầu, đạt được những
thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát
triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình.
Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi. Thế và lực của nước ta vững
mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo
ra những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và
nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Nền kinh tế của Việt Nam tăng trưởng nhanh là một hiện thực, không
chỉ dưới con mắt người nước ngoài, cũng không chỉ dưới lăng kính kinh tế vĩ
mô, mà sự tăng trưởng này còn có thể được cảm nhận ở đại bộ phận hộ gia
đình và các tế bào của nền kinh tế. Thế thì tại sao lại phải lo lắng và hoài nghi
về triển vọng tăng trưởng? Vấn đề là ở chỗ, liệu chúng ta đã phát huy hết tiềm
năng tăng trưởng của quốc gia hay chưa? Chất lượng, hiệu quả tăng trưởng
phát triển của chúng ta ra sao? Chúng ta có thể tiếp tục duy trì tốc độ tăng
trưởng cao trong những năm tới hay không?
Cũng trong bản báo cáo về Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt
Nam, Giáo sư Michael Porter đưa ra nhận xét: “Nếu Việt Nam tiếp tục tăng
trưởng theo kiểu cũ, tức là dựa chủ yếu vào đặc điểm địa lý hay dân cư thì
không có nghĩa là khủng hoảng sẽ đến vào năm sau. Tuy nhiên các bạn chắc
chắn không thể duy trì mô hình này trong vòng 5-10 năm tới”.
Qua thực tế quá trình tăng trưởng phát triển kinh tế của Việt Nam và nhận xét của
Giáo sư Michael Porter chúng ta thấy Việt Nam hiện chủ yếu vẫn dựa vào những “lợi thế
tự nhiên được thừa hưởng”, gồm tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và đặc điểm dân số.
Trong vòng 20 năm qua, Việt Nam đã sử dụng các lợi thế tự nhiên để phát huy thông qua
3
việc mở cửa thị trường và đầu tư vào cơ sở hạ tầng cơ bản, cần nhìn nhận đánh giá quá
giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một
bước quá trình đổi mới đời sống KTXH và giải phóng sức sản xuất.
1991-1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái, đạt được tốc
độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện.GDP bình quân năm tăng 8,2%. Đất
nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước.
Từ năm 1996-2000, là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước. Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực cùng thiên tai
nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách. Tuy nhiên,
giai đoạn này, Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước
7%/năm.
5
Năm 2000-2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, GDP bình
quân mỗi năm đạt 7,5%. Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP theo giá hiện hành,
đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng, tương đương với 640
USD.
Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Năm 2005, nước ta
đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về cao su, thứ 2 về hạt
điều, thứ nhất về hạt tiêu.
2005-2010: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7%. Mặc dù khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào
nước ta đạt cao. Trong 5 năm, tổng vốn FDI thực hiện đạt gần 45 tỉ USD, vượt 77% so với
kế hoạch đề ra. Tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm ước đạt 150 tỉ USD, gấp hơn 2,7
lần kế hoạch đề ra và gấp hơn 7 lần so với giai đoạn 2001-2005. GDP bình quân đầu người
đạt 1.168 USD.
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
China 8.3 9.1 10 10.1 10.4 11.6 13 9.6 9.2 10.3 9.2
Korea 4 7.2 2.8 4.6 4 5.2 5.1 2.3 0.2 6.1 3.9
India 5.8 3.8 8.5 7.5 9.5 9.7 9 6.7 8.0 8.6 7.8
Indonesia 3.8 4.3 4.8 5 5.7 5.5 6.3 6 4.6 6.1 6.4
Malaysia 0.5 5.4 5.8 6.8 5.3 5.8 6.2 4.6 -1.7 7.2 5.2
dân, do dân và vì dân;
• Tăng cường hợp tác quốc tế với các quốc gia khác trên thế giới.
Việt Nam đã được thế giới ghi nhận là một trong số ít các quốc gia đã hoàn thành
sớm mục tiêu thiên niên kỷ về xoá đói giảm nghèo. Tỷ lệ nghèo giảm nhanh từ 58,1% năm
1993 xuống còn 14,5% năm. Năm 2009 tỷ lệ hộ nghèo vẫn tiếp tục giảm, ước tính còn
11% theo chuẩn nghèo của Chính phủ. Tỷ lệ người nghèo tập trung phần lớn ở nông thôn
và vùng đồng bằn ven biển
Bất bình đẳng về thu nhập: Ở Việt Nam, bất bình đẳng về thu nhập gia tăng cùng
tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, mức độ bất bình đẳng thu nhập của Việt Nam vẫn còn
tương đối thấp so với các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Philippin,
Malaixia và Campuchia.
Chất lượng sống: Khái niệm “chất lượng sống” hiểu theo nghĩa rộng là một thước
đo quan trọng trong đánh giá năng lực cạnh tranh của một quốc gia. Chỉ số phát triển con
người (HDI) là một thước đo chất lượng sống.
Ngoài ra, chất lượng môi trường, đặc điểm dân số, chất lượng và tiếp cận các dịch
vụ y tế, giáo dục, các chỉ tố về bình đẳng giới, v.v. cũng là những chỉ số thể hiện chất
lượng sống.
Chỉ số HDI được cấu thành bởi một loạt các chỉ số thành phần chia thành ba nhóm:
thu nhập, sức khoẻ và giáo dục. Việt Nam đạt điểm khá cao về nhóm chỉ số sức khoẻ, ví
dụ chỉ số tuổi thọ bìnhquân, so với các nước châu Á. Tuy nhiên, Việt Nam cần cải thiện
các chỉ số về giáo dục là nhóm chỉ số mà Việt Nam vẫn đứng sau nhiều nước châu Á. Ví
dụ, số năm đi học trung bình là 5,5 và số năm đi học dự kiến là 10,4 (cải thiện được 4,9
năm) đối với Việt Nam, trong khi những con số này tương ứng là 5,7 và 12,7 (cải thiện
được 7 năm) đối với Inđônêxia. Để cải thiện chỉ số HDI thì bên cạnh cải thiện GDP bình
quân đầu người cần đồng thời cải thiện các chỉ số khác, đặc biệt là các chỉ số về giáo dục.
8
Bảng 3 Các chỉ số phát triển của Việt Nam so với các nước Châu Á
KẾT LUẬN PHẦN I
Qua 25 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng bộ. Hoạt
Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị
trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của
chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý, và phân phối. Nói cách
khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, quản lý nền kinh
tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật, mở cửa và hội nhập nhằm
thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển rút ngắn để trong khoảng
thời gian không dài có thể khắc phục tình trạng lạc hậu.
10
Mô hình kinh tế Việt Nam phản ánh khái quát đặc trưng của một nền kinh tế
chuyển đổi đang tăng trưởng nhanh. Việt Nam đã thành công trong việc duy trì tốc độ tăng
trưởng mạnh mẽ trong suốt hai thập kỷ qua nhưng động lực để thúc đẩy tăng trưởng bền
vững hơn nữa đang giảm dần và áp lực tăng chi phí để tạo tăng trưởng đang tăng lên, trong
khi những lợi thế cạnh tranh mới chưa được tạo lập.
2.2. ĐẶC ĐIỂM MÔ HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM
Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế sở hữu nhà nước
sang một nền kinh tế mà các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và các doanh nghiệp nước
ngoài đóng vai trò chi phối
Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ
yếu nhờ vào việc bán tài nguyên ở dạng thô và gia công trình độ thấp, đúng như lời nhận
xét của giáo sư Giáo sư Michael Porter ‘tăng trưởng theo kiểu cũ, tức là dựa chủ yếu vào
đặc điểm địa lý hay dân cư’’, tức là nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà
nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
2.2.1 Xuất khẩu tài nguyên chiểm tỷ trọng lớn
Việt Nam được đánh giá là quốc gia giàu về tài nguyên thiên nhiên. Tài nguyên
nước được xếp vào hàng những quốc gia có nguồn nước dồi dào. Các loại khoáng sản có
trữ lượng lớn của Việt nam gồm có than, dầu khí, bôxit và urani. Trữ lượng than của Việt
Nam khoảng hơn 6 tỉ tấn, chủ yếu là ở Quảng Ninh, Thái Nguyên. Trữ lượng dầu mỏ ước
khoảng 3-4 tỷ thùng và khí đốt khoảng 50-70 tỷ mét khối.
11
máy móc linh kiện điện tử. Hầu hết các ngành này Việt Nam đều nhập khẩu nguyên liệu và
công nghệ chỉ gia công và hòan thành sản phẩm là những khâu đơn giản nhất không mang
lại hiệu quả kinh tế cao và tiềm lực kinh tế, không thể phát triển lâu dài.
Giá trị gia tăng thấp và cơ cấu xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm có hàm lượng lao động
cao là dấu hiệu cho thấy năng lực sáng tạo không có nhiều và mối liên kết giữa khu vực
xuất khẩu và kinh tế trong nước là rất hạn chế.
Lao động giá rẻ là một lợi thế giúp tăng trưởng xuất khẩu, trong khi đa số máy
móc và nguyên liệu thô vẫn phải nhập khẩu. Các công ty FDI mang vốn từ nước ngoài vào
kết hợp với lao động giá rẻ để sản xuất phục vụ chuỗi giá trị của họ, nhưng lại có rất ít liên
kết với khu vực kinh tế trong nước. Do không có sự liên kết cả ở khâu đầu vào và đầu ra
với khu vực FDI, các công ty trong nước khó có thể tham gia sâu vào các chuỗi giá trị toàn
cầu, Điều này khiến những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam thường không liên
quan đến nhau (thủy sản, dệt, đồ nội thất, may mặc, giày dép…). Do đó không tạo được
hiệu ứng “tràn ngập" tại các thị trường lớn như EU hay Mỹ
2.2.3 Tỷ lệ phân phối vốn đầu tư
Việc gia tăng đầu tư vốn là điều tự nhiên đối với một nền kinh tế thâm dụng lao
động. Đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, nơi mà vốn là một nguồn lực
khan hiếm thì năng suất biên của vốn lẽ ra phải cao hơn nhiều. Tuy nhiên, trên thực tế, vốn
13
tạo ra tăng trưởng nhưng lại thất bại trong cải thiện năng suất tổng thể. Hiệu quả đầu tư
ngày càng đi xuống cho thấy còn thiếu vắng những động lực phát triển mới. Thực tế,
nguồn vốn chủ đạo để đầu tư của khu vực công được lấy từ ngân sách nhà nước, tín dụng
nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trong đó đầu tư từ ngân sách và các
DNNN chiếm trên 75%. giai đoạn 2005-2009, lĩnh vực công nghiệp- xây dựng được ưu
tiên trên 50% vốn, song đóng góp vào GDP lại chỉ dưới 40%. Vốn đầu tư từ ngân sách nhà
nước giai đoạn 2001-2010 chiếm 52,2% tổng vốn đầu tư khu vực nhà nước và bằng
khoảng 24,1% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Tính theo tỉ lệ trên GDP, vốn đầu tư từ ngân
sách nhà nước trong giai đoạn này lên đến 9,8%.
Khu vực nhà nước có tỷ trọng đầu tư cao nhưng hiệu quả đầu tư thấp, mặc dù vốn
đầu tư của khu vực tư nhân trong nước và FDI tăng rất nhanh, trung bình là 18% và 44%
- Vốn
- Lao động
- TFP
100
69,3
15,9
14,8
100
57,5
20,0
22,5
2.3 HỆ QUẢ CỦA CƠ CẤU KINH TẾ VIỆT NAM
Những đặc điểm cơ cấu kinh tế trên dẫn đến một số hệ quả như đã thấy trong giai đoạn bất
ổn vĩ mô và suy giảm kinh tế gần đây.
• Thứ nhất là nền kinh tế kém hiệu quả. Số đơn vị đầu tư cầnthiết để tạo
ra một điểm phần trăm tăng trưởng GDP (tức là hệ số ICOR) của nền kinh tế tăng rất
nhanh. Hệ số gia tăng vốn - đầu ra phản ánh tỷ lệ đầu tư cao của Việt Nam so với tốc độ
tăng trưởng. Và hệ số này ngày càng có xu hướng tăng lên. Tính trung bình, ICOR của
Việt Nam là khoảng 4,8 trong giai đoạn 2000-2008 và 5,4 trong giai đoạn 2006-2008 và
tăng lên đến 6 trong năm nay. Với mức này, ICOR của Việt Nam cao hơn nhiều của các
nước công nghiệp mới trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế (từ 1961 tới 1980) như Đài Loan
(2,7), Hàn Quốc (3,0), và cũng cao hơn ICOR của một số nước trong khu vực như Thái
Lan (4,1 trong giai đoạn 1981-1995) và Trung Quốc (4,0 trong giai đoạn 2001-2006).
( bảng 6)
15
Bảng 6: Hệ số ICOR của Việt Nam và một số quốc gia khác
Đầu tư của khu vực nhà nước có hiệu quả thấp hơn đáng kể so với đầu tư của khu vực tư
nhân trong nước và FDI, dù tính theo vốn đầu tư thực hiện hay theo tích lũy tài sản thì hệ
số ICOR của khu vực kinh tế nhà nước cũng cao gấp rưỡi hệ số ICOR chung của toàn nền
kinh tế. Với tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư xã hội như vậy, hiệu quả đầu tư thấp của khu
Mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào đầu tư vốn, trong khi tỷ lệ tiết kiệm nội địa
đang giảm nhanh, do đó mức độ phụ thuộc vào các nguồn vốn từ bên ngoài như FDI,
ODA, kiều hối ngày càng cao. Chính sách tăng trưởng tập trung vào phát triển theo chiều
rộng thay vì phát triển theo chiều sâu, tập trung vào số lượng thay vì vào chất lượng, do đó
có thể tạo ra tốc độ tăng trưởng nhanh, nhưng về lâu dài là không bền vững, và không giúp
nâng cao năng suất và hiệu quả.
17
PHẦN 3
NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM TIẾP THEO
Mặc dù đạt được tốc độ tăng trưởng ấn tượng và những thành tích trong hoạt động
xuất khẩu, giá trị gia tăng của toàn nền kinh tế vẫn ở mức thấp, thậm chí cả trong khu vực
xuất khẩu. Việc gia nhập WTO đã hội nhập sâu hơn vào kinh tế thế giới và thu được
những lợi ích đáng kể từ quá trình này. Tuy nhiên, những dấu hiệu bất ổn và dễ tổn thương
trước các cú sốc và biến động bên ngoài đang không ngừng gia tăng đòi hỏi Việt Nam phải
có một cách tiếp cận chủ động và dài hạn hơn để không những đối phó mà còn có thể dự
báo và kiểm soát được các yếu tố bên ngoài một cách hiệu quả.
Sự cần thiết phải thay đổi không chỉ do những yếu tố nội tại bên trong dẫn dắt. Khi
hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam cần nhìn nhận được những
thay đổi và chuyển dịch của môi trường bên ngoài mà mình phải đối mặt. Một số thay đổi
và chuyển dịch sẽ mở ra cơ hội cho Việt Nam Đã có sự thống nhất quan điểm rằng Việt
Nam cần chuyển dịch mô hình tăng trưởng hiện nay – mô hình dựa trên lao động giá rẻ và
đầu tư vốn lớn - sang dựa trên năng suất và sức cạnh tranh. Tăng trưởng tương lai của Việt
Nam không chỉ dựa trên việc khai thác những lợi thế sẵn có mà phải dựa trên việc liên tục
nâng cấp các lợi thế này và tạo dựng những lợi thế mới. Điều này đỏi hỏi phải thay đổi
toàn diện các điều kiện vĩ mô và vi mô dẫn dắt năng suất. Quan điểm và cách tiếp cận mới
đối với mô hình tăng trưởng này là điều kiện tiên quyết để Việt nam có thể bước lên một
nấc thang phát triển mới một cách bền vững.
3.1. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
3.1.1. Quan điểm
công nghiệp. Nông nghiệp có bước phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả,
bền vững, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động; tỉ lệ lao động nông nghiệp khoảng 30 -
35% lao động xa hội.
Kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, với một số công trình hiện đại. Tỉ
lệ đô thị hoá đạt trên 45%. Số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%.
Đến năm 2020, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao
của thế giới; tốc độ tăng dân số ổn định ở mức khoảng 1%; tỉ lệ hộ nghèo
giảm bình quân 1,5- 2%/năm; phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và chăm sóc sức
khỏe cộng đồng được bảo đảm
Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng
cao gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng
khoa học, công nghệ. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số
công trình hiện đại.
3.2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ, ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG
Để đạt được những mục tiêu kinh tế phát triển bền vững trên ta cần giải quyết
những vướng mắc hiện tại những thách thức đang nổi lên, và tạo nền tảng
cho tăng trưởng trong tương lai đã được nêu lên trong báo cáo năng lực cạnh
tranh của Việt Nam
Giải quyết những thách Những chuẩn bị cho sự phát
Thức đang nổi lên triển tiếp theo
20
Điều chỉnh những
mất cân bằng kinh tế
vĩ mô ngày càng
tăng
Điều chỉnh những
mất cân bằng kinh tế
vĩ mô ngày càng
tăng
nhất chúng làm cho các nhà đầu tư lo ngại rằng rủi ro của việc đầu tư vào Việt Nam tăng
cao. Điều này sẽ làm suy giảm các lợi ích mà Việt Nam có thể thu được từ vốn nước
ngoài, những lợi ích mà Việt Nam rất cần để bắt kịp với thế giới.
Các mất cân đối vĩ mô này có thể làm phát sinh khủng hoảng, khi niềm tin bị xói
mòn và các dòng vốn nước ngoài chảy khỏi Việt Nam. Việt Nam cần có cách tiếp cận mới
về chính sách kinh tế vĩ mô để giải quyết tận gốc các mất cân đối nói trên. Chính sách tiền
tệ cần minh bạch và có tầm nhìn xa. Chính sách tài khoá cần bền vững, có kỷ luật và thận
trọng trong việc quản lý thâm hụt ngân sách, đầu tư công và nợ công. Ngoài ra, cần có sự
phối hợp đồng bộ giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ để đạt được ổn định vĩ mô.
3.2.1. Nút thắt vi mô
Tăng trưởng hiện nay của Việt Nam đang được dẫn dắt bởi các các yếu tố nền tảng
kinh tế vi mô của quốc gia, đặc biệt là dựa vào một lực lượng lao động dồi dào và giá rẻ,
một lợi thế ngày càng trở nên dễ tiếp cận đối với các nhà đầu tư trong điều kiện hội nhập
toàn cầu. Mặc dù các yếu tố vi mô này về cơ bản chưa có gì đáng ngại, nhưng đã có những
21
dấu hiệu cho thấy mô hình tăng trưởng vi mô hiện nay đang vấp phải một số điểm nút thắt
sau đây:
Thiếu hụt lao động có kỹ năng và hạ tầng; Các doanh nghiệp phàn nàn ngày càng
nhiều về tình trạng không tìm được đủ số lao động có kỹ năng đáp ứng yêu cầu, đặc biệt là
cán
Tỷ lệ giải ngân và tác động lan toả tích cực của khu vực FDI thấp; đầu tư nước
ngoài (FDI) ngày càng tập trung vào lĩnh vực bất động sản và các ngành sử dụng nhiều lao
động như bất động sản
Mối quan hệ giảm dần giữa đầu tư và tăng trưởng; Hệ số ICOR được sử dụng để đo
lường mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng GDP. Mặc dù còn nhiều tranh cãi về
phương pháp luận của chỉ số ICOR nhưng nếu nhìn tổng thể, có thể thấy với mức độ đầu
tư tương đương, Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP thấp hơn mức tăng của Trung Quốc
và Ấn Độ. Khu vực DNNN chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư xã hội và là nhân tố
góp phần gây ra hiệu quả đầu tư thấp của toàn nền kinh tế.
Những nút thắt nói trên đang làm cho mô hình tăng trưởng hiện nay mất dần động
Đôi với mất cân bắng kinh tế vĩ mô
Là một nền kinh tế nhỏ và có độ mở cao với chế độ tỷ giá gần như cố định, khả
năng Việt Nam có thể sử dụng công cụ vĩ mô để thúc đẩy tăng trưởng là hạn chế. Việc nới
lỏng chính sách tiền tệ không đảm bảo tạo ra tăng trưởng cao hơn do phần lớn nhu cầu
được kích . Thay vào đó, việc này sẽ gây áp lực lạm phát, tạo bong bóng tài sản và tình
trạng đôla hoá như những gì Việt Nam đã trải qua trong năm 2009
Các biện pháp kích thích tài khoá có thể thu hút thêm các dòng vốn nước ngoài đổ
vào Việt Nam nhưng dưới chế độ tỷ giá gần như cố định, Ngân hàng trung ương sẽ buộc
phải tăng cung tiền ra thị trường và do đó đẩy lạm phát tăng lên. Thay vì sử dụng chính
sách tài khoá và chính sách tiền tệ nới lỏng để kích thích tăng trưởng, Việt Nam nên theo
đuổi một cách tiếp cận chính sách mang tính dài hạn và thận trọng, đồng thời cần cải thiện
năng lực điều hành kinh tế vĩ mô để duy trì nền tảng vĩ mô bền vững và lành mạnh của nền
kinh tế.
Gói giải pháp chính sách vĩ mô tổng thể cần đạt tới nhiều mục đích: Chính sách
tiền tệ cần tạo dựng được một môi trường mà trong đó lạm phát, lãi suất và tỷ giá được
hình thành theo một quy trình minh bạch, theo quy luật thị trường và gửi đi những tín hiệu
23
rõ ràng, nhất quán tới các thành viên thị trường. Chính sách tài khoá cần đảm bảo tính
minh bạch và kỷ luật, cân đối thu -chi ngân sách phù hợp với điều kiện và giới hạn của
ngân sách trong dài hạn. Quản lý vĩ mô cần hài hoà giữa các ưu tiên tiền tệ và tài khoá
ngắn hạn với các mục tiêu dài hạn. Cần đồng bộ các chính sách kinh tế Vĩ Mô các chính
sách tà khóa cần minh bạch, củng cố nền tài chính công.
24
Đối với các nút thắt vi mô
Để có một giải pháp triệt để cơ bản giải quyết những thách thức này cần có sự thay
đổi đồng loạt trên nhiều lĩnh vực cả về chính sách và thể chế. Tuy vậy, Chính phủ vẫn cần
tìm ra câu trả lời nhanh để tạm thời gỡ những nút thắt vi mô nói trên. Để làm được điều
này, cần có các sáng kiến kết hợp giữa khu vực nhà nước và tư nhân, trong đó các doanh
nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan và các tổ chức cung cấp hàng hoá hoặc
dịch vụ liên quan khác, cùng nhau phối hợp để xác định và thực hiện các hành động cụ thể.