ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ HẢI TRANG
NHẬN DIỆN RÀO CẢN THỰC HIỆN CƠ CHẾ LIÊN KẾT
TRÁCH NHIỆM GIỮA NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP VÀ
CỘNG ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ XUNG ĐỘT
MÔI TRƯỜNG DO TÁC ĐỘNG CỦA RÁC THẢI ĐIỆN TỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC.
Chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ
Hà Nội - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ HẢI TRANG
1.2. Xung đột môi trường và các khái niệm liên quan 12
1.3. E-waste và các khái niệm liên quan 22
1.4. Cơ chế liên kết trách nhiệm giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong
xử lý xung đột môi trường 31
1.4.1. Vai trò của nhà nước trong xử lý xung đột môi trường 31
1.4.2. Vai trò của doanh nghiệp trong xử lý xung đột môi trường 31
1.4.3. Vai trò của cộng đồng trong xử lý xung đột môi trường 32
1.4.4. Cơ chế liên kết trách nhiệm giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng
trong xử lý xung đột môi trường 33
1.5. Trách nhiệm xử lý xung đột môi trường từ lý thuyết quản lý tài sản dùng
chung của Elinor Ostrom 34
1.6. Đạo đức sinh thái và đạo đức bền vững 37
1.7. Lệch chuẩn đạo đức bền vững 40
CHƯƠNG 2: TRÁCH NHIỆM XỬ LÝ XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG DO E-
WASTE CỦA NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP VÀ CỘNG ĐỒNG TẠI VN 43
2.1.Trách nhiệm giải quyết xung đột môi trường do e-waste của cơ quan quản lý
nhà nước 43
2.1.1. Hệ thống pháp luật quốc tế về xử lý e-waste 43
2.1.2. Hệ thống luật pháp Việt Nam về quản lý e-waste 44
2.1.3. Cơ chế thực thi và giám sát luật pháp về quản lý e-waste 47
2.2. Trách nhiệm giải quyết xung đột môi trường do e-waste của doanh nghiệp 49
2.2.1. Trách nhiệm của doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện tử 49
2.2.2. Trách nhiệm của các cơ sở thu gom e-waste 53
2.2.3. Trách nhiệm của cơ sở tái chế e-waste 55
2.2.4. Trách nhiệm của cơ sở xử lý e-waste 58
2.3. Trách nhiệm giải quyết XĐMT do e-waste của cộng đồng 60
2.4. Thực trạng xung đột môi trường do e-waste tại Việt Nam 62
2.5. Thực trạng liên kết trách nhiệm giữa ba bên trong giải quyết xung đột môi
trường do e-waste 79
CHƯƠNG 3: RÀO CẢN THỰC HIỆN CƠ CHẾ LIÊN KẾT TRÁCH NHIỆM
PTBV: phát triển bền vững
TNTN: tài nguyên thiên nhiên
UNEP: United Nations environment program (Chương trình
môi trường của Liên hiệp Quốc)
VN: Việt Nam
XĐMT: xung đột môi trường
Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tên đề tài: Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa nhà
nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường
do tác động của rác thải điện tử
2. Lý do nghiên cứu
Công nghiệp điện tử đã tạo nên một cuộc cách mạng trên khắp thế giới, ở đó
các thiết bị điện tử đã đi vào cuộc sống thường nhật và đóng vai trò không thể thiếu
trên khắp địa cầu. Người ta cũng không thể nghĩ đến một cuộc sống hiện đại với quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm thay đổi diện mạo của các quốc gia nếu không
có các sáng chế điện tử xuất hiện. Song nền công nghiệp này cũng đưa tới một loại
hình rác thải mới: e-waste, một trong những nguồn chất thải đáng lo ngại cho sự phát
triển của nhân loại trong hiện và tương lai.
Theo báo cáo về thực trạng xử lý rác điện tử "Recycling from E-Waste to
Resources" của Chương trình môi trường - Liên Hợp Quốc vừa công bố ngày
22/2/2010, ngay trước cuộc họp của Hội đồng điều hành Chương trình Môi trường
Liên Hợp Quốc đã ước tính: Tại Liên minh Châu Âu các thiết bị điện tử được đưa vào
thị trường năm 2005 đã lên tới hơn 9.3 triệu tấn với tốc độ đáng lưu tâm, đặc biệt ở
bị điện tử xếp loại "rác điện tử" có nhu cầu được thải bỏ hằng năm, theo thống kê của
Tổ chức hoàn trả đồ điện tử của San Francisco, nhưng chỉ 12% số đó được tái chế.
E-waste xuất sang các quốc gia châu Á được gắn mác "để tái chế", trong khi đó
khả năng kiểm soát dạng rác thải này ở VN còn nhiều hạn chế, do vậy một lượng
không nhỏ rác thải đã được đưa vào nội địa. Đến nay lượng e-waste về các quốc gia
đang phát triển tại châu Á vẫn không ngừng gia tăng bởi giá nhân công rẻ, các qui định
về nghề nghiệp và môi trường còn lỏng lẻo, và cuối cùng chính do tính hợp pháp trong
việc xuất khẩu rác thải điện tử của một số quốc gia phát triển. Là một quốc gia đang
phát triển trong giai đoạn toàn cầu hóa, bên cạnh những cơ hội, lợi thế trong việc đón
đầu công nghệ tiên tiến và hiện đại của các nước phát triển, VN cũng đồng thời đối
diện với nguy cơ là điểm đến của rác thải công nghệ từ các quốc gia khác dưới nhiều
hình thức khác nhau. Như vậy lượng rác thải mà VN phải hứng chịu không chỉ là
kết quả của việc tiêu thụ thiết bị điện tử trong nước mà còn xuất phát từ nguồn
nhập khẩu không được kiểm soát một cách chặt chẽ.
Theo UNEP, các nước phát triển là những nước thải rác điện tử nhiều nhất. Riêng
tại Mỹ hàng năm có đến 14-20 triệu máy tính cá nhân bị loại bỏ. Theo tổ chức BVMT
Mỹ, trong năm 2005, người tiêu dùng Mỹ đã thải ra gần 2 triệu tấn rác điện tử. Tại
nước Anh mỗi năm có khoảng 1,5 triệu chiếc máy tính bị thải ra bãi rác tương đương
125.000 tấn thiết bị tin học. Canada năm 2005 thải ra 67.000 tấn máy tính, máy in,
điện thoại di động là những thứ rác điện tử chứa nhiều hóa chất độc. Tại các nước
đang phát triển lượng rác điện tử sẽ tăng gấp 3 lần vào năm 2011. Còn số điện thoại
di động thì sẽ vượt ngưỡng 2 tỷ chiếc vào năm 2012 trên thế giới, trong khi tuổi đời sử
dụng của chúng chỉ khoảng 2 năm. Bất chấp các quy định ngặt nghèo của các quốc
gia phát triển, các công ước quốc tế về xử lý rác thải điện tử, hiện nay các bãi rác
tập trung đồ phế thải điện tử tại các nước đang phát triển vẫn trở thành một
trong những nhân tố gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Sự gia tăng của e-waste trên toàn thế giới nói chung, và mức độ nguy hại của
chúng với xã hội ngày càng được khẳng định đã làm nảy sinh các XĐMT liên quan
đến loại rác này ở các cấp độ từ địa phương, quốc gia đến vùng và liên vùng… Thực tế
nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng thực tế cho thấy bài toán môi trường chưa
thực có lời giải đáp. Theo tổ chức Greenpeace, chỉ có khoảng 10% lượng máy tính cũ
hỏng được tái chế; tỷ lệ điện thoại di động cũ hỏng được tái chế còn thấp hơn, chỉ
khoảng từ 2%-3%. Nói cách khác, tỷ lệ rác thải điện tử không được tái chế lên tới
91%… Khi những loại rác này bị đốt cháy - phương pháp xử lý thường thấy nhất -
chúng có thể giải phóng khói độc, còn các hóa chất như bari và thủy ngân sẽ ngấm
vào đất.Vừa qua, tại Bờ Biển Ngà, đă có ít nhất 10 người chết và hơn 70.000 người
phải điều trị vì hơi độc phát ra từ bãi rác chôn quanh vùng Abidjan.
Không là một ngoại lệ, VN cũng cho thấy nhiều nỗ lực dù chưa thực sự hiệu quả
từ phía các thiết chế nhà nước, thiết chế doanh nghiệp và thiết chế cộng đồng trong
việc giải quyết các XĐMT do rác thải công nghệ gây ra. Các nhà hoạch định chính
sách vẫn nỗ lực đưa ra các chính sách nhằm quản lý hoạt động BVMT nói chung, quản
lý e-waste nói riêng một cách có hiệu quả hơn, các doanh nghiệp vẫn mong muốn thu
được lợi nhuận tốt nhất từ các sản phẩm của mình mà vẫn đảm bảo được các tiêu
chuẩn của nhà nước, cộng đồng mong muốn muốn được hưởng thụ các sản phẩm công
nghệ cao song lại không hài lòng về chất lượng môi trường sống … Rõ ràng các thiết
chế này vẫn chưa tìm thấy một cách thức liên kết trách nhiệm nhằm phát huy sức
mạnh của tổng thể hệ thống xã hội cho quá trình phát triển bền vững. Vì vậy, thực tế
XĐMT do rác thải điện tử vẫn chưa được nhìn nhận dưới dạng các cơ hội cho phát
triển theo quan điểm của nhà kinh tế học Steiner (Đức) “Bằng cách hành động ngay từ
bây giờ và lập kế hoạch cho tương lai, nhiều quốc gia có thể biển những thách thức từ
rác điện tử thành cơ hội kinh tế”.
Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa
nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi
trường do tác động của rác thải công nghệ” là để nhìn nhận được các rào cản trong
quá trình liên kết trách nhiệm giữa các thiết chế xã hội thông qua việc mô tả các kiến
tạo xã hội đặc thù từ XĐMT do rác thải công nghệ tại VN. Qua đó góp phần đem lại
một tiếp cận dung hòa cho việc hình thành các cầu nối chính sách từ hoạch định đến
thực thi trong đời sống xã hội một cách hiệu quả hơn.
3. Lịch sử nghiên cứu
Cho đến nay nghiên cứu về rào cản trong các lĩnh vực BVMT, an ninh môi trường
hiện còn khá ít ỏi. Những nghiên cứu về rào cản trong quản lý XĐMT còn hiếm hoi
hơn. Nghiên cứu về XĐMT ở VN từ một thập niên trở lại đây trở thành một chủ đề thu
hút được sự quan tâm của nhiều học giả. Theo Vũ Cao Đàm “XĐMT đáng được xem là
một chủ đề quan trọng hàng đầu trong xã hội học mội trường và thực tiễn hoạch định
chính sách và quản lý môi trường. Cũng chính vì vậy, XĐMT ngày càng trở nên một
phạm trù khoa học có ý nghĩa then chốt trong các nghiên cứu lý thuyết của bộ môn
khoa học về xã hội học môi trường [18, tr.37]
Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như: “Giải quyết XĐMT trong các làng
nghề - nội dung tất yếu của quản lý môi trường”, Vũ Cao Đàm, 2000; “Vai trò của
cộng đồng dân cư và tổ chức xã hội trong việc thực hiện chính sách môi trường tại
VN”, Bạch Tân Sinh; “XĐMT nguyên nhân và giải pháp”, Nguyễn Quang Tuấn, 2000.
Bài viết đặc biệt nhấn mạnh “Cơ chế chính sách yếu kém cũng là nguyên nhân làm gia
tăng các XĐMT. Trong đó quyền sử dụng các tài sản môi trường không được xác định
rõ là một nguyên nhân trọng yếu. Sự phát triển của khoa học - công nghệ cũng như sự
gia tăng dân số đã làm gia tăng tốc độ khai thác tài nguyên dẫn đến gia tăng tính khan
hiếm của tài nguyên. Kết quả là sự gia tăng khả năng XĐMT, đặc biệt đối với những
tài nguyên mà ở đó quyền sử dụng không được xác định rõ”; “Chính sách quản lý môi
trường đối với việc giải quyết XĐMT”, Lê Thanh Bình, 2000. Bài nghiên cứu nhằm
tìm kiếm cơ sở thực tiễn và lý luận cho việc giải quyết XĐMT dựa trên các đề xuất
trong chính sách quản lý môi trường tại VN.
Trong nghiên cứu “Quản lý chất thải rắn tại VN”, Nguyễn Thảo, Đại học
Colombia phân tích: Trong thập kỉ trước, tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ cùng với
quá trình đô thi hóa không được kiểm soát chặt chẽ đã đưa đến một loạt các vấn đề cho
hệ thống quản lý chất thải rắn của VN, quản lý chất thải đang đứng trước những thách
5
thức về môi trường nghiêm trọng. Không chỉ là sự tăng lên của lượng chất thải, mà các
thành phần chất thải cũng đã có những biến đổi rất khác so với trước đây. Hệ thống
quản lý hiện tại đã bị quá tải do thiếu năng lực thể chế, nhân lực, nguồn lực tài chính
nói chung gây ra.
Diễn đàn Thiết bị điện và điện tử (The WEEE Forum) là hiệp hội lớn nhất tại
Châu Âu với hệ thống thu gom và tái chế e-waste thông qua nguyên tắc tối ưu về quy
định trách nhiệm của người sản xuất. Diễn đàn được thành lập vào tháng 4 năm 2002
đúng vào thời điểm Hướng dẫn số 2002/96/EC về thiết bị điện và điện tử đầu tiên
được đưa ra thảo luận trước Nghị viện Châu Âu và Hội đồng liên minh Châu Âu. Với
40 thành viên, tổ chức này đã thu gom được 1,5 tấn hệ mét e-waste trong năm 2008
chiếm một nửa số lượng e-waste thu gom được thống kê báo cáo một cách chính thức
trên toàn Châu Âu. Mục tiêu hoạt động của tổ chức này là tiếp tục hoàn thiện các hoạt
động có yếu tố môi trường trong các quy định và khung pháp lý hiện có nhằm giảm
thiểu chi phí cho người sản xuất, chia sẻ các kinh nghiệm đạt được cho toàn bộ thành
viên trong hệ thống, nâng cao hơn nữa năng lực thu gom và tái chế cho các thành viên.
Sự ra đời của một hệ thống quốc tế chuyên biệt về e-waste cho thấy tầm quan trọng
của vấn đề này trong giai đoạn hiện nay, cũng như việc thúc đẩy những nỗ lực của các
6
bêen trong việc giảm thiểu những sức ép môi trường do ngành công nghiệp điện tử gây
ra. Các thành viên của diễn đàn về e-waste đã đóng góp tích cực vào quá trình giảm
thiểu các XĐMT do e-waste tạo ra giữa các đương sự: nhà nước, doanh nghiệp và
cộng đồng thông qua việc hoàn bị các nguyên tắc định hướng chính sách có liên quan.
Nghiên cứu về xung đột môi tường do e-waste được đặc biệt quan tâm trong thế kỉ
XXI với sự tiến bộ vượt bậc của các thành tựu về KH&CN. Các nghiên cứu gần đây
cho thấy phần lớn mối nguy hại do rác thải điện tử gây ra đối với đời sống con người
đều được nhận thức ít nhiều ở đại bộ phận xã hội. Nghiên cứu cũng cho hay đến nay e-
waste không chỉ là một mối đe dọa của tương lai như những ước đoán trước đây của
nhiều chuyên gia.
2
Nó đã trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt hàng ngày của
cộng đồng, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, hoạt động quản lý của các cơ
quan nhà nước, hoạt động xã hội của các tổ chức dân sự.
3
“E-waste: Environmental Problems and Current Management “G. Gaidajis*, K. Angelakoglou and D. Aktsoglou
Department of Production Engineering and Management, School of Engineering, Democritus University of Thrace, 67100,
Xanthi, Greece (Journal of Engineering Science and Technology Review 3 (1) (2010) 193-199)
4
Brian Crisma công tác tại Khoa Kĩ thuật môi trường tại Đại học Philippine. Trong nghiên cứu này, các tác nhân ảnh hưởng
đến hoạt động quản lý e-waste được nhìn nhận ở hai chiều cạnh. Tác nhân tích cực đối với các biện pháp quản lý e-waste
bao gồm: quy định của các nước nhập khẩu, sức ép bên trong và bên ngoài đối với công nghiệp điện tử, sáng kiến e-waste tại
địa phương, và các điều kiện thị trường, các điều kiện địa lý, công nghiệp khai khoáng đô thị, mức giá của kim loại, nguồn
cung nhân công dư thừa, giá rẻ và nhu cầu về công nghiệp điện tử nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp;
Tác nhân tiêu cực đến các biện pháp quản lý e-waste gồm: thiếu vắng các quy định của pháp luật, sự không đồng thuận đối
với các quy định bổ sung của công ước Basel, sự tồn tại các quan ddierm song phương và đa phương giữa các nước có giao
dịch thương mại, nhận thức về các vấn đề môi trường còn yếu, thiếu nhận thức đầy đủ trong thi hành pháp luật, chuỗi
cung cấp e-waste nội địa không đầy đủ, sự cạnh tranh giữa khu vực chính thức và phi chính thức trong thị
trường thiết bị điện tử.
7
nhân tích cực và tiêu cực đối với quản lý e-waste, qua đó đưa ra những gợi ý chính
sách nhiều triển vọng cho Philipine.
Hơn 20 năm phát triển kinh tế không kiểm soát đã đặt áp lực lớn tới nguồn tài
nguyên giới hạn của đất nước Nhật Bản và sức khỏe của người dân ở nhiều vùng bị đe
dọa nghiêm trọng. Đối phó với tình hình này chính phủ Nhật đặt ra những tiêu chuẩn
môi trường rất nghiêm ngặt liên quan đến sự phát thải công nghiệp. Chính phủ đã ban
hành những biện pháp hợp tác nhiều hơn là đối đầu với công nghiệp, mức độ tuân thủ
môi trường ở Nhật nằm trong mức cao nhất thể giới. Chính phủ Nhật được đánh giá là
một trong những quốc gia tiên phogn trong hoạt động xử lý e-waste. Minh chứng rõ
ràng nhất là việc ban hành các điều luật quy chuẩn khắt khe về hoạt động này. Điều
luật Tái chế một số thiết bị gia dụng đặc thù được ban hành ngày 1/4/2001 một là ví dụ
về nỗ lực thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên và năng lượng giá trị, cũng
như giảm thiểu lượng rác thải nguy hại thông qua hoạt động tái chế
về Quản lý Chất thải nguy hại và e-waste ở các nước phát triển¸ trong đó tác giả có đề
cập đến tốc độ tăng nhanh chóng của e-waste tại VN, cũng như thách thức của quản lý
e-waste tại VN nói riêng và các quốc gia ở khu vực Mekong. Vấn đề về e-waste tại
VN cũng được đề cập đến trong Báo cáo của Dự án về Quản lý xuất nhập khẩu rác thải
5
The Law for Recycling of Specified Kinds of Home Appliance was put into effect on April 1, 2001
6
8
điện tử và thiết bị điện và điện tử đã qua sử dụng” của Trung tâm phối hợp thực hiện
công ước Basel tại Châu Á Thái Bình Dương. Nghiên cứu này đưa ra những tiêu chí
phân biệt giữa e-waste với các thiết bị điện và điện tử đã qua sử dụng, từ đó đề xuất
việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý hoạt động xuất nhập khẩu loại
hình rác thải đặc biệt này. Năm 2005 đề tài cấp “Phân loại chất thải rắn ngành công
nghiệp điện tử trên địa bàn Hà Nội, đề xuất giải pháp quản lý và công nghiệp nhằm
tận thu, tái sử dụng” của Huỳnh Trung Hải đã đặt thêm một dấu mốc cho thấy sự e-
waste đã và đang trở thành một đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu.
Nghiên cứu này đi đến những nỗ lực về giải pháp công nghệ nhằm giải quyết việc tận
thu và tái sử dụng e-waste hơn là tìm ra phương thức xử lý e-waste một cách toàn diện.
Năm 2009 đề tài “Phát triển công nghệ tái chế chất thải điện tử và thiết bị điện tử” tài
trợ bởi Dự án hợp tác với Viện Tài nguyên và Khoáng sản Hàn Quốc (KIGAM) cũng
cho thấy cách tiếp cận tương tự trong quản lý e-waste tại VN.
Trong bài báo “Vấn đề rác thải điện tử (Ewaste) – XĐMT giữa các nước công
nghiệp và các nước đang phát triển” của Trương Việt Trường đăng tải trên Tạp chí
Môi trường Số 8/2011, Hà Nội nêu bật vấn đề về XĐMT do rác thải điện tử gây ra
giữa hai bên đối kháng: các nước phát triển và các nước đang phát triển. Qua các phân
tích về thực trạng e-waste ngày càng gia tăng và có xu hướng nhập khẩu vào các nước
đang phát triển như VN, tác giả nhận diện các tác động về kinh tế, về xã hội, môi
o Nhận diện được các rào cản cho cơ chế liên kết trách nhiệm trong xử lý
XĐMT do e-waste tại VN
5. Phạm vi nghiên cứu và mẫu khảo sát
- Phạm vi về thời gian: Chuỗi sự kiện được đề cập trong nghiên cứu nằm trong
khoảng thời gian từ năm 2000 – 2011.
- Phạm vi không gian: Các sự kiện về XĐMT do e-waste gây ra tại VN
- Mẫu khảo sát: Các số liệu và biểu đồ được phân tích và tổng hợp từ số liệu cung
cấp bởi Tổng cục Thống kê VN, các nghiên cứu về thực trạng e-waste tại các nước
Châu Á, các báo cáo của các tổ chức quốc tế về quản lý và tái chế chất thải điện tử
tại VN và trên thế giới. Mẫu khảo sát gồm các cơ quan quản lý môi trường tại VN,
các doanh nghiệp sản xuất, thu gom và tái chế e-waste và những người dân chịu tác
động của việc xử lý e-waste không đúng cách tại VN.
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu chỉ tập trung làm rõ các dạng XĐMT do tác động
của e-waste, đây là một bộ phận của rác thải công nghệ nói chung. Nghiên cứu
cũng giới hạn phạm vi về rào cản liên kết trách nhiệm trong hoạt động xử lý
XĐMT bởi tác động của e-waste.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm của nhà nước, doanh nghiệp và
cộng đồng trong việc xử lý XĐMT do e-waste gây ra tại VN là gì?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Vấn đề cốt lõi của sự bất hợp tác trong xử lý XĐMT do e-waste gây ra tại VN
giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng cốt yếu được nhìn nhận trong nghiên
cứu này là các lệch chuẩn đạo đức bền vững của các bên liên quan trong quá trình
giải quyết xung đột.
Sự bất hợp tác trong xử lý xung đột hay rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách
nhiệm của nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong xử lý XĐMT do e-waste tại
VN gồm:
- Hạn chế về nguồn lực xã hội trong nỗ lực giải quyết XĐMT do e-waste
- Xung đột lợi ích giữa các nhóm xã hội trong giải quyết vấn đề rác thải và điện tử
- Các dạng lệch chuẩn đạo đức bền vững
Chương 1: Cơ sở lý luận về XĐMT, e-waste và các thiết chế nhà nước, doanh nghiệp
và cộng đồng
Chương 2: Trách nhiệm xử lý XĐMT do e-waste của nhà nước, doanh nghiệp và cộng
đồng tại VN
Chương 3: Rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa nhà nước, doanh nghiệp
và cộng đồng trong giải quyết XĐMT do e-waste tại VN
PHẦN KẾT LUẬN
Phụ lục
11
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN, XĐMT, E-WASTE VÀ
CÁC THIẾT CHẾ NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP VÀ CỘNG ĐỒNG
1.1. Khái niệm rào cản và phân loại
Định nghĩa rào cản được đề cập đến trong một số từ điển với nội hàm chỉ những
đối tượng vật chất, hoặc những vật thể được sử dụng để tách biệt, phân định ranh giới,
hoặc là các chướng ngại vật nói chung
7
(Theo từ điển bách khoa toàn thư Merriam
Webster). Theo từ điển Ngôn ngữ tiếng Anh
8
, rào cản có thể giải thích theo 7 ý nghĩa,
như một dạng cấu trúc vật chất được xây dựng để ngăn trở việc vượt qua; là yếu tố phi
vật chất với vai trò ngăn cản, gây trở ngại; trong lĩnh vực sinh lý học rào cản là một
lớp màng, lớp mô, hoặc một cơ chế có khả năng ngăn cản quá trình chuyển đổi của
một số chất; trong lĩnh vực sinh thái học rào cản là yếu tố vật lý hoặc sinh học giới hạn
sự di cư, sự giao phối hoặc những hành động tự do của các cá nhân hoặc cộng đồng;
rào cản có thể là một làn ranh giới hoặc giới hạn, hoặc là thứ có khả năng tách biệt
The American Heritage® Dictionary of the English Language, Fourth Edition copyright ©2000 by Houghton Mifflin
Company. Updated in 2009. Published by Houghton Mifflin Company
9
Kernerman English Multilingual Dictionary © 2006-2010 K Dictionaries Ltd: barrier: something put up as a defence or
protection a barrier between the playground and the busy road, something that causes difficulty His deafness was a barrier
to promotion.
12
khác. Rào cản môi trường xuất hiện do những trở ngại, chướng ngại trong môi trường
tự nhiên hoặc xã hội cản trở việc con người đạt được hoặc giải quyết được những vấn
đề trong đời sống.
Rào cản văn hóa xuất hiện khi những đặc trưng văn hóa biểu hiện qua hành vi được
cho là khác thường, nằm ngoài những dự liệu về cách ứng xử văn hóa thông thường
(theo tập tục, tập quán, theo nghi lễ, theo chuẩn mực xã hội ). Rào cản văn hóa tồn tại
khi việc giải quyết vấn đề gặp trở ngại bởi sự khác biệt giữa một bên cho rằng giải
pháp đó là phù hợp với thông lệ, trong khi bên còn lại có ý kiến hoàn toàn trái ngược.
Đứng trước một tình huống nan giải con người thường có thói quen tạo lập các giải
pháp hơn là tìm hiểu nguyên nhân cốt lõi của vấn đề (nếu một việc không hoàn thành
thì ngay lập tức người ta sẽ đặt câu hỏi tại vì sao việc đó lại không được hoàn thành
hơn là đặt câu hỏi vì sao việc đó cần phải hoàn thành). Con người là chủ thể sáng tạo
song cũng là những cá nhân không thích sự thay đổi bởi thay đổi thường liên quan đến
những yếu tố bất định, khó biết trước được kết quả có thể xảy ra. Bên cạnh những rào
cản mang tính văn hóa cá nhân, thì tồn tại những rào cản văn hóa mang tính đại chúng
như rào cản do niềm tin, rào cản do định kiến, rào cản giữa hợp tác và bất hợp tác, rào
cản do những điều cấm kỵ, rào cản do khác biệt về giá trị.
Lý thuyết về rào cản bên cạnh sự đa dạng và phong phú trong cách phân tích và
diễn giải khái niệm, thì việc phân loại rào cản và tìm hiểu về nguyên nhân của các rào
cản còn khá ít ỏi. Do vậy hiện nay rào cản được nhận diện là những trở ngại, khó khăn,
vướng mắc trong quá trình thiết kế và thực thi các giải pháp nhằm ngăn trở sự vượt
mặc cả và nhân nhượng trong khuôn khổ cam kết về lợi ích được đảm bảo giữa các
bên. Do đó có thể nhận định xung đột xã hội là các quan hệ và các quá trình xã hội
mà ở đó có thể phân biệt hai hay nhiều cá nhân, hay nhóm có sự đối lập nhau
trong những cách giải quyết vấn đề nhất định phát sinh từ sự không nhất trí về
nhận thức, mục tiêu, lợi ích và quyền lực. Trong bình diện chung về các dạng xung
đột xã hội, XĐMT nổi lên như một sự kiện gây nhiều chú ý của các học giả bởi tầm
quan trọng và tính cấp thiết của các vấn đề môi trường sau một giai đoạn phát triển
không kiểm soát của nền kinh tế thế giới.
Khoảng giữa những năm 1980 nhà nghiên cứu Arthur Westing
10
đã khơi dậy
những ý tưởng đầu tiên mở rộng khái niệm an ninh cổ điển sang bao hàm các vấn đề
mới như thay đổi khí hậu và cạn kiệt tài nguyên. Nghiên cứu của Westing mở đầu
bằng trường hợp các cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai, sau đó là
cuộc chiến Algeria, các cuộc chiến chinh phục thuộc địa, các vùng lãnh thổ, theo sau
là cuộc nội chiến, chiến tranh ly khai thập kỉ 90 của thế kỷ XX. Ông cho rằng, điểm
chung nổi bật của những cuộc chiến này là việc tranh giành tài nguyên thiên nhiên như
nước, khí đốt, ngư trường, sản phẩm từ đất và bản thân đất đai. Những cuộc tranh luận
có tính liên ngành trên diện rộng về khái niệm này gây ảnh hưởng mạnh mẽ trong giới
chuyên môn cũng như trong giới chính trị gia cho tới cuối thời kỳ chiến tranh lạnh.Vấn
đề hàng đầu lôi kéo sự quan tâm của giới nghiên lúc đó là tìm câu trả lời cho câu hỏi:
Có hay không và trong trường hợp nào môi trường sinh thái có thể đe doạ đến an ninh
quốc gia và an ninh toàn cầu?
Đầu những năm 1990 đánh dấu sự tham gia tích cực của các nghiên cứu thực
nghiệm về mối liên hệ giữa môi trường và xung đột, mà chủ yếu là về mối liên hệ nhân
quả giữa khan hiếm, suy kiệt môi trường với các cuộc xung đột tại các quốc gia đang
phát triển hoặc các quốc gia đang trong giai đoạn chuyển đổi. Dựa trên các trường hợp
nghiên cứu về mối liên hệ giữa tài nguyên có thể tái tạo với sự suy giảm môi trường và
các cuộc xung đột (kèm hành động bạo lực), phần lớn các giả thuyết cho rằng môi
trường đóng vai trò quyết định hành vi con người, và xung đột do sự khan hiếm nguồn
hai khía cạnh là hình thức và các mối liên hệ nhân quả. Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ
giới hạn ở những ví dụ thực chứng như đấu tranh vì nguồn nước, xung đột liên quan
đến tị nạn môi trường, hoặc những tranh cãi về vấn đề trách nhiệm trước sự biến đổi
khí hậu toàn cầu. Các giả định đều nhằm minh hoạ cho mối liên hệ nhân quả giữa
môi trường và xung đột, đồng thời họ tìm kiếm những bằng chứng thực tế để
chứng minh những giả định đó.
Stephan Libiszewski
13
đưa ra một tiếp cận mới nhằm làm rõ tính chất các nguyên
nhân môi trường dẫn đến xung đột cũng như mối liên hệ nhân quả giữa các tiến trình
sinh hoá trong tự nhiên và sự tăng lên của các xung đột giữa các nhóm xã hội. Stephan
nhận định “sự thay đổi môi trường do con người phải được hiểu là sự can thiệp làm
mất ổn định trạng thái cân bằng của hệ sinh thái”
14
. Sự can thiệp của con người buộc
hệ sinh thái chuyển dịch sang vị trí cân bằng mới, tuy nhiên trạng thái này là sự tự điều
chỉnh của tự nhiên đối với các nhân tố đã bị thay đổi, đó không hoàn toàn là sự chuyển
biến có lợi cho chất lượng sống của con người mà hệ quả của nó có thể là sự suy giảm
tài nguyên thiên nhiên. Điều cần lưu ý ở đây là thiên nhiên hay hệ sinh thái không tự
nó đánh giá được giá trị của mình, sự thay đổi môi trường do đó dẫn đến sự giảm sút
giá trị hay sự suy giảm tài nguyên là dựa trên quan điểm nhận thức của mỗi người. Do
vậy, khái niệm suy giảm môi trường là sự thay đổi môi trường do sự tác động của
con người tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội loài người là cách thể
hiện đúng đắn nhất những tư tưởng về nguyên nhân môi trường dẫn đến xung đột.
Theo Stephan Libiszewski XĐMT cần phải được phân biệt với các dạng xung đột
lợi ích khác trong xã hội
15
. Quan điểm về XĐMT của ông xuất phát từ việc phân biệt
sự khan hiếm trên bốn góc độ:
o Khan hiếm tự nhiên là dạng tài nguyên chỉ tồn tại với một lượng tài nguyên
nguồn lực có thể tái tạo song chúng trở nên khan hiếm do sự thất bại của con người
trong việc áp dụng các phương pháp duy trì bền vững trong hoạt động quản lý của
mình.
Trong quan điểm đánh giá của Carius và Imbusch về XĐMT thì những sự thay đổi
môi trường và sự tăng lên của các nguồn tài nguyên khan hiếm đóng vai trò quyết định
trong việc làm nảy sinh các xung đột. Tuy nhiên chỉ ngay sau đó, họ lại bổ sung: sức
ép của môi trường có thể che dấu xung đột hoặc cũng có thể dẫn đến hành vi bạo lực
sẽ phụ thuộc vào chuỗi các biến tình huống/điều kiện KT-XH bao gồm : yếu tố/khung
cảnh văn hóa và truyền thống, các nhân tố chủng tộc-chính trị, cơ chế xã hội dân sự
trong việc giải quyết các xung đột một cách hòa bình, sự ổn định của hệ thống chính
sách trong nước, nói chung đó là năng lực xã hội, thể chế, kinh tế và công nghệ.
Các cuộc tranh luận diễn ra trong suốt một thập kỉ giữa trường phái XĐMT và
những người chống đối những phát kiến của họ
16
. Tựu trung, các nghiên cứu nhằm
định nghĩa về XĐMT đều nhấn mạnh đến sự khan hiếm hoặc suy giảm tài nguyên là
nguyên nhân cốt lõi cho hiện tượng biến đổi môi trường dẫn đến các xung đột trong xã
hội loài người (cũng có một số người nhấn mạnh khía cạnh xã hội của XĐMT). Điều
này cũng đồng nghĩa là các nghiên cứu về khái niệm và sự phân loại XĐMT đều thể
hiện thông qua các thực thể nằm ngoài con người. Trong khi đó các nguồn lực dù
khan hiếm hay dồi dào chúng ta đều phải nhìn nhận đó là mối quan hệ giữa các
nhóm người và hệ sinh thái của họ, và do đó không thể phủ nhận sự khan hiếm
cũng sẽ bị quy định bởi sự phát triển của xã hội qua các thời kì
17
.
Như vậy có thể xác định XĐMT là hiện tượng xảy ra ở điểm giao thoa của
các nhân tố tự nhiên và xã hội, nó không hoàn toàn do nguồn lực tự nhiên chi phối
hay yếu tố chính trị, xã hội chỉ định.
Viện Khoa học Công nghệ châu Á (AIT) định nghĩa XĐMT là:
- Xung đột quyền lợi cộng đồng, vị trí nghề nghiệp và ưu tiên chính trị; là mâu
kháng giữa các nhóm xã hội trong khai thác và sử dụng các tài sản môi trường.
Ngoài ra, XĐMT còn liên quan đến những cuộc đấu tranh giữa các nhóm xã hội trong
việc phân phối lại các nguồn tài nguyên, phong trào đấu tranh BVMT sống, chống lại
những tác nhân gây ô nhiễm môi trường, chống lại những nhóm xã hội đã tước đoạt
lợi thế về môi trường trước các nhóm xã hội khác.
Từ các nghiên cứu về bản chất của XĐMT có thể nhận diện khái niệm này trên
bốn phương diện sau
18
:
- Xung đột do môi trường: môi trường sống của con người gồm các dạng tài
nguyên không thể tái tạo và tái tạo qua vòng quay sinh thái. Nhìn chung các dạng
tài nguyên luôn có mức giới hạn về lượng và chất, nó không thể đáp ứng/thỏa mãn
mọi nhu cầu sống ngày một đa dạng và tăng cao của con người. Xung đột nảy sinh
giữa loài người với giới tự nhiên vì sự khan hiếm tài nguyên nói chung, và do sự
phân bổ tự nhiên của các nguồn tài nguyên này.
- Xung đột vì môi trường: là dạng xung đột nảy sinh khi con người ý thức được các
quyền và lợi ích của họ gắn kết với các yếu tố môi trường bị đe dọa hoặc xâm
phạm bởi chủ thể khác. Các đương sự đấu tranh, hay tranh đoạt các nguồn lực tài
nguyên thiên nhiên nhằm đạt được lợi ích về kinh tế, hoặc nhu cầu về quyền lực
của mình. Có thể thấy sự hiện diện của dạng xung đột này qua tình huống một nhà
máy trong quá trình sản xuất xả chất thải xuống khu vực trồng trọt của người nông
dân khiến đất mất khả năng cung cấp các điều kiện sinh trưởng cho cây cối. Dạng
xung đột này cũng được nhìn nhận thông qua sự phân phối và tiếp cận các nguồn
lợi tài nguyên trong xã hội không bình đẳng giữa các nhóm người.
- Xung đột với môi trường: Trong hoạt động sống của mình loài người đã gây ra
những tác động phá hoại sự cân bằng sinh thái, ảnh hưởng tiêu cực đến các chức
năng môi trường, dẫn đến các biến đổi bất lợi cho sự sinh tồn và phát triển qua các
thế hệ. Môi trường và con người tồn tại trong mối quan hệ tương hỗ, điều này cũng
có nghĩa nếu những hoạt động của con người không đi ngược lại các quy luật của
tự nhiên, môi trường sẽ phát triển bền vững. Song thực tế cùng với sự tiến bộ về
của XĐMT không phải là một hiện tượng tiêu cực hoàn toàn. Xung đột không bao
hàm vũ lực là một bộ phận thiết yếu cho sự phát triển và biến đổi xã hội, việc giải
quyết xung đột phi bạo lực góp phần tạo dựng sự tin tưởng của các cá nhân, các nhóm
xã hội đối với thiết chế nhà nước, cộng đồng và các tổ chức xã hội nhằm hài hòa hóa
các quan hệ lợi ích.
Mặc dù khái niệm XĐMT được mô tả theo những cách khác nhau song hầu hết đều
thống nhất với nhau đó là sự xung đột về lợi ích giữa các nhóm xã hội trong khai thác
và sử dụng tài nguyên môi trường cụ thể là giữa các cộng đồng trong xã hội, giữa các
quốc gia, và giữa bảo tồn và phát triển. Trong nghiên cứu này khái niệm về XĐMT
được sử dụng làm nền tảng là: “XĐMT là xung đột về quyền lợi giữa các nhóm xã
hội khác nhau trong việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên môi
trường. Nhóm này muốn tước đoạt lợi thế của nhóm khác trong việc đấu tranh giữa
các nhóm để phân phối lại lợi thế về tài nguyên
19
”
Mức độ XĐMT
XĐMT tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau từ giai đoạn tiềm ẩn như sự khác nhau
trong mục đích, không tương hợp trong hành động dẫn đến sự hình thành của các
nhóm đối lập. Đến giai đoạn cao hơn là những mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong
khai thác sử dụng tài nguyên môi trường và chia sẻ nguồn lợi xuất hiện qua các sự
công khai cách thức hoạt động của các nhóm trên. Những mâu thuẫn này nếu không
được giải quyết, nó sẽ phát triển lên mức cao hơn, gay gắt hơn, dẫn đến việc các nhóm
tiến hành đấu tranh như mít tinh, biểu tình, khiếu kiện, và mức độ cao nhất là sự xuất
hiện của các cuộc xung đột có vũ trang làm mất ổn định chính trị và xã hội. Diễn trình
của XĐMT được phản ánh qua sự tương tác giữa các yếu tố môi tường và các tác nhân
kinh tế, chính trị, xã hội khác, trong đó mỗi hình thức kết hợp có thể biểu hiện cho
mọi cấp độ xung đột. 19
của mỗi loại hình xung đột này trong thực tế là khá hiếm hoi).
Các xung đột thuần túy do khan hiếm tài nguyên: XĐMT dạng này được giải
thích và dự báo bởi các lý thuyết cấu trúc chung (general structural theories). Xung
đột xảy ra khi các quốc gia tính toán lợi ích của mình tại tổng bằng 0 hoặc tại tổng lợi
ích giảm sút ngày càng tăng cao bởi sự khan hiếm tài nguyên. XĐ này đặc biệt được
lưu ý đối với ba loại tài nguyên cụ thể là nước sông, cá và đất sản xuất nông nghiệp.
Những tài nguyên có thể tái tạo này dường như có khả năng thổi bùng các cuộc xung
đột bởi tính chất khan hiếm của nó ngày càng tăng cao nhanh chóng ở một số khu vực,
20
E. Franklin Dukes, What We Know About Environmental Conflict Resolution: An Analysis Based on Research, Conflict
resolution quarterly, vol. 22, no. 1–2, Fall–Winter 2004 © Wiley Periodicals, Inc., and the Association for Conflict
Resolution
21
Vũ Cao Đàm, Tuyển tập các công trình đã công bố, 2009, NXB Thế giới
22
Environmental Scarcities and Violent Conflict: Evidence from Cases, Peace and Conflict Studies Program, University of
Toronto International Security, Vol. 19, No. I (Summer 1994), pp. 5-40
19
đặc biệt cần thiết cho sự sống của con người, và có thể được phân vùng và quản lý
trong thực tế. Tương tác đáp trả tích cực giữa xung đột và năng suất trong nông nghiệp
là một ví dụ điển hình cho thấy chuỗi cung cấp thức ăn bị giảm sút bởi biến đổi môi
trường có thể khiến các quốc gia phải tham gia các cuộc chiến, và chính các trận chiến
này tiếp tục góp phần làm giảm thiểu khối lượng lương thực.
Các xung đột từ nhóm đồng nhất: Từ các nghiên cứu thực nghiệm về XĐMT
Thomas cho rằng tồn tại những luận cứ thực tế mạnh ủng hộ giả thuyết về XĐMT bởi
sự di dân (di cư) dẫn đến những mâu thuẫn, đối kháng với nhóm đồng nhất. Sự di cư
tạo nên những tác nhân đặc trưng đối với hệ sinh thái-xã hội. Các chức năng giới tự
nhiên, của nền kinh tế, chính trị, văn hóa lúc này sẽ tác động đến mối liên hệ giữa
ninh quốc gia.
• Xung đột trong nước trực tiếp: Chưa có nhiều nghiên cứu chỉ ra khả năng về xung
đột trực tiếp do tiếp cận tài nguyên trong phạm vi một quốc gia. Điều này cũng dễ hiểu
khi thiết chế pháp luật quốc gia tham gia vào việc xử lý các xung đột trực tiếp ngay khi
vừa nảy sinh. Trường hợp tranh chấp về quyền sử dụng kênh đào ở sông Cauvery tại
20
Ấn Độ là một trong những ví dụ minh họa có tính chất điển hình về xung đột kèm bạo
lực trong nội bộ một quốc gia.
• Xung đột quốc tế gián tiếp: Xuất phát từ sự tranh chấp trực tiếp về quyền tiếp cận tài
nguyên, xung đột quốc tế có xu hướng gia tăng khi sự khan hiếm tài nguyên tương tác
với các yếu tố kinh tế, xã hội thổi bùng sự căng thẳng giữa các quốc gia. Các nhà
nghiên cứu dự báo khuynh hướng phát triểnđáng lo ngại, theo đó một lượng lớn diện
tích rừng nguyên sinh sẽ bị suy giảm, sự khai thác quá mức thủy hải sản, sự xói mòn
đất, sự ô nhiễm nguồn nước, sự biến đổi khí hậu, và một loạt những ảnh hưởng do suy
thoái môi trường và hệ sinh thái sẽ dẫn đến tình trạng di cư ở diện rộng, sự giảm sút về
sức khỏe và sự đeo bám của đói nghèo. Những hệ quả xã hội to lớn này sẽ tiếp tục
tương tác với những cuộc chiến còn đang âm ỉ giữa các quốc gia, hệ quả là sự bất bình
leo thang mà lối thoát sau cùng không gì khác hơn là các cuộc chiến. XĐMT quốc tế
gián tiếp được lý giải bởi hệ quả của sự biến đổi môi trường rộng lớn như sự ấm lên
của toàn cầu hay sự suy giảm tầng ozon.
• Xung đột trong nước gián tiếp: Khi XĐMT trong một quốc gia tăng lên do khan hiếm
môi trường tương tác với các bối cảnh xã hội nhất định sẽ tạo ra những điều kiện chín
muồi cho sự xuất hiện của xung đột. Tương tự như cách lý giải về XĐMT quốc tế gián
tiếp, XĐMT trong nước gián tiếp diễn ra khi cá tác nhân môi trường như suy thoái đất
đai, ô nhiễm đất nông nghiệp, và ô nhiễm nguồn nước làm trầm trọng thêm các vấn đề
xã hội khác như đói nghèo, phân hóa chủng tộc, di cư, và phân phối không đồng đều
về các nguồn lợi kinh tế và chính trị. Các nhà nghiên cứu đã làm rõ được mối liên hệ
giữa sự lan rộng của các vi sinh vật và các bệnh tryền nhiễm (khởi phát do các điều
kiện môi trường bị xuống cấp) với tình trạng sức khỏe về thể chất cũng như về kinh tế