ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*******
TRẦN THỊ HỒNG VÂN
XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƢƠNG TRÌNH
TRUYỀN HÌNH QUA SẢN PHẨM CỦA CÁC
CÔNG TY TRUYỀN THÔNG: CÁT TIÊN SA, LASTA,
HOA HỒNG VÀNG TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2010
TRÊN SÓNG ĐÀI TRUYỀN HÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Mã số: 60 32 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS DƢƠNG XUÂN SƠN
TP.HCM, 2011 2
DANH MỤC VIẾT TẮT XHH: Xã hội hóa
TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
HTV: Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh
Cát Tiên Sa: Công ty TNHH Đầu tư và Quảng cáo Cát Tiên Sa
Lasta: Công ty cổ phần L.A.S.T.A
Hoa hồng vàng: Công ty TNHH Truyền thông Hoa Hồng Vàng
TP.HCM 20
1.3 Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình là một xu
hướng tất yếu 22
1.3.1 Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình đáp ứng yêu
cầu phát triển của truyền hình 22
1.3.2 Các yếu tố tác động đến xã hội hóa sản xuất chương trình
truyền hình 25
1.3.3 Đối tượng tham gia vào xã hội hóa sản xuất chương trình
truyền hình 30
4
Tiểu kết chương 1 34
CHƢƠNG 2:
THỰC TRẠNG XÃ HỘI HOÁ SẢN XUẤT CHƢƠNG TRÌNH
TRUYỀN HÌNH CỦA CÁC CÔNG TY TRUYỀN THÔNG TẠI
TP.HCM (TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2010) 36
2.1 Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình trên sóng của
HTV 36
2.1.1 Vài nét về sự hình thành và phát triển của HTV 36
2.1.2 Sự tham gia của các công ty truyền thông 38
2.1.3 Phương thức phối hợp giữa HTV và công ty truyền thông 42
2.2 Ưu thế của các chương trình truyền hình của Cát Tiên Sa,
Lasta, Hoa Hồng Vàng từ năm 2008 đến năm 2010 47
2.2.1 Cát Tiên Sa-công ty truyền thông hàng đầu của các chương
trình truyền hình giài trí 47
2.2.2 Lasta-nhà sản xuất truyền hình chuyên nghiệp 54
2.2.3 Hoa Hồng Vàng-công ty truyền thông mới trong lĩnh vực sản
xuất chương trình truyền hình 62
2.3 Hạn chế trong xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình . 65
2.3.1 Chất lượng không đồng đều 65
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội hiện đại, truyền hình là một kênh thông tin quan trọng. So
với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam là một trong những quốc gia có số
lượng lớn các đài truyền hình. Theo Bộ Thông tin-Truyền thông, hiện cả nước
có 67 đài phát thanh-truyền hình, trong đó có 3 đài phủ sóng toàn quốc là Đài
Tiếng nói Việt Nam-VOV, Đài Truyền hình Việt Nam-VTV và Đài Truyền
hình kỹ thuật số VTC. 64 đài phát thanh truyền hình địa phương gồm 62 đài
phát thanh truyền hình của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, riêng
TP.HCM có 2 đài: Đài Truyền hình TP.HCM- HTV và Đài Tiếng nói nhân
dân TP.HCM-VOH. Số lượng các kênh truyền hình tại Việt Nam lên tới gần
200 kênh, trong đó có gần 100 chương trình truyền hình quảng bá. Bên cạnh
đó, nhiều chương trình truyền hình quốc gia và một số chương trình truyền
hình quảng bá khác được phát sóng trên mạng internet đến các khu vực, các
nước trên thế giới phục vụ thông tin đối ngoại.
Hiện nay, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, việc cạnh tranh thông
tin giữa các đài truyền hình, kênh truyền hình cũng là một xu thế tất yếu.
Công chúng ngày càng có trình độ cao và luôn đòi hỏi cao về chất lượng, nội
dung các chương trình truyền hình, đặc biệt là các chương trình truyền hình
giải trí. Bên cạnh đó, dưới sức ép của hàng trăm, hàng ngàn kênh truyền hình
cũng như sự phát triển chóng mặt của các loại hình internet bắt buộc những
người làm truyền hình phải luôn tìm những hướng đi mới cho sự phát triển
của truyền hình.
Nghị định 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích XHH đối với
hoạt động này không bị thao túng bởi quyền lợi cá nhân đang là vấn đề bức
8
xúc của công luận, vướng mắc của các công ty truyền thông và là sức nặng
đối với HTV trong tiến trình XHH.
Tìm hiểu vấn đề XHH sản xuất chương trình truyền hình trên sóng của
HTV để hoàn thiện, nâng cao chất lượng cho các chương trình đang phát sóng
do công ty truyền thông sản xuất đang là vấn đề cấp thiết. Chính vì vậy, người
viết chọn đề tài: “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình qua sản phẩm
của các công ty truyền thông: Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng từ năm
2008 đến năm 2010 trên sóng Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh” làm
luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Báo chí học, Trường Đại học Khoa học xã
hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên thế giới, các kênh truyền hình tư nhân hay các tập đoàn truyền
thông đã không còn xa lạ. Rất nhiều các kênh truyền hình nổi tiếng, hãng
truyền hình lớn của nước ngoài đã được “tư nhân hóa” và mang tính thương
mại. Ở các nước Tư Bản có hẳn ngành công nghiệp truyền thông. Những
hãng: BBC, AP đã vươn tầm hoạt động khắp thế giới. Trung Quốc cho phép
thành lập tập đoàn truyền thông năm 1996 và đến năm 2008 đã có 56 tập đoàn
truyền thông. Thực tế hoạt động của các hãng thông tấn, các tập đoàn truyền
thông nước ngoài có sự khác biệt với điều kiện ở Việt Nam, do đó tính chất
XHH ở các nước khác với thực tế ở Việt Nam.
XHH sản xuất chương trình truyền hình qua hoạt động của các công ty
truyền thông đã có từ nhiều năm trước và đến khi Việt Nam gia nhập WTO
thì hoạt động này ngày càng trở nên phong phú và đa dạng, mang tính hiệu
quả rõ rệt.
Thuật ngữ “xã hội hóa” sản xuất chương trình truyền hình cũng được
bàn luận nhiều. Việt Nam cũng đã có những tài liệu nghiên cứu về vấn đề
này. Tại Liên hoan truyền hình toàn quốc lần thứ 25 (ngày 05/01/2006) tại
sóng” trên tuanvietnam.net, “Xã hội hóa truyền hình: Cuộc cạnh tranh của
đẳng cấp” trên laodongonline.com, “Truyền hình được xã hội hóa mạnh mẽ”
trên ITCnews
Như vậy, chưa có đề tài nào đi sâu, khảo sát nghiên cứu vấn đề XHH
sản xuất chương trình truyền hình với sự tham gia của các công ty truyền
thông trên sóng HTV.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
-Luận văn có mục đích tìm hiểu về vấn đề XHH sản xuất chương trình
truyền hình tại HTV, khảo sát đánh giá chất lượng sản phẩm truyền hình của
các công ty truyền thông Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng
3.2 Nhiệm vụ
-Làm rõ vấn đề XHH sản xuất chương trình truyền hình với sự tham gia
của các công ty truyền thông. Trong đó, làm nổi bật mối quan hệ giữa HTV
và các công ty truyền thông tham gia sản xuất chương trình truyền hình.
-Phân tích các chương trình do công ty truyền thông sản xuất trên HTV
từ năm 2008 đến năm 2010. Đồng thời, tiến hành khảo sát thực tế các chương
trình đang phát sóng trên HTV của các công ty Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng
Vàng.
-Từ đó, đưa ra những giải pháp hữu dụng cho việc cải tiến và nâng cao
chất lượng chương trình liên kết sản xuất trên HTV trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các công ty truyền thông tại
TP.HCM đang liên kết sản xuất chương trình truyền hình với HTV.
-Luận văn chú trọng khảo sát hiện trạng XHH sản xuất chương trình
truyền hình của các công ty truyền thông: Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng
từ năm 2008 đến năm 2010 trên sóng HTV.
11
những người làm truyền hình lâu năm để thu thập thông tin, số liệu phục vụ
việc phân tích, đánh giá.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn bổ sung thêm một số vấn đề lý luận báo chí về xu hướng
XHH truyền hình qua hoạt động thực tiễn của các công ty truyền thông trên
sóng HTV.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua nghiên cứu thực tiễn trên báo chí, tập trung vào các chương trình
được XHH ở khâu sản xuất của HTV, luận văn mang một cái nhìn khách quan
và toàn diện hơn về xu hướng XHH các chương trình truyền hình. Qua đó các
công ty truyền thông, những người hoạt động trong lĩnh vực truyền hình,
những nhà sản xuất chương trình truyền hình có một cái nhìn tổng quan hơn
về hoạt động XHH trên truyền hình hiện nay, đề xuất một số ý kiến, giải pháp
nâng cao chất lượng chương trình truyền hình của các công ty truyền thông
khi tham gia sản xuất chương trình cho HTV.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm có 3 chương và 9 mục, 84 trang.
Chương 1: Lý luận chung về xã hội hóa và xã hội hóa sản xuất chương
trình truyền hình thời kì hội nhập
Chương này giới thiệu các khái niệm về XHH và XHH sản xuất
chương trình truyền hình. Những điều kiện thuận lợi cho XHH sản xuất
chương trình ở TP.HCM như: điều kiện kinh tế xã hội, văn hóa, trình độ và
thói quen tiếp nhận thông tin của người dân. Chương 1 cũng chứng minh
13
XHH sản xuất chương trình truyền hình là một yêu cầu tất yếu, phù hợp với
sự phát triển của truyền hình
Chương 2: Thực trạng xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình
1.1 Vấn đề xã hội hóa và xã hội hóa sản xuất chƣơng trình truyền hình
1.1.1Xã hội hóa là gì
Theo từ điển Tiếng Việt, XHH là: “ Làm cho trở thành của chung của
xã hội” [27, tr.1051]
Theo Macionis John, J. XHH là : “một khái niệm của nhân loại học và
xã hội học được định nghĩa là một quá trình tương tác xã hội kéo dài suốt đời
qua đó cá nhân phát triển khả năng con người và học hỏi các mẫu văn hóa của
mình
”
[37,tr.154]
Khi chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, Đảng
và Nhà nước ta thừa nhận và tôn trọng sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế.
Nền kinh tế thị trường nước ta phát triển trên hình thức sở hữu nhiều thành
phần kinh tế, trong đó kinh tế thị trường hình thành từ quá trình XHH lao
động và sản xuất lấy giá trị sức lao động và hiệu quả của nó làm thước đo,
nên tiến trình XHH diễn ra theo quy luật giá trị thặng dư. Sự phát triển của
XHH dựa trên những tiến bộ kỹ thuật. Còn trình độ XHH cao hay thấp lại dựa
vào cách mạng khoa học-kỹ thuật đi đôi với tiến bộ trong cải cách tổ chức và
quản lý, tạo ra sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất xã hội. Quá
trình XHH trong kinh tế thị trường mang tính chất cạnh tranh để tồn tại và
phát triển giữa các tư nhân, cá thể, giữa các doanh nghiệp, tập đoàn và đang
phát triển sự cạnh tranh giữa các quốc gia. Cạnh tranh trong kinh tế thị trường
có tác dụng như một động lực phát triển cho nền kinh tế Việt Nam phát triển
và tăng trưởng. Cùng với quá trình này, khái niệm XHH không còn xa lạ. Nó
15
được hiểu là “làm cho mang tính xã hội” hay “huy động toàn xã hội tham
gia”.
Ở nước ta, cụm từ XHH xuất hiện khoảng cuối thập niên 90 của thế kỉ
giai đoạn 2000-2006: nền kinh tế của TP.HCM đa dạng về lĩnh vực, từ khai
thác mỏ, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch,
tài chính Cơ cấu kinh tế của thành phố, khu vực Nhà nước chiếm 33,3%,
ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài. Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1%. Phần
còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và
thủy sản chỉ chiếm 1,2%
.
Trong 5 năm qua (từ năm 2005), TP.HCM là đơn vị đi đầu trong nhiều
lĩnh vực, đặc biệt là công tác XHH giáo dục. XHH giáo dục đã khuyến khích
và tạo điều kiện cho nhiều thành phần kinh tế đầu tư nhằm đa dạng hóa các
loại hình đào tạo như trường dân lập, trường tư thục, trường có yếu tố nước
ngoài Nhờ đó, XHH giáo dục ở TP.HCM bước đầu đã có những thành công
nhất định khi số lượng trường ngoài công lập đã gần 100 và chiếm khoảng 1/6
lượng học sinh theo học. Không chỉ là học sinh ở TP.HCM mà các tỉnh lân
cận, các tỉnh miền Trung đều có học sinh theo học tại các trường này. Nhờ đó,
TP.HCM luôn được coi là điểm sáng đi đầu trong XHH giáo dục.
Sau hơn 10 năm triển khai XHH chăm sóc sức khỏe nhân dân,
TP.HCM hiện được đánh giá là một trong những địa phương gặt hái thành
công chủ trương này. Với 28 bệnh viện và hàng ngàn cơ sở hành nghề y dược
tư nhân, hệ thống y tế ngoài công lập này đang góp phần không nhỏ bảo vệ
sức khỏe người dân thành phố và các tỉnh lân cận. Một số bệnh viện tạo được
uy tín như: bệnh viện Triều An, Hoàn Mỹ, bệnh viện đa khoa quốc tế Vũ
Anh, bệnh viện Vạn Hạnh, bệnh viện liên doanh Pháp-Việt Về chuyên khoa
17
phải kể đến sự đóng góp của bệnh viện Phụ sản quốc tế Sài Gòn, bệnh viện
Tim Tâm Đức Theo Sở Y tế TP.HCM, tính đến cuối năm 2008, toàn thành
phố đã có hơn 13.000 cơ sở y dược hành nghề tư nhân với hơn 90 phòng
luôn có ý nghĩa lớn với mỗi nền báo chí, đánh dấu bước phát triển của báo
chí.
Là sản phẩm hàng hóa, báo chí chịu tác động của quy luật cạnh tranh
như bất cứ loại hàng hóa nào khác. Bán báo tức là bán thông tin. Các loại
công chúng khác nhau có nhu cầu khác nhau về thông tin. Mua báo tức là
mua giá trị thông tin in, phát trên tờ báo hoặc trên chương trình phát thanh,
truyền hình. Công chúng là khách hàng của báo chí, do vậy, họ có quyền lựa
chọn cho mình loại sản phẩm báo chí mà họ cảm thấy cần thiết, bổ ích.
Tầm quan trọng của thông tin thị trường có tác động tích cực hay tiêu
cực tới hiệu quả của một nền kinh tế. Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện
nay, thông tin thị trường càng được nhìn nhận như một yếu tố quan trọng
hàng đầu. Các hoạt động thông tin kinh doanh trong thương mại là bước đi
đầu tiên mà bất cứ nhà doanh nghiệp nào cũng cần phải có trước khi triển khai
các hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự phong phú hay nghèo nàn của thông
tin thị trường phụ thuộc vào mức độ sôi động hay trầm lắng của bản thân nền
kinh tế.
Những thành quả của công cuộc đổi mới trên đất nước ta chính là cơ
hội cho báo chí phát triển ngày càng mạnh mẽ. Điều đó thể hiện ở số lượng,
chất lượng sản phẩm báo chí và đội ngũ cán bộ báo chí. Tất cả những điều
trên đã khiến cho diện mạo báo chí nước ta ngày càng phong phú và đa dạng
hơn.
19
Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã tác động
mạnh mẽ và sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có báo chí.
Nó tạo điều kiện để báo chí phát triển, tự đổi mới để thích ứng với yêu cầu
của cơ chế mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao quyền được thông tin của
nhân dân và đã thực sự thu hút được nhiều người đọc, người xem hơn.
Cùng với cuộc cách mạng công nghệ thông tin, sự phát triển đa dạng,
những nhà báo có tài. Cơ chế thị trường còn tạo điều kiện cho báo chí tháo gỡ
khó khăn để phát triển, đã kích thích mạnh mẽ được tính chủ động, sáng tạo
của người làm báo và của cơ quan báo chí. Báo chí trong cơ chế thị trường có
sức hút mạnh mẽ, góp phần thỏa mãn những nhu cầu thông tin đa dạng, nhiều
chiều, cấp bách trên nhiều lĩnh vực mà người tiêu dùng đòi hỏi. Thêm nữa,
các phương tiện thông tin đại chúng luôn phải cạnh tranh nhau để chiếm được
sự quan tâm của công chúng. Trong quá trình cạnh tranh thì những nội dung
thông tin hấp dẫn luôn là những tài nguyên khan hiếm với bất kì một cơ quan
báo chí nào. Mỗi tờ báo đều được cải tiến về nội dung và hình thức thông tin,
cải tiến trong cách in ấn và trình bày, cố gắng nắm bắt nhu cầu bạn đọc, chủ
động phát hành nhanh và rộng, quan tâm hơn đến hiệu quả trực tiếp của hoạt
động báo chí. Các tờ báo phải luôn luôn quan tâm đến độc giả, phải tính đến
hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn bỏ ra, phải quản lý và tính toán chặt chẽ
có hiệu quả các chi phí sản xuất, bố trí hợp lý và mở rộng việc tiêu thụ các sản
phẩm của mình.
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, nghề làm báo cũng trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp. Trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, báo chí cũng trở thành một loại hàng hóa nhưng là một loại hàng
hóa đặc biệt. Nó phải trở thành món ăn tinh thần bổ ích, thiết thực của quần
21
chúng đang thực hiện công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Nếu để cho mặt tiêu cực của cơ chế thị trường lấn át, trước
hết là để cho mặt trái của xu hướng thương mại chi phối, báo chí sẽ mất đi sức
mạnh của mình.
1.2.2 TP.HCM có những điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động
báo chí
TP.HCM là đô thị lớn nhất cả nước với dân số khoảng 8 triệu người,
chiếm hơn 9% dân số cả nước. Là nơi hội tụ văn hóa đông tây, do ảnh hưởng
của quá trình hình thành và phát triển, TP.HCM là nơi hội tụ nhiều dòng chảy
Long An, Bà Rịa Vũng Tàu, Tây Ninh chưa kể đến hệ thống truyền hình
cáp, truyền hình kĩ thuật số với hàng trăm kênh truyền hình. Hoạt động của
HTV là một dẫn chứng cụ thể và sinh động nhất cho hoạt động hiệu quả của
truyền thông. Ở khu vực miền Tây Nam bộ, có thể nói HTV là Đài truyền
hình có tầm ảnh hưởng nhất. Những chương trình như: Vượt lên chính mình,
Ngôi nhà mơ ước, Câu chuyện ước mơ, Vì ngày mai tươi sáng… tạo được sự
đồng thuận mạnh mẽ từ phía người xem. HTV luôn chú trọng đến nhu cầu, thị
hiếu của người xem, luôn luôn đổi mới các chương trình của mình nhằm
hướng đến mọi đối tượng công chúng: vừa là doanh nghiệp, vừa là người lao
động, người cao tuổi, giới trí thức Chính vì lẽ đó, HTV luôn có một lượng
khán giả đông đảo đủ mọi ngành nghề, mọi lứa tuổi. Chịu khó đầu tư, luôn
mới mẻ là điều mà công chúng ghi nhận từ hoạt động của HTV.
1.2.3 Truyền hình trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân
TP.HCM
Kể từ những năm cuối thập niên 30 của thế kỉ XX-thời điểm đánh dấu
sự ra đời của truyền hình ở Anh và Mỹ đến nay, vô tuyến truyền hình ngày
càng phổ biến và trở thành phương tiện truyền thông mang tính quần chúng
23
rộng rãi. Kỹ thuật ngày càng hiện đại truyền hình trở thành phương tiện
truyền tin nhanh nhạy và hấp dẫn nhất. Nếu như cách đây vài chục năm, sự
phát triển tiến bộ của truyền hình được lấy mốc là thập kỉ, thì ngày nay chỉ
còn được tính bằng năm, hay thậm chí bằng tháng. Sự phát triển này không
chỉ dựa vào những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ mà còn dựa
vào những thay đổi tâm lý thưởng ngoạn và việc cải tiến liên tục về mặt nội
dung chương trình.
Bên cạnh các chức năng cơ bản của truyền hình như: chức năng thông
tin, chức năng tư tưởng, chức năng tổ chức-quản lý xã hội, chức năng giám
sát xã hội thì chức năng phát triển văn hóa và giải trí của truyền hình là một
chức năng quan trọng và ngày càng được xem trọng, đặc biệt là ở đô thị lớn
đổi cách thức sử dụng thời gian rỗi đó phản ánh những đặc điểm văn hóa mới
của xã hội, nó tạo ra tập quán, thói quen mới: học thêm, đọc báo, đọc sách,
chơi thể thao, nghe xem băng, nghe radio, xem truyền hình
1.3 Xã hội hóa sản xuất các chƣơng trình truyền hình là một xu hƣớng
tất yếu
1.3.1 Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình đáp ứng yêu
cầu phát triển của truyền hình
Bất cứ tờ báo nào hoạt động hiệu quả đều phải huy động đội ngũ cộng
tác viên có chất lượng, huy động sự đóng góp năng lực, chất xám ngoài xã hội
để làm cho thông tin phong phú, đa dạng hơn.
Từ khoảng những năm 90 của thế kỷ XX, các đài truyền hình từ Trung
ương đến địa phương đã tiến những bước dài trong mọi lĩnh vực, từ kỹ thuật,
công nghệ truyền hình đến việc cải tiến nội dung chương trình, từ việc tăng
thời lượng phát sóng, tăng kênh đến việc đổi mới bộ máy cơ cấu tổ chức nhân