A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài.
Vật liệu là đối tượng lao động chủ yếu cấu thành nên thực thể sản phẩm,
là một trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất,
Là một doanh nghiệp sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực GTVT với trách
nhiệm chính là sửa chữa thường xuyên và xây dựng cơ bản các công trình giao
thông nhằm tạo ra sản phẩm cuối cùng là công trình sữa chữa lớn (cầu, phà,
đường), công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng. Do đó chi phí nguyên vật
liệu chiếm tỷ trọng tương đối trong toàn bộ chi phí sản xuất của công ty, việc
mua ngoài nguyên vật trên thị trường với giá cả mua, chi phí vận chuyển, bốc
dỡ, phụ thuộc vào thị trường, việc hạch toán và quản lý toàn bộ chi phí
nguyên vật liệu một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ là nhiệm vụ hàng đầu của
công ty.
Mặt khác, trong quá trình nghiên cứu công tác kế toán nguyên vật liệu tại
công ty cổ phần Quản lý và xây dựng đường bộ I - Thanh Hoá, chúng tôi nhận
thấy bên cạnh việc thực hiện đúng chế độ nhà nước quy định còn một số hạn chế
như việc theo dõi số lượng nguyên vật liệu tồn kho lại chưa được coi trọng, công
tác kiểm kê nguyên vật liệu công ty không tiến hành liên tục, thường xuyên…
chưa đáp ứng yêu cầu trong công tác kế toán NVL.
Việc hạch toán các nghiệp vụ kế toán NVL sử dụng phương pháp thủ
công, chưa sử dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật là phần mềm kế toán tại công ty
làm cho số lượng công việc của kế toán viên trở nên nặng hơn.
Chính vì vậy chúng tôi lựa chọn đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp
góp phần hoàn thiện công tác kế toán NVL tại công ty cổ phần Quản lý và xây
dựng đường bộ I Thanh Hoá”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đánh giá thực trạng, thông qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công
tác kế toán nguyên liệu, vật liệu tại công ty cổ phần Quản lý và xây dựng đuờng bộ I –
Thanh Hoá.
1
3. Đối tượng nghiên cứu
trong các doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần Quản lý
và xây dựng đuờng bộ I – Thanh Hoá.
Chương 3: Một số ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật
liệu tại công ty cổ phần Quản lý và xây dựng đuờng bộ I – Thanh Hoá.
3
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN
NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP.
1.1 Đặc điểm, ý nghĩa của nguyên vật liệu của doanh nghiệp.
1.1.1. Đặc điểm của nguyên vật liệu
1.1.1.1 Khái niệm Nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất
kinh doanh, tham gia thường xuyên và trực tiếp vào quá trình sản xuất sản
phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm.
Nguyên vật liệu là những đối tượng lao động do mua ngoài hoặc do tự chế
được dùng chủ yếu cho quá trình chế tạo ra sản phẩm.Trong thực tế nguyên vật
liệu thường chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu giá thành sản phẩm đồng thời là bộ
phận dự trữ sản xuất quan trọng phục vụ cho quá trình sản xuất của doanh
nghiệp.
1.1.1.2 Đặc điểm nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu có đặc điểm đa dạng nhiều chủng loại, chỉ tham gia vào
từng chu kì sản xuất và toàn bộ giá trị nguyên vật liệu được dịch chuyển một lần
vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.Trong quá trình sản xuất dưới tác động
của yếu tố lao động nguyên vật liệu bị hao mòn toàn bộ hoặc thay đổi toàn bộ
hình dạng vật chất ban đầu để cấu thành nên thực thể của sản phẩm. Do đó giá
trị của nó là một trong những yếu tố cấu thành giá thành sản phẩm.
Từ những đặc điểm trên cho thấy nguyên vật liệu có vai trò hết sức quan
trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nó góp phần
– Nguyên vật liệu chính: Là những nguyên vật liệu cấu thành nên thực thể
chính của sản phẩm.
VD : Đối với các doanh nghiệp dệt thì nguyên vật liệu chính là các loại sợi
khác nhau như: sợi Nilông; sợi Cotton
Đối với doanh nghiệp sản xuất cơ khí thì nguyên vật liệu là sắt, thép,
nhôm, wônfam…
Đối với doanh nghiệp xây lắp thì nguyên vật liệu chính bao gồm nhiều loại
5
như: Xi măng, cát, sơn các loại…
Nguyên vật liệu chính cũng bao gồm cả bán thành phẩm mua ngoài, đó là
các chi tiết, bộ phận của sản phẩm mà doanh nghiệp mua của các đơn vị khác
với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất chế tạo ra sản phẩm, hàng hoá.
– Vật liệu phụ : Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất,
không cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm. Nó có thể kết hợp với nguyên
vật liệu chính làm thay đổi hình dáng màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài, làm
tăng cường chất lượng hoặc giá trị sử dụng của sản phẩm.
VD : Đối với doanh nghiệp dệt thì vật liệu phụ có thể là các phẩm màu để
làm tăng thêm màu sắc cho các loại vải…
Đối với doanh nghiệp sản xuất cơ khí và xây lắp thì vật liệu phụ có thể là
các chất phụ gia để tăng thêm độ bền của sản phẩm…
Vật liệu phụ được sử dụng tăng thêm chất lượng của sản phẩm cũng như
tính năng sử dụng của sản phẩm. Nó cũng có thể được sử dụng để tạo điều kiện
cho quá trình sản xuất diễn ra bình thường hoặc nhanh chóng hơn, phục vụ cho
nhu cầu công nghệ kỹ thuật hay phục vụ cho quá trình lao động.
– Nhiên liệu: Cũng là một loại vật liệu phụ nhưng do tính chất lý hoá đặc
biệt và chiếm vị trí quan trọng trong quá trình sản xuất nên được xếp thành một
loại riêng để có chế độ bảo quản thích hợp. Nhiên liệu là loại vật liệu có tác
dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất sản phẩm. Nó có thể tồn tại ở
thể lỏng như Xăng, Dầu…ở thể rắn như củi, các loại than…hay tồn tại ở thể khí
như Gas, hơi đốt…
– Nguyên vật liệu mua ngoài: Là nguyên vật liệu do doanh nghiệp mua
ngoài mà có, thông thường mua của các nhà cung cấp hay doanh nghiệp khác.
– Nguyên vật liệu tự gia công chế biến: Là vật liệu do doanh nghiệp tự sản
xuất ra và sử dụng luôn để sản xuất sản phẩm khác.
– Nguyên vật liệu thuê ngoài gia công chế biến: Là vật liệu mà doanh nghiệp
không tự sản xuất, cũng không phải do mua ngoài mà thuê các cơ sở gia công.
– Nguyên vật liệu nhận góp vốn liên doanh : Là nguyên vật liệu do các bên
liên doanh góp vốn theo thoả thuận trên hợp đồng liên doanh.
– Nguyên vật liệu được cấp: Là nguyên vật liệu do đơn vị cấp trên cấp theo
7
quy định.
* Căn cứ vào mục đích công dụng của nguyên vật liệu cũng như nội dung
quy định phản ánh chi phí nguyên vật liệu trên các tài khoản kế toán thì nguyên
vật liệu trong doanh nghiệp được chia thành :
– Nguyên vật liệu trực tiếp dùng trong sản xuất và sử dụng để chế tạo sản
phẩm.
– Nguyên vật liệu dùng cho các nhu cầu khác như phục vụ cho nhu cầu
quản lý phân xưởng sản xuất, tổ đội sản xuất, phục vụ quá trình bán hàng và
quản lý doanh nghiệp.
Tuy nhiên để đảm bảo nhu cầu nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, không
bị gián đoạn, quản lý nguyên vật liệu một cách chặt chẽ doanh nghiệp cần phải
nhận biết một cách cụ thể về số hiện có và tình hình biến động tăng, giảm của
từng thứ nguyên vật liệu được sử dụng trong hoạt động sản xuất của doanh
nghiệp. Xuất phát từ yêu cầu thực tế như vậy nguyên vật liệu cần phải được
phân chia một cách chi tiết hơn theo tính năng hoá, lý, theo quy cách phẩm chất
của nguyên vật liệu. Cụ thể nguyên vật liệu được chia thành các loại, nhóm, thứ
và mỗi loại, nhóm, thứ…được quy định bằng những ký hiệu riêng làm cơ sở để
doanh nghiệp nhận biết, theo dõi, xây dựng và lập sổ danh điểm nguyên vật liệu.
Sổ danh điểm được sử dụng thống nhất trong phạm vi doanh nghiệp nhằm đảm
thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm.
Bên cạnh đó, nguyên tắc thận trọng trong công tác kế toán nguyên vật liệu
đòi hỏi doanh nghiệp phải lập dự phòng giảm giá nguyên vật liệu nhưng chi phí
cho khoản này không được quá lớn, không đánh giá cao hơn giá trị của nguyên
vật liệu.
Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố cấu thành nên hàng tồn kho, do
9
đó kế toán nguyên vật liệu phải tuân theo chuẩn mực kế toán hàng tồn kho.
Hàng tồn kho được tính theo giá gốc (trị giá thực tế tại thời điểm phát sinh
nghiệp vụ kinh tế), trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá
gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được.
Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tính của hàng tồn kho
trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường trừ (-) chi phí ước tính để hoàn thành
sản phẩm và chi phí ước tính của việc tiêu thụ chúng.
Giá gốc hàng tồn kho bao gồm chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí
liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng
thái hiện tại.
Để theo dõi được sự biến động của nguyên vật liệu trên các loại sổ kế toán
khác nhau (sổ chi tiết và sổ tổng hợp), tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế có liên quan
tới nguyên vật liệu, doanh nghiệp cần phải thực hiện việc tính giá nguyên vật
liệu có thể tính theo giá thực tế hoặc giá hạch toán.
* Giá thực tế nguyên vật liệu
Giá thực tế nhập kho nguyên vật liệu :
Trị giá thực tế của nguyên vật liệu nhập kho được xác định tuỳ theo từng
lần nhập, nguồn nhập.
– Nguyên vật liệu mua ngoài
+ Nếu nguyên vật liệu mua để dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.
Trị giá
thực tế
sinh (chiết khấu
thương mại,
giảm giá hàng
bán, hàng bán
bị trả lại)
Trường hợp này doanh nghiệp mua nguyên vật liệu dùng vào sản xuất
10
kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ nên trị giá nguyên vật
liệu mua vào được phản ánh theo giá mua chưa có thuế GTGT. Thuế GTGT đầu
vào khi mua nguyên vật liệu và thuế GTGT của dịch vụ vận chuyển, bốc xếp,
bảo quản …được khấu trừ và hạch toán vào tài khoản 133(1331) “Thuế GTGT
được khấu trừ”.
+ Nếu nguyên vật liệu mua dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh không
thuộc đối tượng nộp thuế GTGT hoặc nộp thuế GTGT theo phương pháp trực
tiếp
Trị giá
thực tế của
nguyên
vật liệu
nhập kho
trong kỳ
=
Trị giá mua
ghi trên
hoá đơn
(bao gồm
thuế
GTGT)
+
Các khoản
Trị giá thực tế của
nguyên vật liệu xuất
gia công chế biến
+
Chi phí chế
biến
– Nguyên vật liệu thuê ngoài gia công :
Trị giá thực tế
nguyên vật
liệu nhập kho
trong kỳ
=
Trị giá thực tế
nguyên vật liệu
xuất thuê ngoài
gia công
+ Chi phí gia
công
+ Chi phí vận
chuyển
11
– Nguyên vật liệu nhận góp vốn liên doanh :
Trị giá thực tế của nguyên vật liệu nhận góp vốn liên doanh, góp vốn cổ
phần là giá thực tế được các bên tham gia góp vốn chấp nhận.
Trị giá thực tế
nguyên vật liệu
nhập kho trong kỳ
=
Giá thoả thuận
giữa các bên tham
=
Số lượng
nguyên vật
liệu xuất kho
x
Đơn giá thực tế của
từng lô nguyên vật
liệu xuất kho
– Phương pháp nhập trước – xuất trước ( FIFO )
Theo phương pháp này kế toán phải theo dõi được đơn giá thực tế và số
lượng của từng lô nguyên vật liệu nhập kho. Khi tính trị giá nguyên vật liệu xuất
kho người ta dựa trên giả định là nguyên vật liệu được mua trước hoặc sản xuất
12
trước thì được xuất trước. Nguyên vật liệu tồn kho còn lại cuối kỳ là nguyên vật
liệu được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ. Giá trị nguyên vật liệu xuất
kho được tính theo giá của lô nguyên vật liệu nhập ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu
kỳ, giá trị của nguyên vật liệu tồn kho được tính theo giá của nguyên vật liệu nhập
kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ.
Trị giá thực tế
nguyên vật liệu
xuất kho trong kỳ
=
Số lượng
nguyên vật
liệu xuất kho
x
Đơn giá thực tế của
từng lô nguyên vật
liệu nhập trước
Khi xuất hết lô nguyên vật liệu đầu tiên thì tính trị giá thực tế nguyên vật
13
Đơn giá bình quân NVL tồn đầu kỳ + nhập trong kỳ
(từng loại nguyên vật liệu ) =
Số lượng NVL + Số lượng NVL
tồn đầu kỳ nhập trong kỳ
Trị giá thực tế của
từng loại nguyên vật
liệu xuất kho trong kỳ
=
Số lượng
nguyên vật
liệu xuất kho
x
Đơn giá bình quân
( của từng loại
nguyên vật liệu )
Đơn giá bình quân có thể tính ở:
• Đầu kỳ : Đơn giá bình quân của cuối kỳ trước, được áp dụng cho kỳ này.
Đơn giá Trị giá thực tế NVL tồn đầu kỳ
bình quân =
tồn đầu kỳ Số lượng NVL tồn đầu kỳ
Trị giá thực tế
NVL xuất kho
=
Số lượng NVL
xuất kho
x
Đơn giá bình quân
sau tồn đầu kỳ
• Sau từng lần nhập nguyên vật liệu (đơn giá bình quân liên quân
trang bị những công cụ tính toán, phương tiện xử lý thông tin của doanh nghiệp .
Lựa chọn phương pháp tính trị giá nguyên vật liệu xuất kho còn phụ thuộc vào
tính chất phức tạp về chủng loại, quy cách, sự biến động cũng như trị giá từng
loại nguyên vật liệu khác nhau tại doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quyền lựa
chọn phương pháp tính toán phù hợp tuy nhiên phải đảm bảo tính nhất quán và
phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp .
* Giá hạch toán nguyên vật liệu :
Sử dụng giá hạch toán đối với doanh nghiệp có các nghiệp vụ xuất, nhập
nguyên vật liệu nhiều và thường xuyên biến động về giá cả.
Giá hạch toán
nguyên vật liệu xuất
(nhập) kho trong kỳ
=
Số lượng
nguyên vật liệu
xuất (nhập )
kho
x
Đơn giá hạch
toán nguyên
vật liệu
Trong kỳ doanh nghiệp có thể thực hiện kế toán nhập, xuất kho nguyên vật
liệu theo giá hạch toán vì việc xác định được trị giá thực tế nguyên vật liệu nhập,
xuất kho là công việc tương đối phức tạp. Doanh nghiệp có thể lựa chọn giá
hạch toán nguyên vật liệu theo giá thực tế kỳ tồn kho cuối kỳ trước hoặc theo
giá dự tính của doanh nghiệp. Giá hạch toán không phản ánh chính xác chi phí
thực tế về nguyên vật liệu xuất dùng để sản xuất ra sản phẩm, cũng như xuất
dùng trong kỳ nên doanh nghiệp phải điều chỉnh lại trị giá thực tế nguyên vật liệu
xuất kho vào thời điểm cuối kỳ. Phương pháp điều chỉnh tiến hành theo 2 bước:
•Xác định hệ số chênh lệch giá theo công thức sau:
thông tin kế toán. Đồng thời tham gia công tác phân tích việc thực hiện kế hoạch
thu mua, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu .
– Thực hiện việc phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch thu mua,
dự trữ, sử dụng nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh.
– Phản ánh chính xác, kịp thời và kiểm tra chặt chẽ tình hình cung cấp
nguyên vật liệu trên các mặt số lượng, chất lượng, chủng loại…
16
– Tính toán, phân bổ kịp thời chính xác trị giá nguyên vật liệu xuất dùng
cho các đối tượng khác, kiểm tra chặt chẽ thực hiện định mức tiêu hao nguyên
vật liệu phát hiện và ngăn ngừa kịp thời các trường hợp sử dụng nguyên vật liệu
sai mục đích, gây lãng phí…
– Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện định mức dự trữ nguyên vật liệu,
phát hiện các loại nguyên vật liệu ứ đọng, chưa cần dùng hay kém phẩm chất…
để có biện pháp để thu hồi vốn nhanh chóng, hạn chế các thiệt hại.
1.3.2 Yêu cầu quản lý nguyên vật liệu .
Nguyên vật liệu vừa là đối tượng lao động, vừa là tài sản của doanh
nghiệp, việc quản lý nguyên vật liệu có vai trò rất quan trọng đối với một doanh
nghiệp. Quản lý tốt nguyên vật liệu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Quản lý nguyên vật liệu là việc kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ thường
xuyên tất cả các khâu trong quá trình sản xuất như ; thu mua, dự trữ, bảo quản,
sử dụng nguyên vật liệu. Sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu thể hiện trình độ
quản lý của doanh nghiệp, thực hiện quản lý nguyên vật liệu là yêu cầu khách
quan vì nguyên vật liệu không chỉ sử dụng trong một chu kỳ sản xuất mà nó còn
thường xuyên biến động. Chính vì vậy việc quản lý nguyên vật liệu cần đáp ứng
yêu cầu sau để đảm bảo giá thành sản phẩm hạ nhưng vẫn đảm bảo chất lượng
sản phẩm :
– Trong khâu thu mua : Phải đảm bảo mua nguyên vật liệu phù hợp về số
lượng, quy cách, chất lượng, chủng loại phù hợp với yêu cầu sản xuất. Đặc biệt
chi phí mua phải giảm, giá cả hợp lý, chỉ hao hụt nguyên vật liệu trong định
mức, đây sẽ là cơ sở để xác định giá thành sản phẩm mang tính cạnh tranh cao.
• Chứng từ xuất
Phiếu xuất kho Mẫu số 02 – VT
Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ Mẫu số 03 PXK – 3LL
• Chứng từ theo dõi quản lý
Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ Mẫu số 04 – VT
Biên bản kiểm kê vật tư Mẫu số 05 – VT
Bảng kê mua vật tư Mẫu số 06 – VT
Bảng phân bổ Nguyên Vật Liệu Mẫu số 07 – VT
18
• Ngoài ra còn sử dụng nhiều loại chứng từ khác trong kế toán nguyên vật
liệu như :
Phiếu thu Mẫu số 01 – TT
Phiếu chi Mẫu số 02 – TT
Giấy đề nghị tạm ứng Mẫu số 03 – TT
Giấy thanh toán tiền tạm ứng … Mẫu số 04 – TT
Mọi chứng từ phải lập kịp thời, đầy đủ theo đúng quy định về mẫu biểu,
nội dung, phương pháp lập. Người lập chứng từ phải chịu trách nhiệm về tính
hợp lý, hợp pháp của chứng từ về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh.
b - Sổ kế toán chi tiết :
- Chứng từ ghi sổ
- Nhật ký sổ cái
- Nhật ký chung
- Bảng cân đối số phát sinh
- Sổ nhật ký mua hàng
- Sổ nhật ký bán hàng
- Sổ cái
…
19
c - Các phương pháp kế toán chi tiết:
Kế toán nguyên vật liệu được thực hiện đồng thời tại kho và phòng kế toán
kho phản ánh tình hình nhập, xuất của từng loại nguyên vật liệu.
( Thẻ kho : Mẫu số S 12– DN )
Hàng ngày thủ kho căn cứ vào các chứng từ nhập - xuất tiến hành kiểm tra
tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ. Sau đó tiến hành ghi chép số lượng thực
nhập, thực xuất vào thẻ kho. Cuối ngày tính ra số lượng vật liệu tồn kho để ghi
vào cột tồn. Thủ kho phải thường xuyên đối chiếu số liệu ghi trên thẻ kho với số
liệu thực tế còn lại ở kho để đảm bảo sổ sách và thực tế luôn khớp nhau. Đồng
thời hàng ngày hoặc định kỳ thủ kho phải chuyển các chứng từ nhập, xuất đã
được phân loại theo từng loại nguyên vật liệu về phòng kế toán.
Tại phòng kế toán : Hàng ngày hoặc định kỳ, sau khi nhận các chứng từ tại
kho kế toán tiến hành việc kiểm tra, ghi chép và phản ánh vào các sổ chi tiêt cả
về số lượng và giá trị. (Sổ chi tiết nguyên vật liệu : Mẫu sổ S10 – DN)
Cuối tháng kế toán đối chiếu số liệu tồn kho theo chi tiết từng loại nguyên
vật liệu trên các sổ chi tiết với số liệu tồn kho trên thẻ kho và số liệu kiểm kê
thực tế, nếu có chênh lệch phải tiến hành xử lý kịp thời. Ngoài ra sau khi đã đối
chiếu và đảm bảo số liệu khớp đúng, kế toán tiến hành lập bảng tổng hợp chi tiết
nhập – xuất – tồn kho nguyên vật liệu.
Số liệu trên bảng tổng hợp chi tiết nhập – xuất – tồn kho nguyên vật liệu
(Mẫu sổ S11 – DN) được dùng để đối chiếu với số liệu trên tài khoản nguyên
liệu, vật liệu “TK : 152’’ trong sổ cái.
21
Sơ đồ 1.1:
Kế toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp thẻ song song
Ghi chú:
: Ghi hàng ngày
: Ghi cuối tháng
: Đối chiếu, kiểm tra
* Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
– Nguyên tắc : Thủ kho ghi theo chỉ tiêu số lượng và kế toán ghi theo cả
hai chỉ tiêu số lượng và giá trị.
Sơ đồ 1.2:
Kế toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp ghi sổ đối chiếu luân chuyển
Ghi chú:
: Ghi hàng ngày
: Ghi cuối tháng : Đối chiếu,kiểm tra
23
Thẻ kho
Phiếu nhập
Phiếu xuất
Sổ kế toán tổng hợp
Bảng kê nhập
Bảng kê xuất
Sổ đối chiếu luân
chuyển
* Phương pháp số dư
– Nguyên tắc : Thủ kho ghi chép theo chỉ tiêu số lượng, kế toán ghi chép
theo giá trị.
– Nội dung :
Tại kho: Thủ kho vẫn dùng thẻ kho để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn
nguyên vật liệu. Cuối tháng căn cứ số tồn kho đã tính được ở thẻ kho ghi vào sổ
số dư (cột số lượng ), sau đó chuyển cho kế toán. Sổ số dư do kế toán mở cho
từng kho và sử dụng để theo dõi sự biến của từng mặt hàng tồn kho về mặt trị
giá theo giá hạch toán.
Tại phòng kế toán: Định kỳ sau khi nhận chứng từ tại kho (đã được thủ
kho phân loại theo chứng từ nhập - xuất của từng loại nguyên vật liệu). Kế toán
vẫn kiểm tra việc ghi chép của thủ kho và ký vào phiếu giao nhận chứng từ nhập
- xuất, thu nhận phiếu này và các chứng từ có liên quan về phòng kế toán. Sau
đó căn cứ vào giá hạch toán để ghi giá vào các chứng từ và cột số tiền trên phiếu
giao nhận chứng từ.
Phiếu giao nhận chứng từ nhập, xuất.
Bảng kê luỹ kế
nhập - xuất -tồn
Sổ kế toán tổng hợp