Dạng bị động trong tiếng Pháp và những phương thức biểu đạt tương đương trong tiếng Việt - Pdf 26


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
************************** ĐINH HỒNG VÂN
DẠNG BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG PHÁP
VÀ NHỮNG PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT
TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC Hà Nội - 2006 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

2. Mục đích của luận án 9
3. Đối tƣợng và nội dung nghiên cứu 10
4. Giả thuyết nghiên cứu 11
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 11
6. Phƣơng pháp và tƣ liệu nghiên cứu 12
7. Bố cục của luận án 13
CHƢƠNG 1 : NHỮNG NỘI DUNG LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 15
1.1. Những quan niệm chung về dạng bị động 15
1.1.1. Dạng và dạng bị động 15
1.1.1.1. Dạng là gì ? 15
1.1.1.2. Kết cấu là gì ? 17
1.1.1.3. Dạng bị động là gì ? 18
1.1.2. Dạng bị động trong ngữ pháp truyền thống 18
1.1.3. Dạng bị động trong ngữ pháp cải biến-tạo sinh 20
1.1.4. Dạng bị động trong loại hình học cú pháp 22
1.1.5. Dạng bị động trong ngữ pháp ngữ nghĩa-chức năng 23
1.1.5.1. Dạng bị động xét trên phƣơng diện chức năng dụng học 24
1.1.5.2. Dạng bị động xét trên phƣơng diện cấu trúc ngữ nghĩa 24
1.1.5.3. Dạng bị động xét trên phƣơng diện hình thái cú pháp 24
1.2. Những lý luận phổ biến liên quan đến dạng bị động của tiếng Pháp 24
1.2.1. Định nghĩa dựa trên ngữ nghĩa 25
1.2.2. Định nghĩa dựa trên hình thái 26
1.2.3. Định nghĩa dựa trên cú pháp 28
1.2.4. Định nghĩa dựa trên cả ngữ nghĩa lẫn hình thái 31
1.2.5. Định nghĩa dựa trên cả hình thái lẫn cú pháp 31
1.3. Vấn đề "bị động" trong tiếng Việt 34
1.3.1. Các quan niệm cho rằng tiếng Việt không có cấu trúc bị động 34
1.3.2. Các quan niệm cho rằng tiếng Việt có cấu trúc bị động 37
1.4. Phong cách học và việc sử dụng dạng bị động 45
CHƢƠNG 2 : NHỮNG PHƢƠNG DIỆN CƠ BẢN CỦA DẠNG BỊ ĐỘNG TRONG

2.2.3.2. Dạng bị động hƣớng sự chú ý vào đối tƣợng của hành động 98
2.2.3.3. Dạng bị động hƣớng sự chú ý vào chủ thể hành động 100
2.2.3.4. Dạng bị động trình bày sự việc theo góc nhìn của đích thể, nhấn mạnh tiến
trình của hành động 101
2.2.3.5. Dạng bị động bảo đảm tính liên kết đề tài 102
Tiểu kết 105
CHƢƠNG 3 : VIỆC CHUYỂN DỊCH CẤU TRÚC BỊ ĐỘNG TỪ TIẾNG PHÁP
SANG TIẾNG VIỆT 106
3.1. Một số miêu tả 106
3.1.1. Việc diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Việt 106
3.1.1.1. Những biện luận cho sự tồn tại của lối nói tiếp thụ-bị động tiếng Việt 107
3.1.1.2. Cấu trúc bị động hiện có trong tiếng Việt 112
3.1.1.3. So sánh lịch đại về tần số sử dụng cấu trúc bị động tiếng Việt 134
3.1.2. Việc chuyển dịch cấu trúc bị động tiếng Pháp sang tiếng Việt 135
3.1.2.1. Việc chuyển dịch cấu trúc bị động trong tác phẩm Miếng da lừa 136
3.1.2.2. Việc chuyển dịch cấu trúc bị động trong Hiến pháp CH Pháp 1958 140
3.2. Bàn luận 141
3.2.1. Những nét tƣơng đồng giữa dạng bị động của tiếng Pháp với lối nói tiếp thụ-bị
động của tiếng Việt 141
3.2.1.1. Về mặt hình thức 141

5
3.2.1.2. Về mặt chức năng và ý nghĩa 142
3.2.2. Những nét dị biệt giữa dạng bị động của tiếng Pháp với lối nói tiếp thụ-bị động
của tiếng Việt 143
Tiểu kết 146
CHƢƠNG 4 : MỘT KHẢO SÁT VỀ VIỆC SỬ DỤNG DẠNG BỊ ĐỘNG Ở NGƢỜI
VIỆT NAM HỌC TIẾNG PHÁP 148
4.1. Đặt vấn đề 148
4.1.1. Đối tƣợng khảo sát 148

de + SN
Giới từ DE + danh ngữ
être + PP
Động từ être + phân từ quá khứ
FF
1,2,…7
Cấu trúc bị động tiếng Pháp
N à INF
Danh từ + động từ nguyên thể
ND
Người dịch
P
1
Câu
par + SN
Giới từ PAR + danh ngữ
PPP
phân từ quá khứ bị động
PPR
Mệnh đề bị động
SN
Danh ngữ
SN
1
Danh ngữ tác thể
SN
2
Danh ngữ đích thể
Ts
Tổng số


1.1. Ý nghĩa lý luận
Dạng bị động là một hiện tƣợng ngữ pháp phổ biến trong các ngôn ngữ châu
Âu nói chung (tức là các ngôn ngữ khuất chiết hoặc ngôn ngữ có biến hình) cũng
nhƣ trong tiếng Pháp
Đây là một hiện tƣợng đặc biệt của động từ giúp ngƣời ta biểu đạt tƣ tƣởng
một cách phong phú hơn, nhất là qua ngôn ngữ viết và làm phong phú thêm các
phƣơng tiện phong cách. Dạng bị động và dạng chủ động làm thành một cặp đối lập
ngữ pháp mà ta gọi là phạm trù dạng. Ví dụ :
- L'agneau a été mangé par le loup. // Le loup a mangé l'agneau.
(Con cừu non bị con sói ăn thịt. // Con sói ăn thịt con cừu non.)
Ví dụ này cho thấy dạng bị động không phải là đơn nhất cho nên ngƣời sử
dụng có quyền chọn lựa và điều đó cũng có nghĩa là bên cạnh đặc trƣng ngữ pháp
thì dạng bị động này còn thể hiện chức năng phong cách của cú pháp.
Trong tiếng Pháp, dạng bị động là một phƣơng tiện biểu đạt xuất hiện muộn
hơn, chủ yếu là trong văn viết và ở một số phong cách nhất định. Việc nghiên cứu
dạng bị động tiếng Pháp trong mối liên hệ so sánh với tiếng Việt sẽ cho phép :
- làm sáng tỏ một số vấn đề về cách ứng xử của ngƣời Pháp.
- việc tìm hiểu về lối nói tiếp thụ-bị động ở tiếng Việt và có thể cũng sẽ làm
sáng tỏ một số vấn đề ngữ pháp tiếng Việt.
- Trong tình hình đó, luận án sẽ góp phần vào kho tàng lý luận tiếng Việt : cụ
thể là nguồn gốc và lai lịch của lối nói bị động trong tiếng Việt; vai trò và

8
ảnh hƣởng của tiếng Pháp đối với tiếng Việt trong cách diễn đạt ý nghĩa bị
động.
- Luận án này cũng sẽ góp phần củng cố quan điểm cho rằng cùng một ý nghĩa
ngữ pháp nhƣng có thể đƣợc biểu đạt bằng những phƣơng thức khác nhau ở
các ngôn ngữ khác nhau.


mang mục đích so sánh cơ bản, chưa quan tâm nhiều đến địa hạt sư phạm của ngôn
ngữ học đối chiếu." [37], luận án này sẽ đi sâu vào phân tích thực tiễn cách biểu đạt
ý nghĩa bị động trong hai ngôn ngữ ở trên bình diện ngôn ngữ nói chung cũng nhƣ
trên góc độ ngƣời học nói riêng để làm nổi rõ không chỉ những nét dị biệt mà cả
những nét tƣơng đồng giữa tiếng Việt và tiếng Pháp trong những vấn đề liên quan
đến việc biểu đạt ý nghĩa bị động.

Luận án này, sẽ góp phần :
- nâng cao chất lƣợng dạy và học tiếng Pháp ở ngƣời Việt Nam, giúp nắm
vững cách sử dụng dạng bị động tiếng Pháp theo phong cách của ngƣời
Pháp;
- làm sáng tỏ thêm một vài vấn đề có tính thực tiễn trong thực hành dịch, đặc
biệt là các cách chuyển dịch dạng bị động từ tiếng Pháp sang tiếng Việt.
- Nghiên cứu khả năng chuyển tải dạng bị động từ tiếng Pháp sang tiếng Việt
sẽ góp phần vào việc khai thác những khả năng tiềm tàng của tiếng Việt để
thực hiện các sắc thái ý nghĩa khác nhau của hiện tƣợng ngữ pháp này, làm
cho tiếng Việt có thể tiếp tục phát triển mà vẫn giữ đƣợc những nét đẹp riêng
vốn có của nó trong quá trình tiếp xúc với các ngôn ngữ khác.

2. Mục đích của luận án
- Mục đích của luận án này là nghiên cứu một hiện tƣợng ngữ pháp của tiếng
Pháp trong mối liên hệ so sánh với tiếng Việt đó là dạng bị động.

10
- Luận án sẽ xem xét một cách cụ thể các vấn đề về cấu trúc, ý nghĩa và vai trò
của dạng bị động.
- Luận án sẽ nhấn mạnh vào những nét tƣơng đồng vì cho dù cả hai ngôn ngữ
đều có những cấu trúc tƣơng đối giống nhau để biểu đạt ý nghĩa bị động,
nhƣng chính những nét tƣơng đồng này đã gây cho ngƣời học không ít
những điều ngộ nhận và khó khăn, nhất là khi trong tiếng Việt có sự khác

- Vì mỗi ngôn ngữ đều có những cách riêng để thể hiện ý nghĩa bị động nên
nếu không có sự so sánh đối chiếu giữa hai ngôn ngữ thì ngƣời học khó có
thể làm chủ đƣợc ngoại ngữ với tƣ cách là một phƣơng tiện giao tiếp hữu
hiệu.
- Vì lối nói tiếp thụ - bị động của tiếng Việt chịu ảnh hƣởng ít nhiều của dạng
bị động tiếng Pháp, nhất là thông qua con đƣờng dịch thuật nên nếu dịch giả
hiểu rõ đặc điểm của từng ngôn ngữ thì sẽ hạn chế đƣợc những chuyển di
tiêu cực.
- Nếu áp dụng phƣơng pháp tiếp cận về ngữ nghĩa cũng nhƣ làm rõ những nét
tƣơng đồng và những nét dị biệt giữa hai ngôn ngữ chứ không chỉ dừng lại ở
việc rèn luyện cấu trúc thì sẽ nâng cao đƣợc chất lƣợng dạy và học tiếng
Pháp nói chung và khắc phục đƣợc những khó khăn trƣớc dạng bị động tiếng
Pháp nói riêng.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án này sẽ có các nhiệm vụ sau :
1- Tìm hiểu lịch sử vấn đề dạng bị động và quan niệm lý luận của một số tác
giả có uy tín về dạng bị động nói chung và về dạng bị động trong tiếng
Pháp nói riêng;
2- Mô tả và khảo sát các cấu trúc cú pháp biểu thị ý nghĩa bị động trong
tiếng Pháp;

12
3- Tìm hiểu các chức năng của dạng bị động trong tiếng Pháp;
4- Nghiên cứu việc diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Việt sử dụng một số
từ nhƣ "bị, được, do, v.v ";
5- Tìm những cách dạy có hiệu quả để giúp cho ngƣời Việt Nam khi học
tiếng Pháp có khả năng sử dụng đƣợc hiện tƣợng ngữ pháp này trong các
quá trình hiểu (nghe - đọc) và nhất là trong diễn đạt (nói - viết).
6- Nghiên cứu những khả năng chuyển tải dạng bị động với những ý nghĩa

Phần mở đầu : Những vấn đề chung
Phần nội dung :
Chƣơng 1 : Những nội dung lý luận liên quan đến đề tài
Những quan niệm chung về dạng bị động
Những lý luận phổ biến liên quan đến dạng bị động của tiếng Pháp
Vấn đề "bị động" trong tiếng Việt
Phong cách học và dạng bị động
Chƣơng 2 : Những phƣơng diện cơ bản của dạng bị động trong tiếng Pháp
2.1. Dạng bị động nhìn từ phƣơng diện cấu trúc hình thức
2.1.1. Một số nhận xét và miêu tả dạng bị động trong tiếng Pháp
2.1.2. Các kiểu cấu trúc bị động có trong ngữ liệu
2.1.3. Tần số sử dụng của dạng bị động trong các dạng văn bản tiếng Pháp
2.2. Dạng bị động nhìn từ phƣơng diện ngữ nghĩa
2.2.1. Những ràng buộc về mặt ngữ nghĩa của dạng bị động
2.2.2. Chức năng của dạng bị động trong tiếng Pháp
Chƣơng 3 : Việc chuyển dịch cấu trúc bị động từ tiếng Pháp sang tiếng Việt
3.1. Một số miêu tả việc chuyển dịch cấu trúc bị động tiếng Pháp sang tiếng
Việt
3.1.1. Việc chuyển dịch cấu trúc bị động tiếng Pháp sang tiếng Việt
3.1.2. Việc diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Việt
3.2. Bàn luận

14
3.2.1. Những nét tƣơng đồng giữa dạng bị động của tiếng Pháp với việc diễn
đạt ý nghĩa bị động của tiếng Việt
3.2.2. Những nét dị biệt giữa dạng bị động của tiếng Pháp với lối nói tiếp
thụ-bị động của tiếng Việt
Chƣơng 4 : Thực trạng của việc sử dụng dạng bị động ở ngƣời Việt Nam học
tiếng Pháp
4.1. Đặt vấn đề

ngữ trực tiếp." [100:1121]. Theo quan niệm này, trong tiếng Pháp có dạng chủ
động, dạng bị động và dạng phản thân.
- Dạng chủ động : khi chủ ngữ chính là chủ thể hành động, còn bổ ngữ trực
tiếp của động từ chính là đối tƣợng của hành động : "Les spectateurs ont
piétiné la pelouse."(Khán giả giẫm lên thảm cỏ.);

16
- Dạng bị động : khi câu có một ngoại động từ và có thể cải biến sao cho
nghĩa sâu (sens profond) không thay đổi nhƣng có thể cho phép đối tƣợng
của hành động lên giữ vị trí chủ ngữ, chủ thể của hành động nếu xuất hiện
trong câu thì sẽ xuống giữ vai trò bổ ngữ chỉ tác nhân, còn động từ thì sẽ có
một dạng đặc biệt đó là sự kết hợp giữa trợ động từ être và phân từ quá khứ:
"La pelouse a été piétinée par les spectateurs." (Thảm cỏ bị khán giả giẫm lên.);
- Dạng phản thân : khi động từ có bổ ngữ chỉ đối tƣợng hình thức là một đại
từ có quy chiếu là chủ ngữ (G. Mauger, 117: 291) : Les vendanges se font à
la fin de l'été. (Vụ thu hoạch nho diễn ra vào mùa thu.)

Trong cuốn sách: “Dẫn luận ngôn ngữ học” của Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn
Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết [26:238] có định nghĩa nhƣ sau : "Dạng (thái):
là phạm trù ngữ pháp của động từ, biểu thị quan hệ giữa hành động với các sự vật
nói ở chủ ngữ và bổ ngữ của động từ ấy. Nếu dạng thức của động từ nói lên rằng sự
vật nêu ở chủ ngữ là đối tƣợng mà hành động hƣớng vào, còn kẻ thực hiện hành
động là sự vật nêu ở bổ ngữ, thì đó là dạng bị động của động từ."

Trong A Dictionary of Linguistics & Phonetics của David Crystal, dạng đƣợc
định nghĩa nhƣ sau :"Dạng là một phạm trù được dùng trong việc mô tả cấu trúc
câu hoặc mệnh đề chủ yếu liên quan đến động từ, để thể hiện cách mà các câu có
thể lựa chọn mối quan hệ giữa chủ ngữ và bổ ngữ của động từ, mà không làm thay
đổi nghĩa của câu." [130]


triệu người đọc.)
1.1.1.2. Kết cấu là gì ?
Trong ngôn ngữ, nhìn chung, "kết cấu" có thể đƣợc hiểu là sự kết hợp của
nhiều đơn vị ngữ pháp với nhau theo quan hệ ngữ đoạn và có một chức năng nhất
định. Theo định nghĩa trong Dictionnaire de l'Académie française thì "Kết cấu là sự
kết hợp của các từ theo các quy tắc và cách dùng của từng ngôn ngữ" [85]. Vậy,
một kết cấu có thể là một từ, một ngữ, một mệnh đề hoặc một câu. Một kết cấu bị
động có thể là :
- một động từ ở dạng bị động : amor – trong tiếng La tinh
- một động ngữ : a été supris par la police – trong tiếng Pháp
- một mệnh đề : (il craint d'être tué,) alors qu'il a été arrêté à deux reprises
par les autorités ivoiriennes et qu'il a été relâché.
1
(ông ta sợ bị giết, trong khi
đó ông ta đã từng bị nhà cầm quyền Bờ Biển Ngà bắt hai lần và sau đó đã được thả.)

18
- Một câu : Il a ensuite été convoqué par la Police de Bizerte le 4 mai
2005. (Anh ta đã bị cảnh sát của Bizerte triệu tập hôm 4-5-2005).
1.1.1.3. Dạng bị động là gì ?
Theo từ điển Le Trésor de la Langue Française [84], Le passif là tập hợp
của các hình thái động từ bị động (L'ensemble des formes verbales passives.). Le
passif đã đƣợc dịch sang tiếng Việt theo nhiều cách khác nhau : dạng bị động, thái
bị động, cấu trúc bị động hay câu bị động. Trong luận án này, khái niệm le passif sẽ
đƣợc hiểu theo định nghĩa trên đây của từ điển Le Trésor de la Langue Française và
đƣợc dịch theo một trong những cách nói phổ biến đó là dạng bị động.
Dạng bị động là một hiện tƣợng ngữ pháp phổ biến ở các ngôn ngữ Ấn-Âu.
Song, có thể nói là mỗi trƣờng phái ngữ pháp đều có cách quan niệm riêng của
mình về hiện tƣợng ngữ pháp này. Sau đây, chúng ta sẽ lần lƣợt tìm hiểu xem dạng
bị động đƣợc quan niệm nhƣ thế nào trong các trƣờng phái ngữ pháp truyền thống,

động, câu thứ hai có động từ ở dạng bị động đƣợc gọi là câu bị động.

Nhƣ vậy, dạng bị động không chỉ đơn thuần là một phạm trù hình thái học
mà còn thể hiện mối quan hệ cú pháp của các thành tố trong câu. Cách quan niệm
này của ngữ pháp truyền thống coi dạng bị động nhƣ một phạm trù hình thái học
của động từ, chủ yếu là của động từ ngoại động không hoàn toàn thỏa đáng trên
nhiều phƣơng diện. Theo cách quan niệm này, dạng bị động chỉ có thể đƣợc biểu
hiện bằng hình thái của động từ, trong khi đó nhƣ ta đã thấy thì dạng bị động còn
đƣợc thể hiện cả bằng các phƣơng tiện cú pháp. Mặt khác, cũng theo quan niệm này
thì mỗi động từ ngoại động đều có thể tồn tại ở 2 dạng chủ động và bị động. Trong
thực tế thì nhƣ ở tiếng Pháp chẳng hạn, có nhiều động từ nhƣ avoir, peser, … chỉ có
thể tồn tại ở dạng chủ động mà không có dạng bị động tƣơng ứng :
- J'ai 20 ans. (Tôi 20 tuổi.)(Là một câu đúng)
- * 20 ans ont été eus par moi. (*20 tuổi đã có bởi tôi.)(Là một câu đúng ngữ
pháp nhƣng không tồn tại trong tiếng Pháp)
- Je pèse 70 kilos. (Tôi nặng 70 kg.)

20
- * 70 kilos ont été pesés par moi. (*70 kg đã cân nặng bởi tôi.)
Mặt khác, ở một số ngôn ngữ, chẳng hạn nhƣ trong tiếng La-tinh, có những
động từ chỉ tồn tại ở dạng bị động mà thôi mặc dù chúng có nghĩa chủ động (verbes
déponents):
- imitor, imitaris, imitari, (có nghĩa là "bắt chƣớc").
Ngoài ra, theo ngữ pháp truyền thống thì chủ ngữ của động từ ở dạng bị
động luôn là đối tƣợng chịu tác động của động từ. Nhƣng trong nhiều trƣờng hợp,
nhất là với những động từ chỉ tình cảm, bổ ngữ chỉ đối tƣợng của động từ ngoại
động trong câu chủ động tức là chủ ngữ của động từ đó ở dạng bị động không hề
chịu tác động của hành động mà chỉ là nguồn tạo tình cảm. Ví dụ nhƣ với động từ
"aimer" (yêu) trong tiếng Pháp :
- La souris est aimée par Marie. (Con chuột được Marie yêu quý.)

Theo quan niệm này, tuy có sự khác biệt về cấu trúc cú pháp, song giữa câu
chủ động và câu bị động tƣơng ứng không hề có sự khác biệt về nghĩa vì chúng
cùng chung một cấu trúc sâu. Cách lập luận này không thỏa đáng ở chỗ trong nhiều
trƣờng hợp giữa câu chủ động và câu bị động có sự khác biệt về nghĩa.
Ví dụ :
- Le site présente plusieurs rubriques pratiques : culture, social,
restauration, international, aides financières, logement et vie
pratique.
2
(Trang web này có nhiều chuyên mục hấp dẫn : văn hóa, xã hội, nhà hàng, quốc
tế, hỗ trợ về tài chính, nhà ở, sinh hoạt hàng ngày.)
- Cette rubrique vous est présentée par le site DroitDuNet.fr.
3
(Chuyên mục
này do trang web DroitDuNet.fr giới thiệu với quý vị.)
Trong ví dụ này, chúng tôi đã tìm đƣợc hai câu có thực chứ không phải
những câu đƣợc xây dựng theo mô hình ngữ pháp để minh họa cho nội dung đang
trình bày, nhƣng nếu theo quan niệm chung về dạng bị động thì chúng ta vẫn có thể
tìm ra đƣợc câu bị động tƣơng ứng cho câu thứ nhất trên đây hoặc câu chủ động cho
câu thứ hai. Để bảo đảm tính khách quan, chúng tôi dựa vào hai ví dụ trên đây để
phân tích. Rõ ràng là thông tin câu thứ nhất đƣợc trình bày theo góc độ của các tác

22
giả của website, tức là những ngƣời đã xây dựng lên cũng nhƣ đang tiếp tục cập
nhật thông tin cho website này. Trong khi đó câu thứ hai lại đƣợc trình bày dƣới góc
độ của ngƣời sử dụng dịch vụ, đang truy cập vào website này để lấy thông tin và
các thông tin đang lần lƣợt trôi qua dƣới cặp mắt của ngƣời truy cập.

Mặt khác, cách quan niệm này vẫn không khắc phục đƣợc hạn chế của ngữ
pháp truyền thống trƣớc hiện tƣợng một số câu chủ động không thể chuyển đƣợc

mặt của chủ ngữ hoặc chủ đề trong câu, hai tác giả này đã chia các ngôn ngữ thành
2 nhóm cơ bản là các ngôn ngữ thiên chủ ngữ (La-tinh, Hy Lạp, Nga, Anh, …) và
các ngôn ngữ thiên chủ đề (Hán, Việt, …). Các tác giả này cho rằng bị động là một
hiện tƣợng ngữ pháp điển hình của ngôn ngữ thiên chủ ngữ. Vậy đến đây, chúng ta
thấy có một sự phân biệt khá rõ nét giữa ngữ pháp cải biến-tạo sinh với loại hình
học cú pháp trong quan niệm về dạng bị động : trong khi ngữ pháp cải biến-tạo sinh
coi bị động là một phổ niệm ngôn ngữ, loại hình học cú pháp lại cho rằng hiện
tƣợng này chỉ có ở các ngôn ngữ thiên chủ ngữ, còn ở các ngôn ngữ thiên chủ đề thì
đây là một hiện tƣợng hiếm gặp.
1.1.5. Dạng bị động trong ngữ pháp ngữ nghĩa-chức năng
Các công trình nghiên cứu theo hƣớng ngữ nghĩa-chức năng có khuynh
hƣớng kết hợp cả hai cách quan niệm của ngữ pháp cải biến-tạo sinh và loại hình
học cú pháp để phân tích hiện tƣợng bị động : các tác giả thuộc trƣờng phái này
(Givón, Dixon, Palmer) cho rằng bị động là một hiện tƣợng ngữ pháp vừa có tính
phổ quát vừa có tính loại hình. Theo Palmer :"Nếu bị động là một phạm trù có giá
trị về mặt hình thái học, thì cũng như các phạm trù khác, nó phải được nhận diện
qua (1) ý nghĩa hoặc chức năng mà nó có chung ở các ngôn ngữ, và (2) qua các
dấu hiệu hình thức của nó trong các ngôn ngữ cụ thể." (Palmer, 1994, trích theo
Nguyễn Hồng Cổn [11]). Nhƣ vậy, theo tác giả này thì tính phổ quát của dạng bị
động đƣợc thể hiện qua các đặc điểm ngữ nghĩa-chức năng, còn tính loại hình đƣợc
thể hiện qua các đặc điểm hình thái cú pháp. Do cách quan niệm nhƣ vậy, trong
trƣờng phái ngữ pháp này, dạng bị động đƣợc đƣợc phân tích trên cả ba phƣơng
diện chức năng dụng học, cấu trúc ngữ nghĩa và đặc điểm hình thái cú pháp. 24
1.1.5.1. Dạng bị động xét trên phƣơng diện chức năng dụng học
Theo các tác giả của trƣờng phái này (Dixon, 1992, Palmer,1994), việc sử
dụng dạng bị động có những nguyên nhân về dụng học. Trƣớc hết, vì nhiều lý do
khác nhau mà ngƣời ta sử dụng dạng bị động để tránh phải nêu chủ thể của hành

Nhìn chung, dạng bị động đƣợc định nghĩa là sự đối lập với dạng chủ động
trên ba khía cạnh:
- Sự hoán đổi vị trí giữa chủ ngữ và bổ ngữ trực tiếp;
- Sự thay đổi của động từ : ở dạng bị động, động từ đƣợc chia với trợ động
từ "être";
- Sự hiện diện của một giới từ (PAR hoặc DE) trƣớc bổ ngữ chỉ tác nhân.
Thƣờng thì bổ ngữ chỉ tác nhân bị tỉnh lƣợc.
Ví dụ :
- Dạng chủ động : Pierre aime Marie. (Pierre yêu Marie.)
- Dạng bị động : Marie est aimée de (ou par) Pierre. (Marie được Pierre yêu.)

Cho đến nay, có ít nhất là năm cách định nghĩa khác nhau về dạng bị động
dựa trên : nghĩa; hình thái; cú pháp; cả nghĩa lẫn hình thái; cả hình thái lẫn cú pháp.
1.2.1. Định nghĩa dựa trên ngữ nghĩa
Theo quan niệm truyền thống, các nhà ngữ pháp thƣờng đối lập dạng chủ
động, khi chủ ngữ thực hiện hành động, với dạng bị động, khi chủ ngữ chịu sự tác
động của hành động. Theo Wagner R. L. et J. Pinchon :"Dạng bị động là dạng có
chủ ngữ của động từ thể hiện đối tượng của hành động (tức là bổ ngữ chỉ đối tượng
ở dạng chủ động).". Và chỉ trong phần chú thích thêm thì các tác giả này mới đề cập
đến hình thái của động từ :
"Lưu ý
Cái mà người ta gọi là dạng bị động được thực hiện về mặt hình thái trong
một ngữ đoạn kiểu : être + dạng tính động từ) (phân từ quá khứ - ND)" [126:246].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status