ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN VIỆT THẮNG
XÂY DỰNG QUY TRÌNH KIỂM TRA
ĐỂ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN
CỨU VÀ TRIỂN KHAI
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP
VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ HOẠT ĐỘNG KH&CN) LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI - 2009ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7
3.1. Mục tiêu nghiên cứu 7
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 7
4.1. Đối tượng nghiên cứu 7
4.2. Khách thể nghiên cứu 7
4.3. Thời gian nghiên cứu 8
4.4. Phạm vi nghiên cứu 8
5. Mẫu khảo sát 8
6. Câu hỏi nghiên cứu 9
7. Giả thuyết nghiên cứu 9
8. Luận cứ chứng minh luận điểm 10
8.1. Luận cứ lý thuyết 10
8.2. Luận cứ thực tế 11
9. Phƣơng pháp nghiên cứu 11
10. Cấu trúc của luận văn 12
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
VÀ TRIỂN KHAI 13
1.1. Khái niệm tổ chức nghiên cứu và triển khai 13
1.1.1. Khái niệm nghiên cứu và triển khai 13
1.1.2. Khái niệm tổ chức 14
1.1.3.Tổ chức nghiên cứu và triển khai 16
1.1.4. Các loại hình tổ chức nghiên cứu và triển khai 17
1.1.5. Nhiệm vụ của các tổ chức nghiên cứu và triển khai 18
1.1.6. Điều kiện thành lập và đăng ký hoạt động của các tổ chức NC&TK 18
1.2. Khái niệm kiểm tra 19
1.2.1. Kiểm tra là một trong những chức năng của quy trình quản lý 19
1.2.2. Đặc điểm và vai trò của kiểm tra 20
3.1.1. Các yêu cầu chung để kiểm tra tổ chức NC&TK 61
3.1.2. Cơ quan xây dựng kế hoạch kiểm tra 63
3.1.3. Xây dựng các tiêu chí để kiểm tra tổ chức NC&TK 64
3.1.4. Phổ biến các tiêu chí kiểm tra 68
3.2. Xây dựng quy trình kiểm tra các tổ chức NC&TK 68
3.2.1. Các bước chuẩn bị kiểm tra các tổ chức NC&TK 68
3.2.2. Các bước tiến hành của quy trình kiểm tra tổ chức NC&TK 70
3.2.3. Kiểm tra đột xuất 72
3.3. Áp dụng quy trình kiểm tra trong thực tiễn các tổ chức NC&TK 72
3.3.1. Áp dụng quy trình kiểm tra trong thực tiễn đối với trường hợp không
phải áp dụng biện pháp điều chỉnh 73
3.3.2. Áp dụng quy trình kiểm tra trong thực tiễn đối với trường hợp phải áp
dụng biện pháp điều chỉnh 79
3.3.3. Áp dụng quy trình kiểm tra trong thực tiễn đối với trường hợp kiểm tra
đột xuất các tổ chức NC&TK 84
Kết luận chƣơng 3 89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
1. Kết luận 90
2. Khuyến nghị 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tính đến năm 2009, các tổ chức nghiên cứu và triển khai (NC&TK) của
nƣớc ta đã có lịch sử phát triển 50 năm. Trong suốt chiều dài lịch sử của công cuộc
kháng chiến chống Mỹ cũng nhƣ những năm đầu xây dựng phát triển đất nƣớc, các
tổ chức NC&TK đã có những đóng góp nhất định. Các tổ chức này đã có mặt trong
các lĩnh vực nông, lâm, ngƣ nghiệp, công nghiệp, xây dựng, giao thông, y dƣợc, xã
hội và nhân văn.
Tuy nhiên, tính đến năm 1990 về cơ bản nƣớc ta chỉ có các tổ chức NC&TK
thuộc Nhà nƣớc. Các cơ sở hạ tầng của các tổ chức NC&TK từ nhân lực, tài chính,
thiết bị, máy móc, nhà xƣởng, đất đai cho đến thông tin đều của Nhà nƣớc.
Lý luận về quản lý khoa học nói chung, quản lý các tổ chức NC&TK nói
riêng đƣợc phát triển mạnh những năm cuối của thập kỷ 80 của Thế kỷ XX. Các cơ
quan quản lý Nhà nƣớc đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực
quản lý khoa học và công nghệ. Liên quan đến quản lý các tổ chức NC&TK có thể
nêu lên một số văn bản chủ yếu sau đây:
- Nghị định số 35/HĐBT của Hội đồng Bộ trƣởng ngày 28/01/1992 về công
tác quản lý KH&CN,
- Thông tƣ Liên bộ Bộ Khoa học, công nghệ và môi trƣờng, Ban tổ chức cán
bộ Chính phủ số 195/LB ngày 13/11/1992 về hƣớng dẫn đăng ký hoạt động của các
tổ chức nghiên cứu và phát triển công nghệ.
- Luật KH&CN đã đƣợc Quốc hội khoá X thông qua ngày 8/6/2000 tại kỳ
họp lần thứ 7;
- Ngày 17/10/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 81/2002/NĐ - CP quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật KH&CN;
- Ngày 24/8/2005, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tƣ
10/2005/TT - BKHCN về việc hƣớng dẫn điều kiện thành lập và đăng ký hoạt động
của tổ chức KH&CN.
5
6
Cũng từ thực tế nêu trên có thể khẳng định ý nghĩa thực tiễn và tính cấp thiết
của đề tài nghiên cứu.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong khoảng thời gian từ đầu những năm 80 Thế kỷ XX đến nay đã có một
bƣớc tiến rất dài trong lĩnh vực quản lý hoạt động KH&CN nói chung và quản lý
các tổ chức NC&TK nói riêng, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu trong lĩnh
vực quản lý các tổ chức NC&TK, nhƣ quản lý tổ chức, quản lý nhân lực, quản lý tài
chính, sở hữu trí tuệ, hợp tác quốc tế, quản lý hoạt động thanh tra đối với các tổ
chức NC&TK. Nhiều kết quả nghiên cứu đã đƣợc áp dụng vào thực tế, biểu hiện rõ
rệt hơn cả là kết quả đó đƣợc các cơ quan quản lý nhà nƣớc sử dụng để xây dựng
nên các văn bản pháp luật và pháp quy nhằm đổi mới không ngừng nội dung và chất
lƣợng quản lý đối với các tổ chức NC&TK.
Tuy nhiên, nhƣ đã trình bày ở trên, vấn đề xây dựng quy trình kiểm tra các tổ
chức NC&TK vẫn đang là vấn đề bỏ ngỏ. Hoạt động kiểm tra các tổ chức NC&TK
tuy đã có nhƣng chƣa hoàn chỉnh, tuỳ thuộc vào rất nhiều cơ quan quản lý (quản lý
về tổ chức, quản lý tài chính, quản lý thông tin ). Chính vì vậy có thể khẳng định
Đề tài của Luận văn là công trình nghiên cứu đầy đủ và là công trình nghiên cứu
đầu tiên nhằm xây dựng quy trình kiểm tra để nâng cao chất lƣợng và hiệu quả hoạt
động của các tổ chức NC&TK.
Nhƣ đã nói vấn đề kiểm tra các tổ chức NC&TK chƣa đề cập trong các văn
bản pháp quy đang hiện hành.
Từ trƣớc đến nay vẫn chƣa có quy trình kiểm tra hoàn chỉnh, các đợt kiểm
tra các tổ chức NC&TK chƣa mang tính hệ thống và chƣa triển khai đồng bộ. Chính
vì chƣa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, có cơ sở khoa học nên Đề tài luận văn
này là công trình nghiên cứu đầu tiên.
7
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
4.4. Phạm vi nghiên cứu
Dựa vào lý luận và thực tế quản lý khoa học tiến hành các phân tích, đánh
giá tổng quan tình hình hoạt động của các tổ chức NC&TK thuộc các thành phần
kinh tế: ƣu điểm và nhƣợc điểm nhìn từ góc độ quản lý. Qua đó làm rõ nhu cầu phải
tiến hành kiểm tra và đề xuất quy trình kiểm tra các tổ chức NC&TK nhƣ một trong
các biện pháp hoàn thiện quản lý hoạt động KH&CN.
Dựa vào kết quả tại các báo cáo kiểm tra, kiểm tra điểm của Văn phòng
Đăng ký để tiến hành các phân tích, đánh giá hoạt động của các tổ chức NC&TK,
làm rõ sự cần thiết phải tiến hành công tác kiểm tra.
Một nội dung quan trọng là đề xuất quy trình kiểm tra các tổ chức NC&TK,
lấy ý kiến của các nhà khoa học và các nhà quản lý nhằm hoàn thiện quy trình kiểm
tra, hoàn thiện các khuyến nghị đề xuất của luận văn.
5. Mẫu khảo sát
Để khảo sát thực trạng công tác kiểm tra các tổ chức NC&TK, Luận văn lựa
chọn các mẫu khảo sát sau đây:
- Văn phòng Đăng ký hoạt động KH&CN của Bộ KH&CN.
- 41 tổ chức NC&TK đăng ký hoạt động KH&CN tại Bộ KH&CN.
- 26 tổ chức NC&TK của Nhà nƣớc (2 Viện và 24 đơn vị trực thuộc).
9
- 12 tổ chức NC&TK của Tập thể.
- 3 tổ chức NC&TK của cá nhân thành lập có vốn của nƣớc ngoài.
Để xây dựng quy trình kiểm tra các tổ chức NC&TK, Luận văn đã chọn mẫu
khảo sát theo các tiêu chí sau đây:
- Kinh tế Nhà nước: 2 mẫu đƣợc lựa chọn là Viện Khoa học công nghệ xây
dựng trực thuộc Bộ Xây dựng và Trung tâm Tƣ vấn khoa học công nghệ, đào tạo và
xuất nhập khẩu thuộc Tổng công ty xây dựng Hà Nội.
- Kinh tế tập thể: 3 mẫu đƣợc lựa chọn là Trung tâm phân tích AND và công
nghệ di truyền, Viện nghiên cứu hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững, Viện Địa
kỹ thuật. Đây là các tổ chức NC&TK do Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật
đóng góp cho tích cực và hiệu quả việc xây dựng các đƣờng lối, chủ trƣơng chính
sách phát triển xã hội của Đảng và Nhà nƣớc. Các tổ chức NC&TK trong các lĩnh
vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật, y dƣợc và nông nghiệp phải có các nghiên cứu gắn
liền với thực tế, nghiên cứu và sáng tạo các công nghệ mới và tiến hành chuyển giao
công nghệ để từ đó phát triển sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội nâng cao chất
lƣợng cuộc sống của nhân dân.
Chính sách của Nhà nƣớc cũng chỉ rõ phải phát triển các tổ chức NC&TK
trong tất cả các thành phần kinh tế. Quản lý Nhà nƣớc cũng phải thể hiện quan điểm
bình đẳng và thống nhất đối với các tổ chức NC&TK. Nhà nƣớc tôn trọng và tạo cơ
hội cho các tổ chức NC&TK cũng nhƣ bản thân các nhà khoa học đƣợc tự do sáng
tạo và cống hiến.
Tuy nhiên để nâng cao chất lƣợng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức
NC&TK, Nhà nƣớc cần thiết phải đổi mới công tác quản lý khoa học theo hƣớng
phù hợp với thực tiễn và với thông lệ quốc tế. Vấn đề quan trọng ở đây là phải hoàn
11
thiện các văn bản quản lý, chính sách và phƣơng pháp quản lý. Đề tài nghiên cứu
xây dựng quy trình kiểm tra các tổ chức NC&TK đƣợc tiến hành theo hƣớng đó.
Trong quá trình xây dựng quy trình kiểm tra các tổ chức NC&TK, cần phải tham
khảo kinh nghiệm của quốc tế, đặc biệt cần phải gắn kết quy trình kiểm tra với tự
kiểm tra với mục đích để cho các tổ chức NC&TK hoàn thành nhiệm vụ KH&CN
của mình.
8.2. Luận cứ thực tế
Luận văn triển khai theo hƣớng xuất phát từ thực tế để xây dựng chính sách tiếp đến
quay trở lại phục vụ cho thực tế. Nói cách khác, quy trình kiểm tra các tổ chức
NC&TK phải xuất phát từ thực tiễn hoạt động của bản thân các tổ chức cộng thêm
“ý chí” của nhà quản lý để có đƣợc các phác thảo đầu tiên. Phác thảo đó đƣợc đem
ra bàn thảo, lấy ý kiến các nhà khoa học, các nhà quản lý để dần hoàn thiện.
Các khuyến nghị và quy trình kiểm tra các tổ chức NC&TK đƣợc xây dựng
theo hƣớng đó. Vì vậy có thể nói rằng nó vừa quán triệt tính chỉ đạo của lý luận
thƣờng sử dụng thuật ngữ “Nghiên cứu và phát triển” thay cho thuật ngữ “nghiên
cứu và triển khai”. Khái niệm “Phát triển” trong Luật KH&CN hoàn toàn trùng
khớp với khái niệm “Triển khai” mà GS Tạ Quang Bửu đã chuyển ngữ từ khái niệm
Dévelopement expérimental của UNESCO
1
. Vì vậy, trong luận văn này xin đƣợc
dùng thuật ngữ “nghiên cứu và triển khai” thay cho thuật ngữ “nghiên cứu và phát
triển” mà Luật KH&CN đang sử dụng. Bởi từ lâu khái niệm “triển khai” đã đi vào
hệ thống tổ chức nghiên cứu khoa học.
Khái niệm nghiên cứu và triển khai (viết tắt của nghiên cứu khoa học và triển
khai thực nghiệm) đƣợc định nghĩa theo UNESCO, là những công việc có tính sáng
tạo và hệ thống đƣợc tiến hành nhằm tăng cƣờng khối kiến thức, bao gồm kiến thức
về con ngƣời, văn hoá và xã hội, và việc sử dụng các kiến thức đó để tạo ra những
áp dụng mới.
Nói đến nghiên cứu và triển khai là để nói nên một cách phân loại nghiên
cứu khoa học. Trong trƣờng hợp này NC&TK đƣợc phân loại theo các giai đoạn
của nghiên cứu khoa học. Thông thƣờng, ngƣời ta phân chia nghiên cứu khoa học
thành 3 loại
2
:
- Nghiên cứu cơ bản: là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu
trúc, động thái các sự vật. Kết quả nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát
hiện, phát minh, dẫn tới hình thành một hệ thống lý thuyết mới. 1
Phân biệt “triển khai” và “ phát triển” những đối tƣợng khác nhau của Luật KH&CN, Tin ngày 11/8/2008
của Tạp chí Hoạt động Khoa học.
2
Vũ Cao Đàm, Giáo trình Phương pháp luận Nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản giáo dục, năm 2008.
chung”. Tuy nhiên khái niệm nêu trên rất có tính khoa học và xác thực, vì nó gắn 3
Nguyễn Nhƣ Ý, Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hoá – Thông tin, Hà Nội 1998.
15
với khái niệm “cơ cấu”. Về mặt ngôn ngữ, ở đây “cơ cấu” đồng nghĩa với “bộ
máy”, ý nghĩa cơ bản tạo nên tính vận động và linh hoạt của khái niệm tổ chức.
Theo ngôn ngữ khoa học thì tổ chức là một thực thể xã hội do các cá nhân
hoặc các nhóm kết hợp để thực hiện mục tiêu chung và nó có 3 đặc trƣng cơ bản
4
:
- Tổ chức đƣợc tạo ra nhằm thực hiện các mục tiêu chung của cộng đồng;
- Có cấu trúc phân công lao động, có nghĩa là mọi ngƣời tham gia tổ chức
không phải đều đƣợc nhận việc nhƣ nhau mà đƣợc giao những việc phù hợp với yêu
cầu của tổ chức, trình độ và năng lực của cá nhân. Tổ chức càng phát triển thì phân
công lao động càng triệt để;
- Có ban quản lý. Ban quản lý có bổn phận đại diện cho cộng đồng với công
việc trong và ngoài tổ chức. Ban quản lý chịu trách nhiệm đảm bảo sự điều phối và
thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Nghiên cứu khoa học ngày càng trở thành hoạt động đƣợc tổ chức một cách
có hệ thống, không còn là những hoạt động đơn lẻ của từng cá nhân, hay là đặc
quyền của Nhà nƣớc mà là hoạt động của xã hội, với nhiều tổ chức và cá nhân khác
nhau trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Vấn đề tổ chức và quản lý ngày càng biểu hiện vai trò quyết định đối với sự
thành công trong hoạt động nghiên cứu khoa học, một mặt nâng cao đƣợc năng suất,
chất lƣợng và hiệu quả, mặt khác giảm bớt lãng phí, những rủi ro của hoạt động
nghiên cứu khoa học.
Trong một tổ chức chúng ta thấy các cá nhân thành viên của tổ chức hoạt
- Tổ chức không chỉ bao gồm các cá nhân liên kết với nhau thông qua vai trò
của họ trong tổ chức mà còn bao gồm cả liên minh của các nhóm lợi ích.
- Thực tiễn tổ chức có cơ cấu đƣợc xác định bởi những hình thức chế ngự trong
xã hội bởi việc xác định giá trị thông qua các chính sách của tổ chức cũng nhƣ định
hƣớng giá trị của những nhóm lợi ích khác nhau.
- Coi tổ chức là một thực thể xã hội đặc biệt cũng chính là định hƣớng quan
trọng khi phân tích tổ chức.
Nhƣ vậy, về mặt nguyên lý một tổ chức hiếm khi mang trong mình nó mục
tiêu riêng biệt mà nó là một công cụ để thực hiện các mục tiêu khác nhau. Chính vì
vậy, các tổ chức NC&TK phải đƣợc thiết kế trên cơ sở những luận chứng khoa học,
những mục tiêu xác định, phù hợp yêu cầu của đời sống xã hội.
1.1.3.Tổ chức nghiên cứu và triển khai
Từ những khái niệm tổ chức và khái niệm nghiên cứu và triển khai, chúng ta
có thể đƣa ra định nghĩa tổ chức NC&TK nhƣ sau:
17
Tổ chức nghiên cứu và triển khai là tổ chức đƣợc thành lập ra với mục tiêu
thực hiện những công việc có tính sáng tạo và hệ thống đƣợc tiến hành nhằm tăng
cƣờng khối kiến thức, bao gồm kiến thức về con ngƣời, văn hoá và xã hội, và việc
sử dụng các kiến thức đó để tạo ra những áp dụng mới.
Nói cách khác, Tổ chức nghiên cứu và triển khai là tổ chức đƣợc thành lập ra
để thực hiện mục tiêu nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm.
Hiện nay, các tổ chức NC&TK phải gắn với thị trƣờng, với sản xuất của xã
hội, nghiên cứu những vấn đề sản xuất và xã hội cần mà còn phải kết hợp nghiên
cứu với đào tạo.
Điều đó biểu hiện khoa học và mọi hoạt động của tổ chức NC&TK đều bắt
đầu từ những nhu cầu khách quan của đời sống xã hội, hƣớng vào việc thỏa mãn các
nhu cầu bằng các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu. Ngoài ra, tổ chức NC&TK
không quên nhiệm vụ đào tạo đội ngũ kế cận cũng nhƣ nâng cao trình độ của cán bộ
nghiên cứu. Theo đó toàn bộ tiềm lực nghiên cứu khoa học phải đƣợc xây dựng
Tổ chức NC&TK cấp cơ sở chủ yếu thực hiện các hoạt động KH&CN theo
mục tiêu, nhiệm vụ do tổ chức, cá nhân thành lập xác định.
1.1.6. Điều kiện thành lập và đăng ký hoạt động của các tổ chức NC&TK
Trong Luật KH&CN đã quy định rõ các tổ chức KH&CN sau khi thành lập
phải đăng ký hoạt động tại các cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền là Bộ KH&CN và
các Sở KH&CN tại các địa phƣơng nơi tổ chức NC&TK có trụ sở chính.
Tổ chức NC&TK đƣợc thành lập khi có đủ các điều kiện sau:
- Mục tiêu, phƣơng hƣớng hoạt động phù hợp với quy định của pháp luật.
Các mục tiêu, phƣơng hƣớng hoạt động này không vi phạm các điều cấm của Luật
KH&CN.
19
- Điều lệ tổ chức và hoạt động: Tổ chức NC&TK phải có điều lệ tổ chức và
hoạt động do cơ quan, tổ chức quyết định thành lập phê duyệt và ban hành. Trong
trƣờng hợp có uỷ quyền của cơ quan, tổ chức quyết định thành lập thì cơ quan, tổ
chức quản lý trực tiếp của tổ chức NC&TK đƣợc phê duyệt, quyết định ban hành
điều lệ.
- Đối với tổ chức NC&TK do cá nhân thành lập, điều lệ phải có chữ ký của
cá nhân đó.
- Đối với tổ chức NC&TK thành lập dƣới hình thức hợp tác, liên kết, điều lệ
phải có chữ ký của các bên hợp tác, liên kết.
- Nhân lực KH&CN, cơ sở vật chất - kỹ thuật đáp ứng yêu cầu theo mục tiêu,
phƣơng hƣớng hoạt động và Điều lệ tổ chức và hoạt động.
- Về nhân lực KH&CN: Đối với mỗi tổ chức NC&TK phải có ít nhất bốn
ngƣời có trình độ đại học trở lên, trong đó có ít nhất một ngƣời có trình độ chuyên
môn thuộc lĩnh vực xin đăng ký hoạt động. Mỗi một tổ chức NC&TK phải có ít
nhất hai ngƣời làm việc theo chế độ chính nhiệm.
- Về cơ sở vật chất - kỹ thuật: Cơ sở vật chất - kỹ thuật của tổ chức NC&TK
bao gồm nhà xƣởng, thiết bị văn phòng, máy móc thiết bị, các phƣơng tiện vật chất
- kỹ thuật khác và vốn bằng tiền mặt. Tuy nhiên quy định nhƣ trên có thể là quá cao
Kiểm tra là quá trình đo lường hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức
trên cơ sở các tiêu chuẩn đã được xác lập để phát hiện những ưu điểm và hạn chế
nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp giúp tổ chức phát triển theo đúng mục tiêu.
Từ định nghĩa trên nội hàm khái niệm kiểm tra bao gồm:
+ Xác lập các tiêu chuẩn
+ Đo lƣờng kết quả để phát hiện ƣu điểm và nhƣợc điểm
+ Các giải pháp phù hợp (phát huy ƣu điểm, điều chỉnh sai lệch và sửa chữa sai
lầm)
+ Mục đích của kiểm tra là để tổ chức vận hành theo đúng mục tiêu.
1.2.2. Đặc điểm và vai trò của kiểm tra
* Đặc điểm của kiểm tra trong quản lý
- Kiểm tra là một quá trình.
- Kiểm tra là một chức năng của quy trình quản lý.
21
- Kiểm tra thể hiện quyền hạn và trách nhiệm của nhà quản lý đối với hiệu
lực và hiệu quả của tổ chức.
- Kiểm tra là một quy trình mang tính phản hồi.
* Vai trò của kiểm tra trong quản lý
Kiểm tra có vai trò quan trọng trong quản lý, điều đó đƣợc thể hiện ra ở
những khía cạnh sau:
- Thông qua kiểm tra mà nhà quản lý nắm đƣợc nhịp độ, tiến độ và mức độ
thực hiện công việc của các thành viên trong một bộ phận của tổ chức và của các bộ
phận trong tổng thể cơ cấu tổ chức. Thông qua kiểm tra ngƣời quản lý nắm và kiểm
soát đƣợc chất lƣợng các công việc đƣợc hoàn thành, từ đó phát hiện những ƣu
điểm và hạn chế trong toàn bộ hoạt động của tổ chức và quy trình quản lý để từ đó
đƣa ra các giải pháp phù hợp hƣớng tới việc thực hiện mục tiêu.
- Kiểm tra cung cấp các căn cứ cụ thể để hoàn thiện các quyết định quản lý.
Nhờ có kiểm tra mà nhà quản lý biết đƣợc quyết định, mệnh lệnh đƣợc ban hành có
phù hợp hay không, từ đó có sự điều chỉnh.
kiểm tra nhƣ tài chính, chất lƣợng, kết quả thực hiện các mục tiêu phức tạp.v.v.
- Căn cứ vào nội dung hoặc đối tượng kiểm tra
Tuỳ thuộc vào các loại hình tổ chức mà có những dạng kiểm tra cụ thể:
+ Kiểm tra sản xuất
+ Kiểm tra tài chính
+ Kiểm tra nhân sự
+ Kiểm tra nguyên liệu
+ v.v.
- Căn cứ vào tần suất của kiểm tra
23
+ Kiểm tra đột xuất
Kiểm tra đột xuất là hình thức kiểm tra không báo trƣớc về thời gian, nội
dung và phƣơng thức. Mục đích của hình thức kiểm tra này nhằm đảm bảo tính
khách quan của kết quả thu đƣợc.
+ Kiểm tra định kì
Kiểm tra định kì là hình thức kiểm tra thƣờng xuyên nhằm đảm bảo tính ổn
định trong hoạt động của đối tƣợng.
- Căn cứ vào phạm vi của kiểm tra
+ Kiểm tra tổng thể
+ Kiểm tra bộ phận
+ Kiểm tra trọng điểm
- Căn cứ vào các chức năng của quản lý:
+ Kiểm tra công tác kế hoạch
Kiểm tra công tác kế hoạch bao gồm các hoạt động kiểm tra việc tuân thủ
các quy trình, nguyên tắc lập kế hoạch.
+ Kiểm tra công tác tổ chức
Kiểm tra công tác tổ chức là kiểm tra những hoạt động liên quan đến việc
thiết lập quan hệ quyền lực - trách nhiệm, phân công công việc, xác định biên chế
và quản lý nhân lực.