ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ LAN ANH BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT SỰ CHUYỂN ĐỔI
CHỨC NĂNG-NGHĨA TỪ VỰNG TRONG TIẾNG VIỆT
(Trên tư liệu thuật ngữ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC HÀ NỘI - 2007
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ LAN ANH
BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT SỰ CHUYỂN ĐỔI
CHỨC NĂNG-NGHĨA TỪ VỰNG TRONG TIẾNG VIỆT
(Trên tư liệu thuật ngữ)
07
6. Bố cục của luận văn
07
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU SỰ
CHUYỂN ĐỔI CHỨC NĂNG-NGHĨA TỪ VỰNG TRONG NGÔN
NGỮ
09
1.1. Chức năng và các phạm vi chức năng trong ngôn ngữ
09
1.2. Chức năng-nghĩa của từ
12
1.3. Sự chuyển đổi chức năng-nghĩa từ vựng
15
1.4. Sơ lược về việc nghiên cứu sự chuyển đổi chức năng-nghĩa
18
CHƢƠNG 2: SỰ CHUYỂN ĐỔI CHỨC NĂNG - NGHĨA TRONG
PHẠM VI DANH TỪ
27
2.1. Về các loại danh từ
27
2.2. Sự kiêm chức năng-nghĩa của danh từ trong các phạm vi khoa học
khác nhau
33
2.3. Kết quả phân tích định lượng
35
2.3.1. Về lĩnh vực khoa học tự nhiên
35
2.3.2. Về lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn
38
2.4. Kết quả phân tích định tính
61
3.2.1.1. Về lĩnh vực khoa học tự nhiên
61
3.2.1.2. Về lĩnh vực khoa học xã hội
64
3.2.2. Kết quả phân tích định tính
77
3.2.2.1. Trƣờng hợp cùng một lĩnh vực chuyên môn, thuật ngữ kiêm
nhiều chức năng-nghĩa khác nhau
3.2.2.2. Trƣờng hợp một đơn vị ngôn ngữ kiêm những chức năng-
nghĩa khác nhau trong những phạm vi chuyên môn khác nhau
77
79
3.3. Quá trình chuyển đổi chức năng-nghĩa trong phạm vi tính từ
81
3.3.1. Kết quả phân tích định lƣợng
81
3.3.1.1. Về lĩnh vực khoa học tự nhiên
81
3.3.1.2. Về lĩnh vực khoa học xã hội
83
3.3.2. Kết quả phân tích định tính
94
3.3.2.1. Trƣờng hợp cùng một lĩnh vực chuyên môn, thuật ngữ kiêm
nhiều chức năng-nghĩa khác nhau
94
3.3.2.2. Trƣờng hợp một đơn vị ngôn ngữ kiêm những chức năng-
nghĩa khác nhau trong những phạm vi chuyên môn khác nhau
95
ngôn ngữ học
SGK
sách giáo khoa
t.
tính từ
TĐ
từ điển
THPT
trung học phổ thông
tr.
trang
Vd
ví dụ
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
1.1. Cách mạng tháng Tám đã trả lại cho tiếng Việt vị trí xứng đáng
của nó, từ chỗ là ngôn ngữ của một dân tộc mất nƣớc, nó đã trở thành ngôn
ngữ chính thức của một Nhà nƣớc độc lập có chủ quyền, đƣợc dùng rộng rãi
trong mọi lĩnh vực khoa học, chính trị, kinh tế, văn hoá, quân sự, nghệ
thuật, Tiếng Việt đã làm tròn vai trò là công cụ giao tiếp và công cụ tƣ duy
của mình. Điều đó chứng tỏ khả năng phát triển phong phú của ngôn ngữ ở
mọi cấp độ: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng-ngữ nghĩa, Tuy nhiên, sự biến đổi
và phát triển của xã hội Việt Nam đƣợc phản ánh rõ nét hơn cả ở cấp độ từ
vựng-ngữ nghĩa bởi vì nó là tấm gƣơng phản chiếu đời sống xã hội, bộ phận
đƣợc xem là phản ánh trực tiếp nhất trong sự biến đổi và phát triển ngôn
ngữ.
Ngôn ngữ phản ánh thực tại. Bởi vì thực tế thì vô cùng, mọi sự vật
hiện tƣợng trong thế giới vật chất luôn luôn vận động và phát triển không
ngừng mà chất liệu ngôn ngữ thì có hạn nên ngƣời nói, ngƣời viết có khi
đứng trƣớc một sự kiện, một trạng thái chƣa có cách biểu hiện trong ngôn
ngữ hay đã có nhƣng không thỏa mãn đƣợc yêu cầu của mình phải tìm cách
diễn đạt mới. Do đó nó đòi hỏi từ vựng-ngữ nghĩa phải có những đơn vị từ
ngữ mới hay các nghĩa mới cho các từ ngữ cũ để chính xác hoá các khái
niệm, để đa dạng hoá cách biểu hiện mà ngôn từ mang chứa nó. Yêu cầu đó
của xã hội bắt buộc ngôn ngữ phải tuân theo tiến trình “trí tuệ hoá” mà tiến
trình này nổi rõ hơn cả là ở hệ thống thuật ngữ của mỗi ngôn ngữ.
1.2. Trong quá trình tiến triển của một dân tộc, dân tộc đó phát triển
mạnh mẽ về lĩnh vực nào thì vốn từ vựng của ngôn ngữ mà dân tộc đó sử
dụng sẽ xuất hiện những đơn vị từ ngữ mới trong các lĩnh vực khoa học. Ở
2
nƣớc ta, khoảng đầu thế kỷ XX, những thuật ngữ tiếng Việt xuất hiện lẻ tẻ,
tính chất dân tộc, đại chúng hơn trƣớc nhiều.
Theo Hoàng Văn Hành, trong bài "Về sự hình thành và phát triển thuật
ngữ tiếng Việt" thì nhìn một cách tổng quát, thuật ngữ tiếng Việt cũng nhƣ
trong các ngôn ngữ đã phát triển khác hình thành nhờ ba con đƣờng cơ bản
là: 1) Thuật ngữ hoá từ ngữ thông thƣờng; 2) Cấu tạo những thuật ngữ tƣơng
ứng với thuật ngữ nƣớc ngoài bằng phƣơng thức mô phỏng; 3) Mƣợn nguyên
những thuật ngữ nƣớc ngoài (thƣờng là những thuật ngữ có tính quốc tế). Hệ
quả của những quá trình hay những phƣơng thức này là hình thành ba lớp
thuật ngữ với những đặc trƣng khác nhau về hình thái và ngữ nghĩa trong
vốn thuật ngữ tiếng Việt. Đó là: 1) Lớp thuật ngữ thuần Việt; 2) Lớp thuật
ngữ vay mƣợn và 3) Lớp thuật ngữ quốc tế.
Trong ngôn ngữ, hệ thống những đơn vị từ vựng, nói rộng hơn hệ
thống từ vựng-ngữ nghĩa là hệ thống mở, có số lƣợng rất lớn. Ngôn ngữ là
công cụ giao tiếp quan trọng nhất và cũng là công cụ của tƣ duy con ngƣời.
Những đơn vị hoạt động càng nhiều, tham gia nhiều chức năng khác nhau
(khoa học, nghệ thuật, thi ca, ) thì càng có sự biến đổi và phát triển mạnh
về chức năng, ngữ nghĩa.
1.3. Nhiều nhà nghiên cứu nhận thấy rằng quá trình biến đổi, phát triển
của hệ thống từ vựng-ngữ nghĩa trong một ngôn ngữ thƣờng đi theo những con
đƣờng khác nhau: làm giàu vốn từ vựng bằng con đƣờng vay mƣợn, hay làm
giàu vốn từ vựng bằng con đƣờng cấu tạo đơn vị từ ngữ mới. Do số lƣợng các
từ trong một ngôn ngữ không thể tăng lên vô hạn tƣơng ứng với các nội dung
cần biểu đạt nên việc sử dụng các đơn vị có sẵn của hệ thống để biểu thị cái vô
hạn sinh động trong thực tế khách quan đã trở thành một phƣơng thức hữu hiệu
của ngôn ngữ, dẫn đến cùng một hình thức ngữ âm có thể dùng để biểu đạt
4
nhiều nội dung khác nhau. Hơn nữa một ngôn ngữ phát triển thƣờng có sự đa
dạng về phong cách chức năng, phong phú về loại hình văn bản, cách thức diễn
đạt, dẫn đến sự chuyển đổi từ phạm vi chức năng-nghĩa này qua phạm vi chức
- Tƣ liệu nghiên cứu chính của luận văn là những thuật ngữ lấy từ: "Từ điển
triết học" - Nhà xuất bản Tiến bộ Mát-xcơ-va (1986); "Từ điển giải thích
thuật ngữ ngôn ngữ học"- Nguyễn Nhƣ Ý (chủ biên) (2002); "Từ điển kinh
tế học"- Nguyễn Văn Ngọc (biên soạn) (2006); sách giáo khoa Toán học
lớp 10, 11, 12 (bậc trung học phổ thông) – Nhà xuất bản Giáo dục (2006);
từ và văn bản, cách dùng từ trong những phong cách chức năng khác nhau.
Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, bƣớc đầu chúng tôi chỉ khảo
sát quá trình thứ nhất. Đó là quá trình những từ thƣờng dùng đƣợc mở rộng
nội dung kiêm chức năng thuật ngữ. Quá trình thứ hai thuật ngữ mở rộng
dùng chức năng từ thƣờng sẽ khảo sát trong một dịp khác.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Tƣ liệu tập trung khảo sát dựa trên tƣ liệu thuật ngữ thuộc lĩnh vực
khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, những thuật ngữ có chức
năng định danh khái niệm khoa học. Khi nói đến khoa học có nghĩa là
những đơn vị này ra đời cùng với sự ra đời và phát triển của khoa học.
Trên cơ sở xác định những đơn vị từ vựng vốn có, những đơn vị từ
vựng tiếng Việt đƣợc dùng trong đời thƣờng trƣớc đây nay đƣợc chuyển đổi
thành thuật ngữ để thực hiện chức năng mới: chức năng thuật ngữ trong
phong cách khoa học. Nói cách khác, nó đƣợc bao hàm thêm những chức
năng biểu hiện mới. Nhiệm vụ của đề tài là thử cắt nghĩa các bƣớc/ thang bậc
6
của sự thay đổi, chuyển đổi chức năng và nghĩa, nội dung của các đơn vị
này. Bởi vì chúng ta quan niệm nghĩa không tự nhiên có mà là sản phẩm tinh
thần đƣợc cố định trong tín hiệu do ngƣời dùng đƣa ra (dùng tín hiệu đó để
hoàn thành chức năng gì?), mỗi phạm vi dùng đều có sự hoàn thành chức
năng nhất định và nội dung xác định. Khi đơn vị đó chuyển đổi phạm vi sử
dụng, đồng thời chuyển đổi phạm vi chức năng thì sẽ dẫn đến nghĩa mới.
đổi chức năng và nghĩa. Ngƣợc lại, từ đơn vị cơ sở xuất phát với hàm lƣợng
nghĩa của chúng để xác định hoạt động cụ thể, sự chuyển đổi chức năng-nghĩa
của chúng. Nhƣng cũng có kết luận có đƣợc nhờ sự khảo sát, phân tích những
trƣờng hợp cụ thể, chẳng hạn: căn cứ vào chức năng khác nhau của ngôn ngữ để
xác định sự biểu hiện và các mức độ chuyển đổi của ngôn từ đó.
5. Ý nghĩa của luận văn:
- "Bƣớc đầu khảo sát sự chuyển đổi chức năng-nghĩa từ vựng trong
tiếng Việt" (trên tƣ liệu thuật ngữ) cho thấy phƣơng thức biến đổi và phát
triển nghĩa là một phƣơng thức cơ bản của sự phát triển thuật ngữ tiếng Việt.
Phƣơng thức này cho ta thấy rõ sự phát triển của từ vựng-ngữ nghĩa theo
chiều sâu, phát triển về chất của các đơn vị từ vựng-ngữ nghĩa tiếng Việt.
Đây cũng là một con đƣờng làm giàu vốn từ vựng tiếng Việt một cách tiết
kiệm nhất - phát triển nội dung nghĩa mới, hoàn thành chức năng mới trong
hình thức đã có, trong các từ thƣờng dùng của vốn từ.
- Việc nghiên cứu góp phần làm rõ xu hƣớng biến đổi và phát triển
của hệ thuật ngữ tiếng Việt trong thời gian qua, hiện tại và tƣơng lai với yêu
cầu công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nƣớc trong xu thế quốc tế hoá, toàn
cầu hoá. Luận văn này nói riêng cũng nhƣ từ vựng-ngữ nghĩa tiếng Việt nói
chung góp phần nghiên cứu lịch sử phát triển thuật ngữ tiếng Việt.
8
- Qua việc phân tích, miêu tả dựa trên cứ liệu đã thống kê đƣợc, luận
văn phần nào cung cấp nguồn tƣ liệu cho các công trình nghiên cứu sự phát
triển của từ vựng-ngữ nghĩa tiếng Việt, bởi hệ thuật ngữ là một bộ phận của
vốn từ vựng phản ánh sự biến đổi và phát triển của xã hội Việt Nam trong
thế kỷ XX vừa qua và hiện nay.
6. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, tƣ liệu nghiên cứu,
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU SỰ CHUYỂN ĐỔI
CHỨC NĂNG - NGHĨA TỪ VỰNG TRONG NGÔN NGỮ Nhƣ đầu đề luận văn của chúng tôi chỉ rõ là “Bƣớc đầu khảo sát sự
chuyển đổi chức năng-nghĩa từ vựng trong tiếng Việt” (trên tƣ liệu thuật
ngữ), vì vậy nội dung của chƣơng này chúng tôi sẽ dành cho việc xác định
cơ sở lý luận của sự chuyển đổi chức năng-nghĩa và lịch sử vấn đề này đƣợc
đề cập đến trong Việt ngữ học. Những quan niệm và cách hiểu đƣợc nêu lên
trong chƣơng này chúng tôi xem nhƣ là chỗ dựa, là luận điểm xuất phát mà
chúng tôi sẽ vận dụng, làm rõ trong các phần nội dung tiếp theo. Tuy nhiên
với khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi không có khả năng đào sâu, đề
xuất điểm mới mà chỉ trình bày lại những hiểu biết chúng tôi chấp nhận để
làm việc, để phân tích, giải thích ngữ liệu cụ thể.
1.1. Chức năng và các phạm vi chức năng trong ngôn ngữ:
Trƣớc đây cũng nhƣ những năm gần đây, sau thời kỳ ngôn ngữ học
quá nhấn mạnh đến cấu trúc, đến hình thức, ngƣời ta nói nhiều đến chức
năng, chức năng luận trong nghiên cứu ngôn ngữ. Vậy chúng ta nên hiểu
“chức năng là gì” để tiện vận dụng vào ngôn ngữ học. Theo tập thể các tác
giả của cuốn “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên, “chức năng là
tác dụng, vai trò bình thƣờng hoặc đặc trƣng của một ngƣời nào đó, một cái
gì đó” [28, tr.201]. Từ góc độ triết học, ngƣời ta hiểu chức năng một cách
chuyên sâu hơn: “chức năng là sự thể hiện ra bên ngoài của một khách thể
nào đó trong hệ thống các quan hệ nhất định” [47, tr.96]. Nhƣ vậy với hai
nội dung hiểu nông và sâu khác nhau, chúng tôi có thể vận dụng để phân
tích, xác định cách hiểu của mình trong ngôn ngữ và ngôn ngữ học.
10
Trong nhà trƣờng, ngay từ những giờ học đầu tiên về ngôn ngữ học,
tức cũng phù hợp với chủ thể ngôn ngữ trong nói năng, sáng tạo ngôn ngữ.
Ngay trong chiều sâu tƣ duy phản ánh cũng xảy ra quá trình: ngƣời nói cảm
nhận, đánh giá sự vật khách quan rồi mới quyết định việc sử dụng ngôn ngữ
thích hợp, phong cách chức năng tƣơng thích. Chức năng tín hiệu ngôn ngữ
là hiện thực của chính tín hiệu đó và tín hiệu là hiện thực của nghĩa. Chức
năng và nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ luôn luôn tồn tại với nhau, gắn bó
chuyển hoá cho nhau. Giải thích sâu hơn về sự gắn bó giữa nghĩa, tƣ duy và
chức năng ngôn ngữ của con ngƣời, chúng ta có thể tìm thấy trong ý kiến của
C.Mác. Theo C. Mác, ngôn ngữ không chỉ là phƣơng tiện vật chất để biểu
đạt tƣ duy mà còn là công cụ của hoạt động tƣ duy. Nó trực tiếp tham gia
vào quá trình hình thành và phát triển tƣ duy của con ngƣời. Ngôn ngữ còn
có một đặc trƣng khác nữa mà C.Mác đã chỉ ra: Ngôn ngữ nhƣ hiện thực trực
tiếp của tƣ tƣởng. Ở đây ông nhấn mạnh đến một chức năng khác của ngôn
ngữ, cụ thể là chức năng phản ánh: tƣ duy, tức là sự phản ánh thế giới xung
quanh bởi con ngƣời, chủ yếu đƣợc thực hiện dƣới hình thức ngôn ngữ. Nói
cách khác, chức năng giao tiếp là chức năng thứ nhất, còn chức năng phản
ánh là chức năng thứ hai, đồng thời cả hai chức năng này đều có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau và liên quan trực tiếp đến biểu đạt nghĩa trong ngôn ngữ.
Ngày nay, hai chức năng này đƣợc đào sâu nghiên cứu hơn: ngôn
ngữ không chỉ là phƣơng tiện đƣợc dùng để trao đổi giữa ngƣời này với
ngƣời khác trong xã hội mà nó còn là sự tƣơng tác hiện thực trong đời sống
xã hội. Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tƣ tƣởng đồng thời nó còn có
những chức năng khác: lƣu trữ thông tin, thi pháp, dụng học và nhiều chức
năng đa dạng khác.
12
Ở phạm vi xác định hơn, khi đi vào các cấp độ tồn tại khác nhau của
ngôn ngữ thì chức năng khái quát trên đƣợc thể hiện cụ thể ở từng loại
đơn vị, từng phạm vi hoạt động của ngôn ngữ cũng nhƣ các phạm vi giao
tiếp, các phong cách chức năng khác nhau.
Nghĩa thể hiện trong cách dùng, trong hoạt động thƣờng ngày, trong thực
hiện chức năng ngôn ngữ đa dạng trong cuộc sống, trong các mối tƣơng tác
xã hội và sự sáng tạo ngôn từ của ngƣời nói, ngƣời viết. Nghĩa bộc lộ qua
câu lời, qua cách dùng, văn bản, ngôn bản khi nó hoàn thành những chức
năng xác định mà việc tổng hợp xác định nghĩa ta phải bắt đầu từ đó. Nghĩa
của các đơn vị, biểu thức ngôn ngữ chính là sự hoàn thành chức năng của
đơn vị, biểu thức trong hoạt động hành chức của chúng. Chức năng không
phải là nghĩa. Chức năng là cơ sở, biểu hiện của nghĩa. Nghĩa gắn với hoạt
động chức năng, nghĩa có mối liên hệ bản chất với giao tiếp, tƣ duy, hoạt
động có ý thức của con ngƣời. Nghĩa có mối liên hệ với chức năng của các
loại đơn vị, yếu tố, biểu thức của ngôn ngữ trong cấu tạo cũng nhƣ sự hoạt
động của chúng thể hiện ở các loại hình phong cách chức năng đa dạng khác
nhau.
Theo Nguyễn Thiện Giáp, trong các đơn vị ngôn ngữ, từ là đơn vị duy
nhất có thể đảm nhiệm nhiều chức năng nhất. Theo quan điểm truyền thống,
từ đảm nhiệm những chức năng sau: Chức năng cơ bản của từ là chức năng
định danh (gọi tên), chẳng hạn nhƣ danh từ là những từ chỉ ngƣời hay sự vật,
động từ là những từ chỉ hoạt động, tính từ là những từ chỉ tính chất, Tuy
nhiên, khi từ thực hiện chức năng gọi tên thì nó không chỉ phân biệt sự vật
này với sự vật khác, hành động này với hành động khác, đặc điểm này với
đặc điểm khác mà nó còn có chức năng khái quát, trừu tƣợng những thuộc
tính của một loại sự vật, đó chính là chức năng biểu thị khái niệm (thông qua
14
những câu nói mà thể hiện thuộc tính, đặc điểm của một lớp sự vật). Ví dụ:
“bàn” (nói chung) là đồ dùng thường bằng gỗ có mặt phẳng và chân đứng,
để bày đồ đạc, thức ăn, để làm việc, Những dấu hiệu, thuộc tính này đƣợc
khái quát hoá, trừu tƣợng hoá cho ta khái niệm “bàn”, chỉ bàn nói chung.
Từ còn mang chức năng phân biệt nghĩa, làm bộc lộ ý nghĩa này hay ý
nghĩa khác của những từ nhiều nghĩa. Hãy so sánh: ăn cơm, ăn xăng, ăn
tàng chuyển sang hiện thực, về giá trị bằng tích của quãng đường chuyển
dịch điểm đặt của lực với hình chiếu của lực trên phương chuyển dời”. Ở ví
dụ đang xét ta có một từ “công” đồng nhất. Từ này đƣợc dùng trong chức
năng khác nhau thuộc phong cách chức năng phân biệt cho ta hai thứ nghĩa
khác nhau, tạm gọi nghĩa từ thường và nghĩa thuật ngữ. Rõ ràng chức năng
thay đổi, phong cách chức năng dùng phân biệt dẫn đến nghĩa phân biệt.
Thực tiễn hoạt động chức năng sinh động gắn với khả năng biểu đạt nghĩa đa
dạng trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, loại hình phong cách chức
năng khác nhau giúp chúng ta thấy rõ sự hiện diện, chuyển đổi chức năng-
nghĩa trong ngôn ngữ mà phạm vi đề cập ở đây là nghĩa từ vựng của từ.
1.3. Sự chuyển đổi chức năng-nghĩa từ vựng:
Ta dễ dàng hình dung, ở thời điểm ra đời từ thực hiện một chức năng
nghĩa nhất định. Khi đi vào hoạt động thì nó thực hiện các chức năng khác
nhau: định danh, biểu thị khái niệm, thành phần câu, cấu tạo hệ thống. Hơn
nữa, ngôn ngữ là công cụ tƣ duy và giao tiếp nên nó không thể đứng yên mà
luôn luôn đƣợc mọi ngƣời sử dụng, điều khiển và sáng tạo nó. Do vậy, nghĩa
luôn biến đổi, đặc biệt là biến đổi chức năng gắn với nghĩa. Khi một đơn vị
đƣợc dùng để hoàn thành một chức năng nào đó và khi chức năng thay đổi
thì nghĩa thay đổi theo, hay còn đƣợc gọi là “biến đổi chức năng-nghĩa”.
16
Nhƣ vậy, chuyển đổi chức năng-nghĩa nhƣ là một quá trình biểu hiện trong
sự vận dụng, hành chức, hoạt động chức năng của ngôn ngữ một cách cụ thể
sinh động. Quá trình biến đổi chức năng này liên quan đến quá trình biến đổi
phát triển của ngôn ngữ.
Tín hiệu ngôn ngữ nói chung và từ nói riêng thƣờng có nhiều nghĩa.
Nhƣng không phải ngay từ lúc mới xuất hiện, từ đã có nhiều nghĩa. Ban đầu
mỗi từ chỉ có một nghĩa, tức tƣơng quan giữa cái biểu hiện và cái đƣợc biểu
hiện là "một đối một", song do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu do nhu cầu
sau, thuật ngữ này đã đƣợc sử dụng phổ biến, trở thành từ thông thƣờng,
nghĩa của từ này đã đƣợc mở rộng “hoạt động với khí thế mạnh mẽ, khắc
phục khó khăn trở ngại nhằm đạt mục đích nhất định”.
Hiện tƣợng chuyển nghĩa của một từ là một quy luật khách quan của
quá trình ngôn ngữ. Nó cũng "chính là kết quả của sự chuyển biến ý nghĩa
của từ" [7, tr.13]. Quá trình chuyển biến ý nghĩa của từ thƣờng diễn ra theo
những quy luật nhất định:
Các ý nghĩa phái sinh thƣờng đƣợc nảy sinh trên cơ sở nét nghĩa ban
đầu của từ hoặc trên cơ sở một hay vài nét nghĩa cơ bản trong cấu trúc biểu
niệm của từ: "Nét nghĩa cơ sở của cấu trúc biểu niệm trung tâm sẽ đảm bảo
cho sự thống nhất giữa các ý nghĩa biểu vật. Nhƣ thế các nghĩa biểu vật của
một từ tuy khác nhau, tuy đối lập với nhau nhƣng giữa chúng vẫn có sự
thống nhất trên cơ sở nét nghĩa chung. Nói khác đi, các ý nghĩa khác nhau
của một từ lập nên một hệ thống ngữ nghĩa trong lòng một từ nhiều nghĩa"
[7, tr.133].
Trong quá trình phát triển nghĩa của từ "có khi nghĩa biểu vật đầu tiên
không còn nữa, chúng ta đã quên đi ( ). Nhƣng thƣờng thƣờng cả nghĩa đầu
tiên và những nghĩa mới đều cùng tồn tại, cùng hoạt động, khiến cho đối với
18
ngƣời không chuyên về từ nguyên học rất khó nhận biết hay khó khẳng định
đƣợc nghĩa nào là nghĩa đầu tiên của từ" [7, tr.137]. Lại có trƣờng hợp tuy cả
nghĩa gốc và các nghĩa nhánh (nghĩa chuyển) đều cùng tồn tại, cùng hoạt
động, song nghĩa gốc của từ ngày càng mờ nhạt, dần dần trở thành nghĩa
phụ, trong khi một vài nghĩa nhánh nào đó lại đƣợc dùng thƣờng xuyên và
phổ biến hơn, trở thành nghĩa chính của từ.
Kết quả của các quá trình chuyển nghĩa đều đƣa đến sự thay đổi trong
thành phần cấu trúc ý nghĩa của từ, thay đổi cả về mặt biểu thái của từ. Ý
nghĩa của từ, do tác động của các quá trình chuyển nghĩa, có thể đƣợc mở
rộng ra. Mở rộng nghĩa tức là quá trình phát triển nghĩa của từ từ phạm vi