I. Cơ sở lý luận cho việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án,
quyết định của tòa án nước ngoài.
1. Khái niệm và bản chất công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa
án nước ngoài.
Theo từ điển Tiếng việt “công nhận” là sự thừa nhận trước mọi người một điều gì
đó là phù hợp với sự thật, với lẽ phải hoặc với thể lệ, luật pháp. Còn “thi hành” là
việc làm cho điều gì đó trở thành có hiệu lực (được thực hiện trên thực tế)
Hai thuật ngữ “công nhận” và “thi hành” bản án, quyết định cuả tòa án nước ngoài
thường được sử dụng cùng nhau, tuy nhiên trên thực tế chúng có thể sử dụng một
cách riêng rẽ. Hai thuật ngữ này mặc dù có sự gắn bó phụ thuộc lẫn nhau nhưng
cũng có thể được sử dụng với những hàm ý khác nhau. Trong trường hợp bản án,
quyết định của tòa án được tự nguyện thi hành thì nó có thể có trường hợp nó chỉ
cần công nhận mà không cần thi hành. Trong khi đó nếu một bản án, quyết định
của tòa án đã được thi hành có nghĩa là nó đã được công nhận. Việc thi hành bản án
quyết định của tòa án không chỉ là việc công nhận hiệu lực của bản án, quyết định
mà bao gồm cả việc đưa bản án, quyết định vào cuộc sống. Do đó có thể hiểu khái
niệm công nhận và cho thi hành bản án quyết định của tòa án nước ngoài theo
nghĩa tổng thể (bao gồm cả công nhận và thi hành), nhưng cũng có thể hiểu theo
nghĩa tách biệt (khái niệm công nhận và khái niệm thi hành).
Để hiểu rõ khái niệm “công nhận” và cho thi hành bản án quyết định của tòa án
nước ngoài cần làm rõ mục đích và bản chất của hoạt động đó. Đối với công nhận
mục đích ở đây thể hiện ở chỗ, sự công nhận được sử dụng nhằm ngăn ngừa trường
hợp nguyên đơn hoặc bị đơn tiếp tục khởi kiện về vụ việc đã được tòa án giải
quyết. Trong khi đó việc thi hành lại đóng vai trò như một công cụ hữu hiệu để
buộc bên bị thi hành phải thực hiện những hành vi bất lợi cho mình mà bên đó đã
không tự nguyện thi hành.
Việc xác định khái niệm công nhận và cho thi hành bản án quyết định của tòa án
nước ngoài cho thấy bản chất của của việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết
định của tòa án nước ngoài là việc Nhà nước thừa nhận hiệu lực pháp lý của bản án,
quyết định của tòa án nước ngoài trên lãnh thổ của quốc gia mình, thừa nhận sự
phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên đương sự trong bản án, quyết
Toà án nước ngoài xét xử vụ việc. Bên cạnh đó tính chất tư của Bản án nhằm giải
quyết quyền lợi của các bên đương sự do đó nó đòi hỏi việc công nhận và thi hành
tại một quốc gia khác. Hơn nữa, việc công nhận tránh được việc xét xử trùng lắp
(cùng một sự việc, giữa cùng các đương sự) giữa các Toà án , giảm tốn kém cho
việc xét xử và tránh xảy ra việc tranh chấp không có hồi kết thúc.
Trong sự hợp tác quốc tế mở rộng giữa Việt Nam và thế giới hiện nay, sự công
nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại VN trg
những đkiện phù hợp là hết sức cần thiết và có ý nghĩa kte, chính trị và pháp lý rất
quan trọng. Có thể thấy điều này qua một số phân tích sau:
+ Trước tiên nếu không thực hiện công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân
sự của tòa án nước ngoài thì có nguy cơ lợi ích chính đáng của các bên không được
bảo vệ, những hành vi vi phạm pháp luật không làm phát sinh hậu quả bất lợi cho
các chủ thể thực hiện hành vi đó. Sự bất an toàn về pháp lý này sẽ kìm hãm các
quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài phát triển. Bên cạnh đó việc
công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài còn góp
phần thúc đẩy quan hệ hợp tác bình đẳng tự nguyện giữa các cá nhân và pháp nhân
của các quốc gia.
+ Trong khi đó việc Công nhân thi hành bản án nước ngoài sẽ bảo vệ lợi ích
của bên thắng kiện dựa trên cơ sở sự công bằng cho bên thắng kiện, bởi vì sẽ thật
bất công khi buộc bên thẳng kiện phải khởi đầu lại quá trình xét xử vụ việc đó lần
nữa mà lần này có thể sẽ khó khăn khi họ phải taaph hợp tại vaath chứng, nhân
chứng mà đôi khi ko thể tâp hợp lại đc. Công nhận …còn tạo ra môi trg pháp
lý ổn định và dự đoán đc, từ đó thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế. Bởi
Sự phát triển của của thương mại quốc tế luôn đi kèm với tranh chấp tuhwong mại
gia tăng. Các nhà kinh doanh đều chỉ quan tâm deens sự an toàn và dự đoán đc trg
các giao dịch thương mại quốc tế. các quốc gia có thể nhận thức rằng nếu họ muốn
xúc tiến thương mại quốc tế họ cần đáp ưng mong đợi này của nhà kinh doanh.
+… cũng Sẽ hạn chế chi phí tư pháp của quốc gia được yêu cầu công nhận
và chi phí của các bên tranh chấp. Bởi nếu 1 bản án nước ngoài ko đc công nhận vụ
việc sẽ phải xem xét lại, điều này gây tốn kém và thêm công việc cho tòa án của nc
văn minh tiến bộ trên thế giới hiện nay. Do đó chính sách này sẽ được ủng hộ rộng
rãi trên thế giới.
- Còn xét trên phương diện kinh tế, sự công nhận và cho thi hành bản án, quyết
định dân sự của tòa án nước ngoài sẽ góp phần thúc đẩy quan hệ kinh té giữa nước
ta với các quốc gia hữu quan phát triển. Bởi vì, về nguyên tắc các quốc gia phải tạo
các điều kiện thuận lợi sau”
+ Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh
+ Có môi trường pháp lý thuận lợi đảm bảo cho việc cạnh tranh đó.
+ có cơ chế giải quyết tranh chấp thuận lợi
+ có biện pháp bảo đảm cho các ản án quyết định của tòa án, trọng tài được công
nhận và thực thi một cách có hiệu quả.
Như vậy, việc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài
là một trong những điều kiện rất quan trọng để thúc đẩy sự hợp tác kinh tế. Bên
cạnh đó, công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoà
có ý nghĩa quan trọng trg phát triển kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay. Điều này
thể hiện ở chỗ nếu như bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài không
được công nhận và cho thi hành tại VN sẽ làm giảm bớt sự đầu tư, giảm bớt cơ hội
tham gia quan hệ kinh tế với nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam dưới các
hình thức khác nhau vì lo ngại rằng trong t/h có tranh chấp phát sinh và đc giải
quyết bằng tòa án nước ngoài mà bên thua kiện là VN và tài sản liên quan đến tranh
chấp ở VN. Điều đó sẽ làm giảm bớt hào hứng đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào
Vn và cơ hội tham gia các hợp đồng kte với thương nhân nước ngoài của thương
nhân Vn cũng giảm xuống.
Ngoài ra việc bảo vệ lợi ích của cá nhân, pháp nhân nước ngoài cũng chính là việc
bảo vệ lợi ích kinh tế của cá nhân và pháp nhân nước nước ta. Thể hiện: nó thúc
đẩy quan hệ kinh tế giữa cá nhân, pháp nhân nc ta với cá nhân, pháp nhân nc ngoài.
Đó cũng là cơ sở khác công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án
nước ta tại nước ngoài, theo đó sẽ đảm bảo quyền lợi cho CD VN.
- Cuối cùng, trên phương diện pháp luật: việc công nhận và cho thi hành bản án,
quyết định dân sự của tòa án nước ngoài góp phần khắc phục những khiếm khuyết
Mông cổ 7/4/2000; Belarus 14/9/2000…và mới đây là việc tham gia đàm phán
cong ước quốc tế đa phương The Hague về công nhận bản án nước ngoài…
II. Thực trạng của việc công nhận và cho thi hành tại VN bản án, quyết định dân
sự của tòa án nước ngoài.
1. Thực trạng pháp luật:
Thứ nhất, Các quy định về công nhận và thi hành tại VN bản án, quyết định dân sự
của tòa án nước ngoài được ghi nhận trong cả các điều ước quốc tế và pháp luật
quốc gia. Những quy định này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc công nhận
và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước nước ngoài tại việt Nam.
Cụ thể:
Trước hết, Việt Nam đã tham gia Công ước về công nhận và thi hành quyết định của
Trọng tài nước ngoài ngày 10/6.1958 (Công ước NewYork năm 1958) – Các quy
định về Việc công nhận và thi hành các quyết định của Trọng tài nước ngoài theo
công ước này hiện nay được hầu hết các nước áp dụng. Trong các Hiệp định tương
trợ tư pháp mà nước ta ký thời gian gần đây (Hiệp định với Nga, Trung Quốc,
Pháp) cũng quy định đối với việc công nhận và thi hành các quyết định của Trọng
tài thực hiện theo các quy định của Công ước này. Nội dung Công ước New York
quy định các nước thành viên phải công nhận các phán quyết Trọng tài được đưa ra
ngoài lãnh thổ của họ và các phán quyết không được coi là phán quyết trong nước
của các nước thành viên. Các phán quyết Trọng tài nước ngoài sẽ được thi hành
như những quyết định của Toà án địa phương và hệ thống các cơ quan tư pháp của
Nhà nước có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thi hành phán quyết.
Tiếp theo là việc tham gia Các Hiệp định song phương về tương trợ tư pháp giữa
Việt Nam và các nước về lính vực công nhận và cho thi hành tại VN bản án, quyết
định dân sự của toà án nước ngoài. Cho đến nay, Việt Nam đã ký kết với 14 nước
Hiệp định song phương về tương trợ tư pháp, bao gồm: Liên bang Nga, Séc,
Xlôvakia, Ba Lan, Hungari, Bungari, CuBa, CHDCND Lào, Trung Quốc,
CHDCND Triều Tiên, Ucraina, Belarut, Pháp, Mông Cổ. Tất cả các Hiệp định song
phương này đều có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân
sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài. Ngoài ra các ĐƯQT
a/ Phạm vi công nhận và thi hành: các bản án, quyết định của nước ngoài được
công nhận và cho thi hành bao gồm: bản án, quyết định dân sự; phần dân sự trong
bản án hình sự; các quyết định của Trọng tài thương mại. Đặc biệt trong một số các
Hiệp định tương trợ tư pháp ký với các nước còn phân biệt các bản án, quyết định
dân sự có tính chất tài sản và bản án, quyết định không mang tính chất tài sản trong
việc công nhận và cho thi hành. Điều 51 Hiệp định với Nga quy định đối với các
bản án, quyết định dân sự không mang tính tài sản của Bên ký kết này được công
nhận trên lãnh thổ của Bên ký kết kia mà không phải qua một thủ tục đặc biệt nào.
Như vậy, ở đây có thể hiểu việc Toà án xem xét công nhận và cho thi hành chủ yếu
đặt ra đối với các bản án, quyết định có tính chất tài sản và trong tương lai sẽ phải
áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành nếu người phải thi hành án không tự
nguyệnthi hành.
b/ Điều kiện công nhận và thi hành: các Hiệp định đều quy định rất cụ thể các điều
kiện đặt ra đối với một bản án, quyết định để có thể được công nhận và cho thi
hành. Tựu chung lại có 3 điều kiện chính:
Thứ nhất, bản án, quyết định phải có hiệu lực pháp luật trên lãnh thổ nước tuyên
bản án, quyết định đó.
Thứ hai, bản án, quyết định được cơ quan có thẩm quyền tuyên.
Thứ ba, các thủ tục tố tụng (liên quan đến luật hình thức) phải được đảm bảo.
c/ Đơn yêu cầu: việc công nhận và cho thi hành chỉ đặt ra khi có yêu cầu. Các nước
sẽ chỉ đặt ra việc xem xét công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của nước
ngoài tại nước mình nếu có yêu cầu của đương sự có liên quan hoặc cơ quan có