Những khó khăn trong việc chuyển đổi các đơn vị R & D của ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách niệm và giải pháp khắc phục - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THANH BÌNH
NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG VIỆC CHUYỂN ĐỔI
CÁC ĐƠN VỊ R&D CỦA NGÀNH NĂNG LƯỢNG
NGUYÊN TỬ VIỆT NAM THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ
CHỊU TRÁCH NHIỆM VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội - 2010


ii
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4 U
1. Đặt vấn đề 4
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
3. Mục tiêu nghiên cứu 8
4. Phạm vi nghiên cứu 8
5. Mẫu khảo sát 9
6. Vấn đề nghiên cứu 9
7. Giả thuyết nghiên cứu 9
8. Phương pháp nghiên cứu 10
9. Kết cấu của luận văn 10
PHẦN NỘI DUNG 11
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 11
1.1. Hoạt động khoa học và công nghệ 11
1.1.1. Nghiên cứu (research - R) 11
1.1.2. Triển khai (Development - D) 14
1.1.3. Đổi mới công nghệ 15
1.1.4. Dịch vụ KH&CN 16
1.2. Cách tiếp cận phổ biến về hoạt động nghiên cứu và triển khai 18
1.3. Phân biệt khái niệm “Triển khai” và “Phát triển” trong quản lý KH&CN 18
1.4. Tự chủ và tự chịu trách nhiệm của tổ chức R&D 19
1.5. Khái niệm về chính sách 22
1.6. Chính sách cho các Viện R&D tự chủ, tự chịu trách nhiệm 25
1.7. Phân tích chính sách 30
Chương 2: PHÂN TÍCH NGHỊ ĐỊNH 115 VỀ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU
TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC KH&CN CÔNG LẬP VÀ
NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA CÁC ĐƠN VỊ R&D NGÀNH

3.1.2. Thúc đẩy thương mại hóa các sản phẩm KH&CN để tăng cường sự
gắn kết với sản xuất và đời sống, tăng nguồn thu ngoài NSNN 96
3.1.3. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật 97
3.1.4. Hình thành vốn lưu động 97
3.1.5. Đổi mới tổ chức và quản lý 98
3.1.6. Xây dựng lộ trình chuyển đổi phù hợp 98
3.1.7. Đa dạng hoá hình thức chuyển đổi 99
a) Cơ sở và nội dung giải pháp 99
b) Dự kiến các bước áp dụng 101
3.2. Một số ý kiến nhận xét, đánh giá về các giải pháp 102
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 112

2
Thank you for evaluating AnyBizSoft PDF Splitter.
A watermark is added at the end of each output PDF file.
To remove the watermark, you need to purchase the software from
/>DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATBX
ATHN
ĐHN
FNCA
IAEA
KH&CN
KPHĐTX
KT-XH
LPƯ
NCS
NDE

Đánh giá không hủy thể
Năng lượng nguyên tử
Ngân sách Nhà nước
Nghiên cứu và triển khai
Tổ chức hợp tác vùng châu Á - Thái bình dương
Sự nghiệp khoa học
Sản xuất, dịch vụ
Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội
Trung tâm Hạt nhân Tp. Hồ Chí Minh
Trung tâm Nghiên cứu và Triển khai Công nghệ Bức
xạ, Tp. Hồ Chí Minh
Trung tâm Đánh giá không hủy thể, Hà Nội
Trung tâm Ứ
ng dụng Kỹ thuật Hạt nhân trong Công
nghiệp, Đà Lạt
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên
hiệp quốc
Viện Công nghệ Xạ - Hiếm, Hà Nội
Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân, Hà Nội
Viện Nghiên cứu Hạt nhân, Đà Lạt
Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, Hà Nội

3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Ngày 05.9.2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2005/NĐ-CP quy
định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ
(KH&CN) công lập và ngày 05.6.2006 liên Bộ: KH&CN, Tài chính và Nội vụ đã
ban hành Thông tư liên tịch số 12/2006/TTLT/BKHCN-BTC-BNV Hướng dẫn thực
hiện Nghị định (sau đây xin gọi tắt là Nghị định 115 và Thông tư 12). Thông tư 12

3]. Ngành Năng
lượng Nguyên tử (NLNT) Việt Nam có 9 đơn vị nghiên cứu và triển khai (R&D) là
Viện NLNT Việt Nam và 8 đơn vị R&D trực thuộc, cũng có bức tranh chuyển đổi
tương tự và do có tính đặc thù, một số đơn vị xây dựng đề án chuyển đổi với đề xuất
xin tự chủ một phần kinh phí hoạt động thường xuyên.
Như vậy, nhìn chung tiến độ thực hiện Nghị định 115 còn chậm, đặc biệt là
các tổ chức KH&CN ở khối Địa phương, khối công ích và khối hàn lâm. Mặc dù
với một thái độ tích cực, chúng ta đều khẳng định việc chuyển đổi theo cơ chế tự
chủ, tự chịu trách nhiệm là xu hướng và bước đi tất yếu để đổi mới quản lý hoạt
động KH&CN ở nước ta.
Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân của tình trạng khó khăn và chậm
chạp trong việc chuyển đổi, như nhận thức chưa đúng về tinh thần của Nghị định, tư
duy cũ về tiếp tục duy trì sự bao cấp của Nhà nước đối với các tổ chức KH&CN vẫn
nặng nề; nhiều cán bộ, trong đó có những người đứng đầu các tổ chức KH&CN
chưa hiểu đúng, chưa hiểu hết, chưa quyết tâm, chưa đủ bản lĩnh và ý chí thực hiện
Nghị định 115; chưa có sự chỉ đạo quyết liệt và thống nhất của lãnh đạo các địa
phương, đơn vị; việc phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trực tiếp là KH&CN, Nội
vụ, Tài chính, Kế hoạch - Đầu tư, đặc biệt là ở các địa phương chưa được lãnh đạo,
chỉ đạo sát sao, do vậy ở các địa phương, chủ yếu chỉ các tổ chức KH&CN thuộc Sở
KH&CN xây dựng đề án chuyển đổi; việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực
hiện Nghị định còn chậm và chưa đồng bộ; tiềm lực của các tổ chức KH&CN còn
yếu; nhu cầu ứng dụng KH&CN của doanh nghiệp và xã hội chưa cao, chưa có thị
trường công nghệ ổn định và phát triển, v.v…
Trước thực trạng nêu trên, ngày 20.11.2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định số 1926/QĐ-TTg quy định về việc cấp kinh phí hoạt động thường
xuyên năm 2010 cho các tổ chức KH&CN thực hiện Nghị định 115. Bộ KH&CN
cũng đã phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan trình Chính phủ Dự thảo Nghị định
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 115.
Nguyên nhân của những khó khăn và chậm trễ nói trên đều đúng, nhưng đã
thật đầy đủ chưa? Điều này gợi ý cho người viết ý tưởng lựa chọn nghiên cứu đề tài:

KH&CN công lập và ngày 5.6.2006 liên Bộ: KH&CN, Tài chính và Nội vụ đã ban
hành Thông tư liên tịch số 12/2006/TTLT/BKHCN-BTC-BNV Hướng dẫn thực
hiện Nghị định 115.

6
Các nghiên cứu mà kết quả của nó thể hiện thành các văn bản chính sách nói
trên, đã tạo hành lang pháp lý cho việc chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập
theo cơ chế mới.
Từ khi Nghị định 115 ra đời đến nay, đã có nhiều bài viết, bài nghiên cứu
phản ánh các khía cạnh khác nhau của Nghị định, được đăng tải trên các trang web,
như
www.vietnamnet.vn, www.nistpass.gov.vn, www.tapchicongnghiep, v.v Trên
các báo và tạp chí, như báo Khoa học và Phát triển, tạp chí Tia sáng, tạp chí Hoạt
động Khoa học, v.v…, các chuyên mục Vấn đề hôm nay, Diễn đàn và Từ nghiên
cứu đến triển khai, sản xuất của Tạp chí Hoạt động Khoa học là địa chỉ đăng tải một
cách có hệ thống và đầy đủ nhất hơn 30 bài viết, bài nghiên cứu về chủ đề này.
Có những bài viết, bài nghiên cứu đề cập tới các nội dung cơ bản và nhấn
mạnh tính chất đột phá của Nghị định trong đổi mới cơ chế quản lý KH&CN, tiêu
biểu như các bài Nghị định 115 - giải pháp đột phá mới đối với các tổ chức
KH&CN [
27], Nghị định 115 thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ.
Có những bài bàn về các vấn đề cần lưu ý khi triển khai thực hiện Nghị định, tiêu
biểu như Bàn về tổ chức thực hiện Nghị định 115 [
21], Bàn về cơ chế tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của các tổ chức KH&CN [
35], Bàn về thực hiện Nghị định 115 [36],
Để cơ chế khoán kinh phí thực sự thúc đẩy KH&CN [
31], Về quyền hạn và trách
nhiệm của người đứng đầu tổ chức KH&CN khi chuyển sang cơ chế tự chủ [
28],

cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cũng do mỗi địa phương, đơn vị có những
điều kiện, hoàn cảnh khó khăn, thuận lợi riêng, nghĩa là có xuất phát điểm để
chuyển đổi khác nhau, nên đều đang phải nhận diện các khó khăn, tìm cho mình
những biện pháp thích hợp để hiện thực hoá ý tưởng tốt đẹp của Nghị định 115. Các
đơn vị R&D Ngành NLNT - một Ngành có những nét đặc thù, cũng đang trong xu
thế đó.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung:
Chỉ rõ những khó khăn mà các đơn vị R&D của ngành NLNT Việt Nam gặp
phải khi chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm quy định tại Nghị định
115 và đề xuất các giải pháp khắc phục.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Xác định các khó khăn mà các đơn vị R&D của ngành NLNT Việt Nam gặp
phải trong việc chuyển đổi sang hoạt động theo cơ chế quy định tại Nghị định 115,
trong đó chia ra 3 nhóm:
• Khó khăn của nhóm các tổ chức R&D đã chuyển đổi theo quy định.
• Khó khăn của nhóm các tổ chức R&D có tiềm năng chuyển đổi theo quy
định.
• Khó khăn của nhóm các tổ chức R&D chưa chuyển đổi được theo quy định.
+ Đề xuất các giải pháp thúc đẩy thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các
tổ chức R&D Ngành NLNT.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài giải quyết các mục tiêu đề ra ở Mục 3

8
- Phạm vi về thời gian: Từ ngày Nghị định 115 ra đời đến nay; riêng phần xây
dựng các luận cứ thực tiễn sẽ sử dụng thêm các thông tin, số liệu từ năm 2001 đến
nay.
5. Mẫu khảo sát
Nghiên cứu được tiến hành đối với các đơn vị R&D thuộc ngành NLNT Việt

• Điều kiện chung
• Điều kiện của đơn vị R&D ngành NLNT.
8. Phương pháp nghiên cứu
- Tập hợp, thống kê, phân tích, đánh giá các số liệu, tài liệu về các tiêu chí chủ
yếu sau:
+ Tình trạng tài chính từ 2001 đến nay, cân đối thu - chi và so sánh, đánh giá
khả năng tự đảm bảo nhu cầu chi thường xuyên.
+ Thực trạng tổ chức và hoạt động nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ,
chuyển giao công nghệ, sản xuất và dịch vụ từ 2001 đến nay.
- Phân tích so sánh giữa các đơn vị đã chuyển đổi được và các đơn vị chưa
chuyển đổi được.
- Phỏng vấn sâu các nhà quản lý của các đơn vị R&D trực thuộc.
- Quan sát, khảo sát thực tiễn.
9. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm các phần sau:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung, gồm có 3 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận.
+ Chương 2: Phân tích Nghị định 115 về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ
chức KH&CN công lập và những khó khăn của các đơn vị R&D ngành NLNT Việt
Nam khi triển khai thực hiện.
+ Chương 3: Những giải pháp thúc đẩy thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm
của các tổ chức R&D Ngành NLNT.
- Kết luận.

10
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Hoạt động khoa học và công nghệ [
9, 11, 13, 14, 15]

nhân, lý thuyết trường, vật lý tia vũ trụ, phản ứng hạt nhân với nơtron và các hạt
tích điện, vật lý nơtron, vật lý và nhiệt thủy động lò phản ứng hạt nhân, sinh học
phóng xạ, hóa phóng xạ, hóa bức xạ, đang tiến hành ở Viện NLNT Việt Nam, có
thể liệt vào loại nghiên cứu này.
Nghiên cứu cơ bản được chia thành hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần tuý và
nghiên cứu cơ bản định hướng.
- Nghiên cứu cơ bản thuần túy
Nghiên cứu cơ bản thuần túy (pure fundamental research hay pure research)
còn gọi là nghiên cứu cơ bản tự do hay nghiên cứu cơ bản không định hướng, là
những nghiên cứu tìm hiểu về bản chất sự vật và quy luật của các hiện tượng tự
nhiên và xã hội, nhằm nâng cao nhận thức, tri thức mà chưa có hoặc chưa bàn đến
bất kỳ một ý nghĩa ứng dụng nào. Loại hình nghiên cứu này, nhìn chung mang đậm
dấu ấn cá nhân của nhà nghiên cứu: họ tự suy nghĩ, tự đề xuất đề tài nghiên cứu,
quyết định chọn lựa đối tượng nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu với tính tự chủ rất
cao. Ví dụ, Nghiên cứu vi mô những kích hoạt hạt nhân đồng khối và các hiệu ứng
liên quan trong Vật lý thiên văn, Nghiên cứu phân rã gamma nối tầng của các hạt
nhân nhóm đất hiếm bằng phổ kế cộng biên độ các xung trùng phùng trên lò phản
ứng hạt nhân Đà Lạt, đang tiến hành ở Viện NLNT Việt Nam.
- Nghiên cứu cơ bản định hướng
Nghiên cứu cơ bản định hướng (oriented fundamental research) hay đôi khi
còn gọi là nghiên cứu thăm dò, là những nghiên cứu cơ bản đã dự kiến trước mục
đích ứng dụng. Nghiên cứu cơ bản định hướng được chia thành nghiên cứu nền tảng
và nghiên cứu chuyên đề.
+ Nghiên cứu nền tảng (background research) là những nghiên cứu về quy luật
tổng thể của một hệ thống sự vật, ví dụ như các hoạt động điều tra cơ bản tài
nguyên thiên nhiên, điều tra cơ bản về các điều kiện tự nhiên như địa chất, khí
tượng, thuỷ văn, điều tra cơ bản về KT-XH, v.v… Ví dụ, Điều tra tổng thể tài
nguyên phóng xạ và đất hiếm của Việt Nam, Điều tra tổng thể phóng xạ môi trường
và liều chiếu xạ lên dân chúng do các nguyên tố phóng xạ tự nhiên tại tỉnh Ninh
Thuận trước khi khởi công xây dựng nhà máy điện Hạt nhân.

công của đề tài nghiên cứu ứng dụng “Nghiên cứu chế tạo chế phẩm kích thích tăng
trưởng và bảo vệ thực vật từ alginat rong biển và chitosan vỏ tôm, cua bằng kỹ
thuật bức xạ”, năm 2000, một nhóm tác giả thuộc Viện NLNT đã đăng ký và được
cấp patent cho Quy trình chế tạo chế phẩm tăng trưởng thực vật T&D 4DD.

13
Một điều cần lưu ý là, mặc dù mang tên gọi như vậy, nhưng kết quả của
nghiên cứu ứng dụng vẫn chưa thể ứng dụng được ngay, mà để có thể đưa chúng
vào sử dụng trong thực tế, còn phải trải qua một giai đoạn nghiên cứu nữa, gọi là
triển khai. Ví dụ, mặc dù một tập thể các nghiên cứu viên của Viện NCHN đã được
đánh giá tốt và nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật ghép bức xạ chế
tạo polyme có khối lượng phân tử cao, ổn định về tính chất trong môi trường nhiệt
độ, áp suất và độ muối cao” với định hướng ứng dụng trong tăng cường thu hồi dầu,
song do chưa có điều kiện để sản xuất “Sêri 0”, nên chế phẩm vẫn chưa thể đưa vào
sử dụng trong mỏ đang khai thác.
1.1.2. Triển khai (Development - D)
Triển khai (development) ở đây là viết tắt của một thuật ngữ đầy đủ là triển
khai thực nghiệm kỹ thuật (technical experimental development), sau này còn gọi là
triển khai thực nghiệm công nghệ (technological experimental development), là
hoạt động vận dụng các quy luật (sản phẩm của nghiên cứu cơ bản) và các nguyên
lý, giải pháp (sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng) để tạo ra các vật mẫu và công
nghệ sản xuất vật mẫu với các tham số kỹ thuật khả thi. Triển khai bao gồm ba giai
đoạn:
a) Tạo ra vật mẫu (làm prototype) là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được
sản phẩm mẫu hay còn gọi là vật mẫu chức năng (functional prototype), mà chưa
quan tâm đến quy trình sản xuất ra vật mẫu và quy mô áp dụng vật mẫu đó.
b) Tạo quy trình, công nghệ (làm pilot) là giai đoạn tìm kiếm, thử nghiệm và
tạo ra công nghệ để sản xuất sản phẩm theo mẫu mới (prototype) vừa thành công ở
giai đoạn trước, đôi khi còn gọi đây là giai đoạn tạo vật mẫu kỹ thuật (engineering
prototype).

Chuyển giao công nghệ (transfer of technology) là sự chuyển nhượng quyền
sở hữu hoặc quyền sử dụng một công nghệ giữa hai đối tác. Công nghệ được
chuyển giao bao gồm: các bí quyết, quy trình, công thức, quyền sở hữu và quyền sử
dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp. Chuyển giao công nghệ có thể đi kèm hoặc
không đi kèm hợp đồng licence hoặc hợp đồng patent-licence, có thể đi kèm hoặc
không đi kèm đầu tư thiết bị, tiền vốn. Chuyển giao công nghệ bao gồm: chuyển
giao công nghệ theo chiều ngang và chuyển giao công nghệ theo chiều dọc.
- Chuyển giao công nghệ theo chiều ngang là sự chuyển giao công nghệ giữa
các doanh nghiệp. Thực chất đây là quá trình nhân rộng công nghệ về mặt số lượng,
không có biến đổi về mặt trình độ, năng lực công nghệ và chất lượng sản phẩm. Ưu
điểm của hình thức chuyển giao theo chiều ngang là ít rủi ro, nhưng năng lực cạnh
tranh thấp.

15
- Chuyển giao công nghệ theo chiều dọc là sự chuyển giao tri thức công nghệ
từ khu vực R&D vào doanh nghiệp, thực chất đây là quá trình áp dụng kết quả
nghiên cứu vào sản xuất. Mặc dù xác suất rủi ro của hình thức chuyển giao theo
chiều dọc có thể cao, song đổi lại, năng lực cạnh tranh cũng lại có thể rất cao, do tạo
ra được các sản phẩm mới dựa trên công nghệ mới. Ví dụ, chuyển giao công nghệ
chiếu xạ để khử trùng dụng cụ y tế và bảo quản lương thực, thực phẩm từ Viện
NLNT Việt Nam sang một số công ty cổ phần chiếu xạ ở phía Nam, đã tạo ra bước
đột phá trong công nghệ khử trùng dụng cụ y tế và bảo quản nông sản ở Việt Nam,
thay thế cho các công nghệ cũ sử dụng nhiệt hoặc hoá chất.
Đây cũng chính là nơi thể hiện rõ nhất sự giao nhau của hoạt động KH&CN
với hoạt động thương mại và trong nhiều trường hợp, nó gần với hoạt động thương
mại hơn.
b) Phát triển công nghệ
Phát triển công nghệ (development of technology hay technology
development) là sự mở rộng và/hoặc nâng cấp công nghệ, bao gồm hoạt động phát
triển công nghệ theo chiều rộng - nhân rộng, mở rộng công nghệ (extensive

phóng xạ không huỷ thể, dịch vụ khảo sát sa bồi luồng tàu, cảng biển bằng phương
pháp đồng vị đánh dấu, dịch vụ chiếu xạ bảo quản nông sản, v.v…
Tổng hợp về các loại hình hoạt động KH&CN được trình bày một cách trực
quan trên hình 1.1, với đường kẻ vuông góc, nét rời và khối về Nghiên cứu chiến
lược, chính sách phục vụ quản lý Nhà nước được thêm vào, để phục vụ cho việc
phân tích ở Chương 2. 17

công
nghệ
Phát
triển
công
nghệ

Nghiên
cứu và
triển
khai
(R&D)
Nhân rộng
công nghệ
Nâng cấp
công nghệ
Nghiên
cứu cơ
bản
(NCCB)
Nghiên
Làm ra vật mẫu (prototype)

Triển khai
(D)
cứu chiến
lược,
phục vụ
quản lý
ước

Như vậy hoạt động “Triển khai” và “Phát triển” hoàn toàn khác biệt nhau với
tư cách là các đối tượng quản lý và đối tượng phân biệt đối xử trong chính sách.
1.4. Tự chủ và tự chịu trách nhiệm của tổ chức R&D
Trong Từ điển tiếng Việt, do tác giả Hoàng Phê chủ biên, Viện Ngôn ngữ học,
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, Hà Nội, 1992, tr.
1055), tự chủ là “Tự điều hành, quản lý mọi công việc của mình, không bị ai chi
phối. Tự làm chủ tình cảm, hành động của mình, không để bị hoàn cảnh chi phối”.
Trong Từ điển tiếng Việt, do tác giả Nguyễn Văn Xô chủ biên (NXB Trẻ,
Tp. HCM, 1999, tr. 823), tự chủ là “Tự làm chủ tình cảm, hành động của mình,
không bị hoàn cảnh chi phối. Tự mình điều hành, quản lý, không bị ảnh hưởng của
ai (quyền tự chủ trong sản xuất)”.
Trong Đại từ điển tiếng Việt, do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên, Trung tâm
Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo (NXB Văn hóa - Thông
tin, Hà Nội, 1999, tr. 1762), tự chủ là “Tự mình làm chủ, không để bị phụ thuộc
hoặc bị chi phối”.
Các khái niệm về tự chủ đưa ra trong các Từ điển tiếng Việt nêu trên gần như
đồng nhất với nhau và đồng nhất một khái niệm được gọi là tự chủ thể chế
(institutional autonomy) - cho phép một tổ chức điều hành hoạt động của mình mà
không có sự can thiệp từ bên ngoài.
Tất nhiên mọi sự tự chủ của một tổ chức đều phải nằm trong khung khổ của
pháp luật, nó là sự tự chủ có điều kiện và các điều kiện này được xác định bởi mối
quan hệ giữa Nhà nước, xã hội và tổ chức. Từ đó cũng phát sinh những cách phân
loại tự chủ chi tiết hơn, như tự chủ thực chất (substantive autonomy) - Tổ chức có

19
quyền xác định các chương trình hoạt động của mình và mục đích của những
chương trình này, tự chủ về thủ tục (procedural autonomy) - Tổ chức có quyền xác
định các phương tiện cần thiết để hoàn thành các chương trình hoạt động đã xác
định và tự chủ về tổ chức (organic autonomy) - Tổ chức có quyền xác định các đơn
vị trực thuộc nó [

20
Khái niệm autonomy mà Tác giả đề cập ở đây có thể hiểu là khái niệm dùng
chung cho mọi tổ chức KH&CN, mà chưa quan tâm tới việc chúng thuộc hình thức
sở hữu nào.
Đối với các tổ chức KH&CN công lập, được Nhà nước lập ra vì những lý do
khác nhau, nên nội dung chủ yếu khi chuyển sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự
chịu trách nhiệm có thể được hình dung như sau:
- Tự chủ trong đề xuất và thực hiện nhiệm vụ KH&CN với định hướng ưu tiên
phục vụ các mục tiêu của Nhà nước (bởi lẽ chính vì những mục tiêu đó mà tổ chức
R&D công lập được thành lập);
- Tự chủ lập kế hoạch hoạt động KH&CN của Tổ chức theo định hướng nhu
cầu;
- Tự chủ huy động kinh phí cho hoạt động KH&CN từ nhiều nguồn khác
nhau: từ NSNN và từ các nguồn ngoài NSNN;
- Tự chủ trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN;
- Tự chủ trong tổ chức, bộ máy và nhân lực;
- Khắc phục các biểu hiện hành chính hoá khoa học;
- Tự chịu trách nhiệm về sản phẩm làm ra đối với yêu cầu của các tổ chức
cung cấp tài chính, của các nhà tài trợ, v.v… và do đó chất lượng sản phẩm làm ra
phải được đánh giá dựa trên các chuẩn mực khoa học [
8].
Xét trong mối quan hệ giữa hai khái niệm này thì tự chủ là quyền và tự chịu
trách nhiệm là nghĩa vụ.
Tuy vậy, khái niệm “tự chịu trách nhiệm” của tổ chức KH&CN cũng cần phải
được làm sáng tỏ thêm về các khía cạnh: Tổ chức phải “tự chịu trách nhiệm” trước
những đối tượng nào và “tự chịu trách nhiệm” về những nội dung gì? Vấn đề ở đây
không chỉ đơn thuần là câu chữ, vì nếu khái niệm này không được chuẩn hoá, có thể
dẫn đến những cách ứng xử lệch lạc cả từ 2 phía: Đối tượng quản lý và Chủ thể
quản lý. Ví như: Đối tượng quản lý có thể hiểu rằng họ chỉ phải tự chịu trách nhiệm
với chính mình, còn Chủ thể quản lý thì nghĩ rằng đã có Đối tượng quản lý phải tự

Thuật ngữ chính sách được sử dụng rất phổ biến trên các phương tiện thông
tin đại chúng, trên sách báo và trong mọi mặt của đời sống KT-XH. Tuy nhiên, trên
thực tế lại có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm chính sách.
Theo Peter Aucoin, “Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do chính
phủ tiến hành”.
Theo William Jenkin, “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên
quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với
việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó”.

22

Trích đoạn Chính sách cho các Viện R&D tự chủ, tự chịu trách nhiệm Phân tích chính sách Mục tiêu, mục đích của Nghị định Các nội dung cơ bản của Nghị định Tác nhân của Nghị định
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status