ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐOÀN THỊ PHƢƠNG LIÊN
TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG MÔ HÌNH HỖ TRỢ PHỤC HỒI
CHỨC NĂNG VÀ HƢỚNG NGHIỆP DẠY NGHỀ CHO
TRẺ NHIỄM CHẤT ĐỘC HÓA HỌC HIỆN ĐANG SỐNG
TẠI LÀNG HỮU NGHỊ VIỆT NAM
(Xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Công tác xã hội
GV hƣớng dẫn GS.TS. Tô Duy Hợp
Chủ tịch hội đồng PGS. TS Nguyễn Hồi Loan Hà Nội - 2014 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những thông tin, số liệu trong luận văn hoàn toàn là
sự thật và đã được những người có liên quan đồng ý cho sử dụng. Tôi xin chịu
trách nhiệm về tính xác thực của các thông tin có trong luận văn.
Hà Nội, tháng 3 năm 2014
Học viên Đoàn Thị Phương Liên MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 9
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 12
6. Câu hỏi nghiên cứu 12
7. Giả thuyết nghiên cứu 13
8. Phƣơng pháp nghiên cứu 14
9. Kết cấu của luận văn 17
PHẦN NỘI DUNG 19
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 19
1. Cơ sở lý luận 19
1.1 Khái niệm chủ chốt 19
1.1.1. Người hoạt động kháng chiến: 19
1.1.2. Chất độc hóa học: 19
1.1.3. Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học: 19
1.1.4. Trẻ em 20
1.1.5. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 21
1.1.6.Trẻ em bị nhiễm chất độc hóa học 21
1.1.7. Phục hồi chức năng 21
1.1.8. Nghề 23
Hữu Nghị 95
3.1.2 Sức khỏe, dinh dưỡng 98
3.1.3 Về giáo dục, dạy nghề 101
3.1.4 Về văn hóa, thể thao và giải trí 104 3.2 Những việc cần làm để nâng cao hiệu quả của mô hình hỗ trợ phục
hồi chức năng và hƣớng nghiệp dạy nghề cho trẻ bị nhiễm chất độc hóa
học đang sống tại Làng Hữu Nghị sao cho phù hợp với tình hình Hà
Nội hiện nay. 107
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 116
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Người bị nhiễm chất độc hóa học là một trong những vấn đề đang nhận
được nhiều sự quan tâm không chỉ riêng ở Việt Nam mà còn trên toàn thế
giới. Theo con số thống kê của Bộ Lao Động - Thương binh và Xã hội ở Việt
Nam có 4,8 triệu người bị phơi nhiễm chất da cam, trong đó có 3 triệu người
là nạn nhân chất độc da cam và 150.000 trẻ em- con của những người tham
gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học bị dị tật bẩm sinh trực tiếp từ hậu
quả của chất độc da cam/dioxin [38.2.1]. Nguyên nhân gây nên tình trạng này
chính là do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ hậu quả của chiến tranh và dự
báo trong nhiều năm tới số lượng người bị nhiễm chất độc hóa học ở Việt
Nam vẫn chưa phải đã chấm dứt hẳn.
Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và triển khai nhiều
trong các nhóm đối tượng nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên
cứu, các nhà khoa học, các chuyên gia từ trong nước đến quốc tế. Trong phạm
vi nghiên cứu này tác giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài
viết tiêu biểu về trẻ em nói chung và trẻ em nhiễm chất độc hóa học nói riêng.
Khi nói đến các các tổ chức quốc tế chuyên nghiên cứu về trẻ em thì
trước tiên mọi người thường nghĩ tới các công trình của UNICEF. Đây là tổ
chức có uy tín, đi đầu thế giới trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em trên phạm
vi toàn cầu.
Năm 2009 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với
UNICEF tiến hành nghiên cứu và xây dựng tài liệu “xây dựng môi trường bảo
vệ trẻ em Việt nam đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt
là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam”. Tài liệu này đã trình bày một
cách tổng quan về tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em dễ bị tổn
thương ở Việt Nam, các hoạt động phòng ngừa sơ cấp và thứ cấp để bảo vệ
trẻ em ở Việt Nam. Cuốn sách này đã phân tích các quy định của quốc tế, tiêu
chuẩn quốc tế trong việc chăm sóc từng nhóm trẻ em, hệ thống luật pháp, 3
chính sách và hoạt động thực tiễn chăm sóc các nhóm trẻ em, các hoạt đông
trợ giúp chăm sóc về y tế và phục hồi Trong số các phân tích về về xây
dựng môi trường bảo vệ các nhóm trẻ em thì phân tích về nhóm trẻ khuyết tật
được phân tích khá kỹ. Phân tích này đã chỉ ra quyền của trẻ em khuyết tật, hệ
thống luật pháp, chính sách hỗ trợ trẻ em khuyết tật của Việt Nam, những
dịch vụ chăm sóc y tế và phục hồi đối với các em, chính sách giáo dục đối với
trẻ khuyết tật, các hoạt động trợ giúp cho gia đình các em, vấn đề chăm sóc
thay thế và dạy nghề và tạo việc làm cho các em khuyết tật. Có thể, nói với
những phân tích chi tiết và cụ thể này cuốn tài liệu hướng dẫn đã chỉ ra thực
trạng, đưa ra những khuyến nghị sát với thực tế để việc chăm sóc bảo vệ trẻ
em khuyết tật nói riêng và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được tốt hơn [5].
hòa nhập trẻ khuyết tật vào xã hội bởi vì khi các em được tham gia đầy đủ vào
xã hội thì tất cả mọi người đều có lợi. Ví dụ, giáo dục hòa nhập mở mang tri
thức cho mọi trẻ em và đồng thời mang lại cho trẻ em khuyết tật cơ hội thực
hiện hoài bão của mình. Rút cuộc trẻ em khuyết tật trở thành những người yếu
thế nhất trên thế giới. Trẻ em nghèo thuộc nhóm ít có khả năng được đi học
hoặc chăm sóc y tế nhưng các em vừa nghèo lại vừa khuyết tật thì còn có ít
khả năng hơn nữa trong việc tiếp cận các dịch vụ này. Giới là một yếu tố quan
trọng, vì trẻ em gái khuyết tật thường ít được nhận thức ăn và sự chăm sóc
hơn trẻ em trai khuyết tật.
Báo cáo kêu gọi các Chính phủ phê chuẩn và thực hiện Công ước về
Quyền của Người khuyết tật và Công ước Quyền Trẻ em, và có những hỗ trợ
cho các gia đình để họ có thể đáp ứng được các chi phí thường cao hơn mức
bình thường trong chăm sóc trẻ em khuyết tật. Đồng thời, báo cáo cũng kêu
gọi các biện pháp chống phân biệt đối xử trong cộng đồng, những nhà hoạch
định chính sách và những người cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục
và y tế [36].
Ngoài các nghiên cứu của UNICEF còn có nhiều công trình nghiên cứu
về trẻ em của các tác giả trong nước được đánh giá cao. Trong số các tác giả 5
và các nghiên cứu đó ta có thể kế tới tiến sỹ Mai Thị Kim Thanh với chuyên
đề “Tìm hiểu ảnh hưởng của quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia
đình với nhau và với trẻ tới sức khỏe của trẻ em trong các gia đình Việt Nam
hiện nay”. Nghiên cứu này được đăng trên Kỉ yếu Hội nghị Khoa học nữ Đại
học Quốc gia Hà Nội lần thứ 6 năm 2001. Trong nghiên cứu này thông qua
các biện pháp thu thập thông tin tác giả đã nhận định mức độ tâm sự của
những người thân trong gia đình đối với trẻ em được thể hiện như sau: tâm sự
giữa bố, mẹ với con chiếm 46,2%, ông bà với cháu chiếm 24,8%, mẹ với con
chiếm 24,7%, ít tâm sự chiếm 8,0%, anh chị em với nhau chiếm 5,8%, bố với
trình nghiên cứu về nó. Trong những năm gần đây các nhà khoa học Việt
Nam và trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu về các tác hại của
chất da cam, ảnh hưởng của nó tới sức khỏe của con người như thế nào?
Những bệnh tật nào mà con người mắc phải mà nguyên nhân là nhiễm chất da
cam? Bao nhiêu thế hệ sẽ bị ảnh hưởng bởi chất da cam? Cách thức chữa trị,
giải độc đối với người phơi nhiễm chất da cam như thế nào? Có cách nào để
khắc phục môi trường nơi bị nhiễm chất độc da cam? Biện pháp nào có thể hỗ
trợ nạn nhân chất độc da cam?
Trong phạm vi nghiên cứu này tôi quan tâm một số nghiên cứu, bài viết
của một số tác giả về đề tài nạn nhân chất độc hóa học, trẻ em nhiễm chất độc
hóa học.
Bài viết: “Người mẹ 35 năm nuôi con bệnh tật” của tác giả Cao Tuân-
Duy Tuyên đăng trong cuốn sách “Khát vọng và sẻ chia” được Hội nạn nhân
chất độc da cam dioxin xuất bản năm 2011. Bài viết đã kể lại câu chuyện của
một bà mẹ có con bị nhiễm chất độc hóa học, suốt 35 năm bà cố gắng làm
việc kiếm tiền để có thể chăm sóc, thuốc men cho đứa con gầy gò, co quắp,
người lở loét. Suốt 35 năm mọi sinh hoạt của đứa con trai ấy chỉ nằm gọn
trong một góc buồng chật hẹp. Mọi chuyện ăn uống, vệ sinh, tắm giặt đều do
một tay bà Bình người mẹ khổ hạnh đó lo toan. Đến nay tuổi của người mẹ đó 7
đã cao, sức đã yếu việc lao động kiếm tiền lo cho bữa ăn hàng ngày của hai
mẹ con càng thêm khó khăn. Kết thúc bài viết là hình ảnh người mẹ già hàng
đêm thức trắng trông đứa con bệnh tật. Một bài viết khiến cho tất cả những
người đọc đều cảm thấy xót thương và cảm phục tấm lòng của người mẹ có
con bị nhiễm chất độc hóa học đồng thời căm phẫn về tội ác chiến tranh mà
Mỹ đã để lại sau cuộc chiến ở nước ta [16; tr105-108].
Bài viết “Tiếng khóc của người lính già” của tác giả T. Phan đăng trên
báo điện tử Vietnamnet.vn và sau đó đã được Hội nạn nhân chất độc da
bệnh. Căn nhà của ông mái nhiều chỗ có lỗ thủng mà chưa có tiền sửa chữa.
Chất độc hóa học đã khiến cho gia đình ông nghèo đói, bệnh tật, bất hạnh, con
cháu sinh ra không sống được. Đây là nỗi đau dai dẳng không chỉ về thể chất
mà còn cả tinh thần khiến cho bất kỳ ai có lương tri cũng phải rơi nước mắt
khi thấy hoàn cảnh của những gia đình như gia đình ông Đính [38.4].
Bên cạnh những bài viết, những công trình nghiên cứu của các nhà
khoa học thì còn có những cuốn sách viết về đề tài nạn nhân chất độc da cam
như cuốn sách: “Vì nỗi đau da cam” của Thông tấn xã Việt Nam, cuốn “120
câu hỏi và đáp về chất độc da cam Dioxin do Mỹ sử dụng trong chiến tranh”
của Bộ Tài Nguyên môi trường. Những cuốn sách này đã nói lên tác hại của
chất da cam tới sức khỏe của con người cùng những căn bệnh nguy hiểm mà
người nhiễm chất độc da cam có thể mắc phải.
Gần đây vào năm 2010 Th.s Nguyễn Bá Đạt có đề tài nghiên cứu “Tư
vấn hướng nghiệp trong công tác dạy nghề cho thanh niên, thiếu niên khuyết
tật nạn nhân chất độc hóa học”. Nghiên cứu này đã tìm hiểu và đánh giá được
thực trạng và nhu cầu của thanh thiếu niên khuyết tật là nạn nhân chất độc hóa
học. Những khó khăn của các em thanh thiếu niên khuyết tật do nhiễm chất
độc da cam khi tham gia học nghề. Mặt khác nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò
của công tác tư vấn hướng nghiệp dạy nghề cho nhóm đối tượng này. Với
những kết quả nghiên cứu được tác giả còn đề xuất biện pháp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động hướng nghiệp trong dạy nghề cho nhóm đối tượng này [14]. 9
Tuy nhiên hạn chế chung của tất cả các đề tài trên đều tập trung nghiên
cứu tác hại của chất độc hóa học cùng với vai trò hướng nghiệp trong dạy
nghề cho nhóm đối tượng khuyết tật do nhiễm chất độc hóa học mà chưa có
công trình nào hướng tới việc nghiên cứu và tìm hiểu đặc điểm hoạt động của
các mô hình phục hồi chức năng và hướng nghiệp trong dạy nghề cho trẻ bị
nhiễm chất độc hóa học. Đây chính là lý do chúng tôi lựa chọn và tiến hành
chưa làm được như vậy thì bị coi là kém hiệu quả, đây là một cách nhìn lệch
lạc cần được điều chỉnh, khắc phục.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu góp phần cùng với Làng Hữu nghị xây dựng và
hoàn thiện mô hình chăm sóc, giáo dục và dạy nghề cho trẻ khuyết tật do bị
nhiễm chất độc hóa học kết hợp với dạy kỹ năng sống và hỗ trợ về mặt tâm lý
cho những trẻ em ấy- một hoạt động gắn liền với đặc trưng của công tác xã
hội. Từ đó mở rộng áp dụng mô hình, nhằm giúp cho trẻ khuyết tật bị nhiễm
chất độc hóa học là con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc
hóa học tăng cường kỹ năng sống tiến tới hòa nhập cộng đồng được tốt hơn.
Nghiên cứu giúp cho ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên nhận thức rõ hơn về tầm
quan trọng của việc kết hợp chăm sóc và dạy nghề, dạy kỹ năng sống song
song cùng các hoạt động hiện có tại Làng Hữu nghị.
Nghiên cứu giúp cho trẻ khuyết tật do bị nhiễm chất độc hóa học trong
Làng không những được chăm sóc chữa trị tốt hơn, được học nghề phù hợp
với khả năng và có thể tự nuôi sống bản thân bằng chính sức lao động của
mình mà còn được tham gia và quan tâm nhiều hơn về mặt tâm lý và được
tiếp cận các khóa học về kỹ năng sống, nâng cao kỹ năng đối phó với các biến
cố xảy ra khi hòa nhập xã hội.
Nghiên cứu này giúp cho gia đình người có công hiểu hơn về công việc
mà những nhân viên công tác xã hội ở Làng Hữu Nghị đang làm từ đó có sự
quan tâm, trợ giúp họ trong việc chăm sóc, dạy nghề cho con mình và yên tâm 11
hơn khi trẻ được giáo dục và đào tạo một cách một cách đầy đủ và bài bản cả
về chuyên môn nghề nghiệp và tâm lý.
Đồng thời thông qua tìm hiểu các hoạt động hỗ trợ cho trẻ khuyết tật do
nhiễm chất độc hóa học ở Làng, nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò cần có của
Nhân viên Công tác xã hội trong các hoạt động hỗ trợ trẻ, từ đó đề xuất cách
có nhằm hỗ trợ cho đối tượng chính sách - trẻ em bị khuyết tật là con đẻ
người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được nhiều hơn.
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng: Tìm hiểu hoạt động của mô hình hỗ trợ phục hồi chức
năng và hướng nghiệp trong dạy nghề cho trẻ khuyết tật do bị nhiễm chất độc
hóa học hiện nay đang sống tại làng Hữu Nghị Việt Nam.
5.2 Khách thể: Ban lãnh đạo Làng Hữu Nghị Việt Nam, cán bộ làm
việc tại Làng, trẻ bị nhiễm chất độc hóa học đang sống tại Làng.
5.3 Phạm vi: Trẻ bị nhiễm chất độc hóa học mà đề tài này hướng tới là
trẻ em khuyết tật do ảnh hưởng chất độc hóa học từ ông, cha, mẹ những người
hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đã được Đảng và Nhà nước
công nhận và được hưởng chính sách người hoạt động kháng chiến bị nhiễm
chất độc hóa học.
Nội dung của mô hình hỗ trợ phục hồi chức năng và học nghề cho trẻ
khuyết tật do bị nhiễm chất độc hóa học bao gồm: chữa trị bệnh lý do hậu quả
của chất độc hóa học, phục hồi chức năng cho đối tượng bị nhiễm chất độc
hóa học, liệu pháp âm nhạc trị liệu, tổ chức chò trơi nâng cao khả năng hòa
nhập cộng đồng, học nghề theo khả năng và sở thích… nhưng do điều kiện có
hạn tôi chỉ tập trung vào hoạt động chữa trị bệnh lý, phục hồi chức năng và
học nghề theo khả năng.
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Nền tảng triết lý cho hoạt động của mô hình chăm sóc, hỗ trợ trẻ bị
nhiễm chất độc hóa học tại Làng Hữu nghị là gì? 13
- Những nội dung nào trong hoạt động chăm sóc, hỗ trợ trẻ nhiễm chất
độc hóa học mà Làng Hữu nghị quan tâm và triển khai nhiều ? Hiệu quả ra
sao?
- So với mô hình những cơ sở phục hồi chức năng, dạy nghề cho trẻ
tượng được áp dụng để lí giải các vấn đề trong nghiên cứu. Hoạt động hỗ trợ
cho trẻ bị nhiễm chất độc hóa học sống tại Làng Hữu Nghị được coi trọng đã
đánh dấu một bước phát triển mới trong lịch sử phát triển xã hội của đất nước.
Chiến tranh bảo bảo vệ tổ quốc đã tạo lập ra nhóm những người hoạt động
kháng chiến có con bị khuyết tật do ảnh hưởng của chất độc hóa học. Họ
không phải là những cá nhân tồn tại riêng biệt mà là một bộ phận trong hệ
thống xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với tổ chức và thiết chế khác, vì vậy khi
nghiên cứu về hoạt động hỗ trợ cho trẻ em bị khuyết tật là con đẻ người hoạt
động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học chúng ta phải đặt nó trong mối
tương quan với điều kiện kinh tế - xã hội, hoàn cảnh sống Thông qua cái
nhìn biện chứng ấy, chúng ta sẽ có một cái nhìn khái quát nhất về hoạt động
hỗ trợ này của các Trung tâm chăm sóc nói chung, Làng Hữu Nghị nói riêng.
Quan điểm lịch sử, nguyên tắc lịch sử cụ thể, khách quan, toàn diện luôn được
quan tâm vận dụng và tuân thủ một cách chặt chẽ. Để tìm hiểu vấn đề nghiên
cứu một cách chân thực và chính xác nhất chúng ta không được áp đặt những
ý chí chủ quan, nóng vội, phiến diện mà phải tìm hiểu một cách khách quan,
đặt vấn đề nghiên cứu vào thời điểm lịch sử cụ thể và thực tế. Soi vào đề tài
nghiên cứu có thể thấy nhóm trẻ khuyết tật do bị nhiễm chất độc hóa học là
một nhóm xã hội đặc thù, hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn cả về mặt tinh
thần lẫn vật chất, vì vậy khi nghiên cứu hoạt động chăm sóc, hỗ trợ cho nhóm
người này chúng ta cần phải lấy quan điểm lịch sử làm cơ sở phương pháp
luận cho suốt quá trình nghiên cứu. Nói một cách khác, phải đặt trẻ vào những 15
điều kiện cụ thể, có như vậy mới biết chính xác nguyên nhân và có những giải
pháp nâng cao chất lượng chăm sóc và dạy nghề cho các em.
8.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Đề tài được triển khai dựa trên các phương pháp: quan sát, phỏng vấn
sâu, thảo luận nhóm, phân tích tài liệu.
16
8.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Tiến hành phỏng vấn sâu với:
- 1 Đại diện Ban lãnh đạo Làng Hữu Nghị.
- 5 Cán bộ, nhân viên tại Làng Hữu Nghị
- 10 Trẻ bị nhiễm chất độc hóa học
- 2 người đại diện bên gia đình trẻ bị nhiễm chất độc hóa học
8.2.3. Thảo luận nhóm: 2 cuộc thảo luận nhóm (Nhóm trẻ bị nhiễm
chất độc hóa học và Nhóm cán bộ, nhân viên)
Đề cương thảo luận nhóm:
Nhóm trẻ bị nhiễm chất độc hóa học:
Mục đích: Tìm hiểu về suy nghĩ, cảm nhận của trẻ bị nhiễm chất độc
hóa học về các hoạt động hỗ trợ trẻ trong Làng. Những khó khăn, thuận lợi
của trẻ khi sống tại Làng…
Số lượng trẻ tham gia: 10
Nhóm cán bộ, nhân viên:
Mục đích: Thu thập thông tin từ phía nhóm cán bộ, nhân viên về mô
hình hoạt động của Làng. Những khó khăn và thuận lợi khi triển khai các hoạt
động mà Làng đang gặp phải, đồng thời tìm hiểu sáng kiến của họ (dựa trên
nhận thức, kinh nghiệm đã có và điều kiện thực tế của Làng, của Việt Nam)
để bổ sung, hoàn thiện thêm mô hình đang có, ý kiến của cán bộ, nhân viên về
công việc họ đang tham gia giúp trẻ….
Số lượng tham gia: 8 người
8.2.4 Phân tích tài liệu sẵn có
Công trình sử dụng, trích dẫn, tổng hợp các số liệu, thông tin từ các
nguồn tài liệu có như:
+ Các báo cáo: Báo cáo phân tích tình hình trẻ em Việt Nam 2010 của
bàn khảo sát của đề tài.
Chương 2: Thực trạng hoạt động của mô hình hỗ trợ phục hồi chức
năng, hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ bị nhiễm chất độc hóa học đang sống 18
tại Làng Hữu Nghị Việt Nam hiện nay: Chương này nói về tình hình chữa trị,
phục hồi chức năng và dạy nghề cho trẻ em nhiễm chất độc hóa đang sống tại
Làng Hữu Nghị Việt Nam. Những nhân tố tác động tới hiệu quả hoạt động
của Làng.
Chương 3: Hiệu quả hoạt động của mô hình hỗ trợ phục hồi chức năng
và hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ nhiễm chất độc hóa học đang sống tại
Làng Hữu Nghị Việt Nam: Chương này đánh giá hiệu quả hoạt động của Làng
Hữu Nghị và đề xuất những việc cần làm để nâng cao hiệu quả mô hình hỗ trợ
phục hồi chức năng và hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ khuyết tật do nhiễm
chất độc hóa học đang sống tại Làng Hữu Nghị Việt Nam.