bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh khánh hòa - Pdf 15

i

LỜI CẢM ƠN

Nhằm đào tạo ra những cử nhân có trình độ chuyên môn cao và nhạy bén
tiếp thu kỹ thuật, công nghệ là mục tiêu đào tạo hàng đầu của trường Đại học Nha
Trang. Để giúp sinh viên hệ thống lại kiến thức đã tiếp thu được ở nhà trường và vận
dụng kiến thức đã học một cách hiệu quả trong nghiên cứu cũng như trong sản xuất
thì việc tổ chức cho sinh viên thực tập đồ án tốt nghiệp là khâu quan trọng trong quá
trình đào tạo của trường.
Được sự phân công của Bộ môn Công nghệ sinh học, Ban Giám đốc Viện
Công nghệ Sinh học và Môi trường - Trường Đại học Nha Trang cho phép tôi thực
hiện đồ án tốt nghiệp tại Phòng Vi sinh - Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường
trong thời gian từ ngày 20/02/2012 đến ngày 02/06/2012.
Để hoàn thành đồ án này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo
Văn Hồng Cầm - người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành đồ án này. Tôi xin
chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Công nghệ Sinh học, cùng toàn
thể quý thầy cô đã dạy dỗ và truyền đạt kiến thức những kiến thức thật quý giá và
bổ ích cho chúng tôi, làm nền tảng để tôi bước vào thực hiện đồ án này. Cho phép
tôi được gửi lời cảm ơn tới Ban Giám đốc Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường
và cô Trương Thị Thu Thủy - cán bộ quản lý Phòng Vi sinh đã tạo điều kiện thuận
lợi để tôi hoàn thành đồ án này. Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè,
những người đã động viên khích lệ rất nhiều để tôi có thể hoàn thành tốt đồ án này.
Xin chân thành cảm ơn!
Do bước đầu làm quen với môi trường nghiên cứu khoa học, kinh nghiệm
còn hạn chế nên có thể còn nhiều điều thiếu sót. Kính mong nhận được những ý
kiến đóng góp của quý thầy cô giáo và các bạn.
Nha Trang, tháng 7 năm 2012
Sinh viên thực hiện
iii

1.3.1.2 Các nghiên cứu về chim yến ở Việt Nam 22
1.3.1.3 Các nghiên cứu về vi sinh trên đối tượng chim hoang dã 23
1.3.2 Mục tiêu và tính cấp thiết của đề tài 24
1.3.2.1 Tính cấp thiết 24
1.3.2.2 Mục tiêu 25
CHƢƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tƣợng nghiên cứu 27
2.2 Vật liệu, dụng cụ và thiết bị nghiên cứu 27
2.3 Phƣơng pháp nghiên cứu 27
2.3.1 Phương pháp thu mẫu 27
2.3.2 Phương pháp khảo sát điều kiện vận chuyển mẫu 29
2.3.3 Phương pháp phân lập vi sinh vật 31
2.3.4 Phương pháp giám định hình thái và kiểm tra đặc tính sinh hóa 33
2.3.4.1 Phương pháp giám định hình thái và tính bắt màu 33
2.3.4.2 Phương pháp kiểm tra đặc tính sinh hóa 34
2.3.5 Phương pháp định danh 37
2.3.5.1 Phương pháp định danh theo khóa phân loại Bergey 37
2.3.5.2 Phương pháp sử dụng Kit sinh hóa API 20E để định danh 37
2.3.5.3 Phương pháp sử dụng phần mềm ABIS để định danh 39
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
3.1 Khảo sát điều kiện vận chuyển mẫu phân chim yến 40
3.2 Sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến đảo
Khánh Hòa 41
3.3 So sánh tỷ lệ nhiễm vi sinh vật của các mẫu phân chim yến trên các đảo
yến thuộc tỉnh Khánh Hòa 50
CHƢƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
4.1 Kết luận 52
iv


DANH MỤC VIẾT TẮT

APW Alkaline Peptone Water
Avibase The World Bird Database
(Cở sở dữ liệu về động vật lông vũ)
BGBL Brilliant Green Bile Lactose Broth
BPW Buffer Peptone Water
EMB Eosin methylen blue
FDA U.S Food and Drug Administration
(Cục Quản lý dược phẩm và thực phẩm Mỹ)
IOC International Ornithological Committee
(Hội điểu học quốc tế)
KIA Kligler Iron Agar
MR Methyl Red
OIE World Organisation for Animal Health
(Tổ chức thú y thế giới)
PTN Phòng thí nghiệm
RV Rappaport - Vassiliadis
SCA Simmon Citrate Agar
SDA Sabouraud’s Dextrose Agar
SPW Saline Peptone Water
TCBS Thiosulfate Citrate Bile Salf Sucrose
VP Voges - Proskauer
WHO World Health Organization (Tổ chức y tế hế giới)
XLD Xylose Lysine Desoxycholate vi


DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Tổ của ba loài yến đã được thương mại hóa 3
Hình 1.2: Chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus ở Việt Nam 5
Hình 1.3: Bản đồ phân bố của chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus trên thế
giới 7
Hình 1.4: Bản đồ phân bố của chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus tại Việt
Nam 8
Hình 1.5: Đảo yến A1 - Hòn Ngoại, Khánh Hòa 9
Hình 1.6: Các hang yến thuộc đảo yến A6 - Hòn Mun, Khánh Hòa 9
Hình 2.1: Vị trí các đảo đã tiến hành thu mẫu phân chim yến 28
Hình 2.2: Sơ đồ quá trình phân lập vi sinh vật 32
Hình 2.3: Bảng kết quả âm tính và dương tính của API 20E 38
Hình 3.1: Chủng E. coli phân lập trên môi trường EMB 42
Hình 3.2: Chủng Samonella enterica subsp. arizonae phân lập trên môi trường
XLD 43
Hình 3.3: Chủng Vibrio parahaemolyticus phân lập trên môi trường TCBS 44
1

LỜI MỞ ĐẦU



1.1 Tổng quan về chim yến
1.1.1 Đặc điểm sinh học và phân bố của chim Yến tổ trắng
1.1.1.1 Đặc điểm sinh học
Chim yến là tên gọi chỉ chung cho các loài chim thuộc họ Apodinae. Các
loài chim trong họ này đều có đặc điểm chung: kích thước nhỏ, ăn côn trùng, hầu
hết đều hót được, làm tổ trong các hang động và có thể điều khiển hướng bay trong
hang tối bằng cách sử dụng âm thanh (Griffin, 1958; Medway và Pye, 1977; Lim và
Cranbrook, 2002; Phach và cs, 2002).
Họ Apodinae chia làm 2 phân họ, 4 tông, 20 chi với khoảng 96 loài (Phil và
Gerald, 2000). Cho đến hiện nay, việc phân loại các loài yến thuộc hai chi
Collocalia và Aerodramus vẫn chưa rõ ràng. Các tài liệu về phân loại chim yến
thuộc hai chi này vẫn chưa có sự thống nhất. Các loài trong chi Aerodramus đôi khi
được gộp vào chi Collocalia.
Với sự có mặt của một số loài đặc biệt, họ Yến Apodinae đã thu hút được
sự quan tâm đặc biệt của giới khoa học: từ các nhà kinh tế học, các nhà sinh thái
học, các nhà động vật học cho đến các nhà dinh dưỡng học. Các loài đặc biệt nói
trên đều có chung đặc điểm quan trọng mà các loài khác trong họ Yến không có, đó
là xây tổ bằng nước dãi và tổ của chúng mang lại giá trị kinh tế rất cao.
Cho đến hiện nay, tổ của ba loài yến khác nhau đã được thương mại hóa
gồm : Aerodramus fuciphagus - Yến hàng (Yến lông xám hay Yến tổ trắng),
Aerodramus maximus - Yến xiêm và Aerodramus unicolor - Yến Ấn Độ (Ali, 1996;
Wells, 1999). Theo các tài liệu cũ thì ba loài yến trên thuộc chi Collocalia. Tuy
nhiên từ năm 1998 cho tới nay, ba loài yến này lại được xếp vào chi Aerodramus
(theo Hội điểu học quốc tế IOC và Cở sở dữ liệu về động vật lông vũ Avibase). Do
vậy, trong suốt tài liệu này chúng tôi thống nhất gọi theo phân loại hiện tại là
Aerodramus spp. Hai loài Aerodramus maximus và Aerodramus unicolor sử dụng
nước dãi trộn lẫn với lông và cỏ kết hợp để xây tổ. Riêng loài Aerodramus
3


loài khác đã được nghiên cứu trong khu vực này. Tuy nhiên, không có sự khác
biệt giữa chim trống và chim mái về hình thái bên ngoài. Chim Yến hàng
trong khoảng vĩ độ 10 - 23°Bắc ở các vùng có khí hậu mát mẻ, đặc biệt là vào mùa
đông thì có kích thước lớn hơn phân loài phân bố ở nơi khác. Đó có thể là kết
quả của quy luật Bergman, thể hiện mối tương quan giữa kích thước động vật và
nhiệt độ môi trường sống (Jabouile, 1931; Võ Quý và Nguyễn Cử , 1993; Phach và
cs, 2002).
Chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus có lông màu nâu sẫm, với màu ánh
xanh rêu ở phần phía trên lưng và nhạt dần về phía dưới. Lông đỉnh đầu có màu
đậm hơn so với lớp lông phía dưới và thường có một hoặc vài đốm xám ở hai bên
mắt. Các lông tơ gần lỗ huyệt có lông có màu trắng ở bên rìa; nhưng độ đậm nhạt
cuả rìa trắng đó thường phụ thuộc vào tuổi tác. Ở mỗi cánh của có 10 chiếc lông sơ
cấp và 6 chiếc lông thứ cấp. Chim có hình dáng đặc trưng với đuôi hình chữ V chẻ
đôi (đường chẻ sâu khoảng 6 - 8 mm). Đuôi có 10 chiếc lông đuôi, được chia thành
hai bộ. Không có sự khác biệt về đặc điểm bộ lông giữa chim trống và chim mái,
5

cũng như giữa chim non và chim trưởng thành. Chim yến đảo Khánh Hòa có bộ
lông ánh xanh rêu hơn hẳn chim yến nhà. Mắt chim có màu nâu tối, mỏ đen, chân
đen (Phach và cs, 2002; Nguyễn Khoa Diệu Thu, 2004). Hình 1.2: Chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus ở Việt Nam
Chim Yến hàng có tiếng hót ríu rít và cao. Giống như hầu hết các loài khác
trong chi Aerodramus, chim Yến hàng có khả năng định vị bằng âm thanh (âm dội)
với tần số thấp 2 - 10 kHz. Nhờ đó, chúng có thể bay hoàn toàn trong tối, bay đi và
bay về đúng hang, đúng tổ theo hướng khá ổn định (Medway, 1966; Sales và Pye,
1974; Medway và Pye, 1977; Phach và cs, 2002).
Chim Yến hàng có đôi cánh khá cứng cáp và có thể bay lượn rất xa để
kiếm thức ăn, khoảng cách xa nhất khoảng 250 - 300 km tính từ nơi làm tổ. Chim

fuciphagus. Loài yến này gồm 2 phân loài: Aerodramus fuciphagus germani sống ở
các hang đảo tự nhiên và Aerodramus fuciphagus amechanus sống ở trong nhà (Lê
Hữu Hoàng, 2011). Tuy nhiên, cho tới nay sự phân định về mặt hình thái dưới mức
loài vẫn còn nhiều tranh cãi. Hiện nay, nhóm nghiên cứu của công ty Yến sào
7

Khánh Hòa cũng đang tiến hành nghiên cứu sự khác nhau về hình thái của chim yến
nhà và chim yến đảo phân bố ở Việt Nam.
1.1.1.2 Phân bố
Các loài chim trong họ Apodinae phân bố rộng khắp thế giới trong khu vực
nhiệt đới và ôn đới, các loài yến vùng ôn đới là những loài chim di trú và mùa đông
chúng bay về vùng nhiệt đới. Khu vực phân bố của họ chim này trải dài toàn bộ
châu Úc, từ Ấn Độ Dương tới Nam Thái Bình Dương (Griffin, 1958; Medway và
Pye, 1977; Lim và Cranbrook, 2002; Phach và cs , 2002).
Chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus sinh sống nhiều từ vĩ độ 20°Bắc -
10°Nam và kinh độ 95 - 115°Đông, chủ yếu tập trung ở khu vực Đông Nam Á:
Campuchia, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Philippines, Thailand và Việt Nam.
(Phach và cs, 2002; Nguyễn Khoa Diệu Thu, 2004).

Hình 1.3: Bản đồ phân bố của chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus
trên thế giới (Phach N.Q và cs, 2002)
: vùng có chim chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus sinh sống
8

Ở Việt Nam người ta thường thấy chim Yến hàng làm tổ ở các đảo trong
vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Quảng Bình, Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Sa Huỳnh
(Quảng Ngãi), bán đảo Phương Mai (Bình Định), Nha Trang (Khánh Hòa), Phan
Rang (Ninh Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), Kiên Giang (Nguyễn Quang
Phách, 1999; Nguyễn Khoa Diệu Thu, 2004). Hiện nay, nuôi yến nhà được phát
triển mạnh ở các tỉnh Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Cần Giờ (Thành phố

ở các quốc gia Đông Nam Á được phát hiện và khai thác, nhưng thiếu tài liệu ghi
chép bằng văn bản về tổ yến. Vào thời nhà Minh, khoảng 1405-1433, Trịnh
Hòa cùng đoàn thám hiểm thực hiện chuyến đi qua các quốc gia
Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, Sri Lanka và Ấn Độ. Chuyến đi về
cho triều đình nhiều loại thực phẩm quý hiếm, trong đó có yến sào (Medway, 1963;
Lau và cs, 1994).
Ở Việt Nam, yến sào được xếp vào hàng Bát trân, là loại thực phẩm bổ
dưỡng đặc biệt dâng cho vua chúa, quan lại và các nhà quyền quý. Theo sử học gia
Dương Trung Quốc (2011), trong dân gian truyền lại rằng nhân chuyến Nam du của
Thái Thượng hoàng Trần Nhân Tông (1301), ngài được dâng “chè yến sào”. Biết là
đặc sản, vua ra lệnh cho dân phải giữ gìn và khai thác, hàng năm dâng tiến về triều.
Các tài liệu cổ của Việt Nam (do sử gia Dương Văn An và Lê Quý Đôn biên soạn)
cũng đều nhắc đến yến sào và nghề khai thác tổ yến; biết được giá trị của tổ yến,
nhà nước hỗ trợ nhân dân làm nghề và có các chính sách về việc mua bán, đánh
thuế và bảo vệ nguồn lợi quý giá này (Nguyễn Khắc Thuần, 2007, 2009).
Tổ yến được xếp vào một trong số các sản phẩm động vật đắt, hiếm và quý
nên đã dẫn đến việc khai thác tổ yến quá mức trong các khu vực nơi có loài chim
quý này làm tổ (Sankaran, 2001), bao gồm Việt Nam, Thái Lan… Điều đó đã đánh
một hồi chuông báo động đối với công tác bảo tồn chim yến. Năm 1994, Công ước
quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã CITES tại Việt Nam đã
đưa chim yến vào đối tượng quản lý, điều này đã góp phần bảo vệ chim yến.
11

1.1.2.2 Giá trị dinh dƣỡng của tổ yến
Giá trị sử dụng của tổ yến thể hiện ở hai khía cạnh: thực phẩm và dược
phẩm. Về mặt thực phẩm, tổ yến là một loại thực phẩm chứa nhiều chất dinh dưỡng
thiết yếu cho cơ thể. Về mặt dược phẩm, tổ yến có thể thể là một vị thuốc Đông y
để hỗ trợ chữa một số bệnh. Như vậy, ta có thể xem tổ yến như một “thực phẩm
chức năng”.
Theo các nghiên cứu đã công bố, thành phần hóa học của tổ yến bao gồm:

và hấp thu các chất dinh dưỡng (Sallet, 1930; Jabouille, 1931; Anon, 1977). Canh tổ
yến được chứng minh là có tác dụng làm tan đờm, cải thiện âm giọng, làm
giảm bệnh ho và hen suyễn, làm giảm các vấn đề liên quan đến dạ dày, bổ thận,kích
thích ham muốn tình dục, đẹp da, chữa bệnh lao, tăng cường hệ thống miễn dịch,
phục hồi sức khỏe sau phẫu thuật (Francis, 1987; Leh và Museum, 1993;
Lim và Cranbrook, 2002). Có một số công bố cho rằng tổ yến có thể kéo dài cuộc
sống và chứa một số yếu tổ hỗ trợ điều trị ung thư (đặc biệt là ung thư vú) và cả
AIDS, tuy nhiên chưa xác định được yếu tố hỗ trợ đó (Kong, 1990). Gần đây, theo
kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản đã công bố: yến sào là một sản
phẩm tự nhiên, an toàn và phù hợp với việc phòng chống virus cúm (Guo và cs,
2006).
1.1.2.3 Giá trị kinh tế của tổ yến
Chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus phân bố hẹp trên thế giới và chỉ có
ở Đông Nam Á. Đây là món quà mà thiên nhiên ưu đãi cho người dân Đông Nam
Á. Yến sào đã góp phần quan trọng trong sự phát triển đời sống kinh tế của các
quốc gia khu vực Đông Nam Á.
Tổ yến thuộc vào một trong các sản phẩm thực phẩm tự nhiên có nguồn gốc
động vật có giá đắt nhất trên thị trường (Huda và cs, 2008). Giá của tổ yến gần như
ngang bằng giá vàng có cùng trọng lượng: năm 2003, giá bán lẻ cho các tổ yến
trắng trên thị trường Hồng Kông (thị trường chính) khoảng 7 USD/g. Do đó, người
dân các nước khu vực Đông Nam Á ví von rằng: tổ yến là “vàng trắng của biển”
(Hobbs, 2004).
13

Đặc biệt, tổ yến Việt Nam có giá trị cao nhất trong các nước Đông Nam Á.
Tại thị trường Hồng Kông, năm 1991 giá tổ yến từ Việt Nam là 1333 USD/kg cao
nhất so với tổ yến từ các nước, gấp sáu lần tổ yến Malaysia, gấp ba lần tổ yến Thái
Lan, gấp đôi tổ yến Indonesia. Năm 2010, giá bán tổ yến đảo Việt Nam cao gấp ba
lần so với tổ yến nhà Malaysia Aerodramus fuciphagus. Năm 2010, giá tổ yến đảo
Việt Nam 3000 - 4000 USD/kg; yến nhà Việt Nam 1.400-1.800 USD/kg. Giá thị

đáp ứng miễn dịch của cơ thể (Kyle và Kyle, 1993). Một số vi sinh vật sống trên cơ
thể vật chủ nhưng không ảnh hưởng đến vật chủ. Mặt khác, có một số nhóm vi sinh
vật gây ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe và khả năng sinh sản của vật chủ (Zuk,
1991).
Thành phần hữu cơ trong phân là rất lớn, do đó khu hệ vi sinh vật trong đó
vô cùng đa dạng, bao gồm: vi khuẩn Gram dương, vi khuẩn Gram âm, vi nấm. Các
vi khuẩn Gram âm hay gặp có thể kể đến họ vi sinh đường ruột Enterobacteriaceae,
họ Vibrionaceae. Trong nội dung của đồ án này, tôi nghiêng về khảo sát vi nấm và
các vi khuẩn Gram âm gồm Escherichia coli, Salmonella spp., Vibrio spp.
1.2.1 Họ vi khuẩn đƣờng ruột (Enterobacteriaceae)
Các vi khuẩn trong họ Enterobacteriaceae thường sống ở ống tiêu hóa của
người và động vật, nên họ này được gọi là họ vi khuẩn đường ruột. Ngoài ra chúng
có thể sống ở ngoại cảnh (đất, nước) và trong thức ăn (Trần Văn Hưng và cs, 2008).
Các vi khuẩn trong họ Enterobacteriaceae thường được phân lập từ nguồn phân.
Các vi khuẩn đường ruột thuộc họ Enterobacteriaceae đều là những trực
khuẩn Gram âm, hình que nhỏ, không sinh nha bào. Một số vi khuẩn thường không
di động (Klebsiella, Shigella), một số vi khuẩn khác di động nhờ tiên mao. Một số
có vỏ nhìn thấy được nhờ kính hiển vi thường như Klebsiella (Phạm Hồng Sơn,
2005). Đây là những vi khuẩn kỵ khí tùy ý, lên men đường glucose, catalase dương
tính, oxidase âm tính, khử nitrate thành nitrite. Trong số các đặc tính trên thì
“oxidase âm tính” là đặc tính quan trọng trong việc phân loại.
Dựa vào phản ứng oxidase, các trực khuẩn Gram âm được chia thành hai
nhóm lớn. Tất cả các loài oxidase âm tính được xếp vào họ Enterobacteriaceae. Các
15

trực khuẩn Gram âm còn lại gồm nhiều họ khác nhau được xếp chung vào nhóm
“các vi khuẩn Gram âm hỗn hợp” như Pseudomonadaceae, Vibrionaceae. Các vi
khuẩn trong họ Enterobacteriaceae thiếu oxidase cytochrome và âm tính với phép
thử oxidase. (Krieg và Holt, 1984).
Đặc điểm sinh hóa quan trọng trong phân loại các vi khuẩn trong họ

bào vi khuẩn có kích thước (2 x 0,5)μm (Kubitschek, 1990). Các chủng có tính di
động nhờ tiên mao (Darnton và cs, 2006).
E. coli có khả năng sinh indol, phép thử methyl red (MR) dương tính,
Voges - Proskauer (VP) âm tính, không có khả năng biến dưỡng citrate, không sinh
H
2
S, phép thử Lysine decarboxylase dương tính, có khả năng lên men lactose và
mannitol (Phạm Hồng Sơn, 2005). Nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của E.coli ở
37°C nhưng một số chủng ở phòng thí nghiệm có thể tồn tại ở 49°C (Fotadar và cs,
2005). Để phân lập vi khuẩn E. coli, mẫu thường được nuôi cấy trên môi trường
chọn như môi trường Istratri, MacConkey, Endo, Desoxycholat, Eosin Methylen
Blue (EMB)… Trên môi trường EMB, E. coli có khuẩn lạc tím đen do vi khuẩn lên
men đường lactose sinh acid kết hợp với hai màu xanh methylen và eosin trong môi
trường (Quinn và cs, 1994).
E. coli và các vi khuẩn trong chi Escherichia chiếm khoảng 0,1% khu hệ vi
sinh vật đường ruột người (Eckburg và cs, 2005). Hầu hết các chủng E. coli vô hại,
nhưng một số serotypes có thể gây ra ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng ở người và
đôi khi có mặt trong một số thực phẩm nhiễm bẩn (Vogt và Dippold, 2005) . Các
chủng E. coli vô hại là một phần của khu hệ vi sinh vật đường ruột và có thể mang
lại lợi ích cho vật chủ bằng cách sản xuất vitamin K2 (Bentley và Meganathan,
1982) và ức chế các vi khuẩn gây bệnh ở đường ruột (Hudault và cs, 2001; Reid và
cs, 2001).
Ở động vật có xương sống, E. coli là một phần của khu hệ vi sinh vật đường
ruột nhưng đôi khi có một số chủng gây bệnh sinh độc tố gây rất nguy hiểm
(Hunter, 2003). Các nghiên cứu đã công bố sự hiện diện các chủng E. coli trên trong
đường ruột của các loài chim hoang dã như các loài thủy cầm (Hubálek, 2004).
Chủng E. coli O157 sinh độc tố Vero cytotoxin, gây ra nhiễm trùng xuất huyết
17

đường ruột ở người (Hunter, 2003). Và một số chủng gây bệnh khác đã được phân

(Salmon và Smith, 1886). Năm 1934, theo đề nghị của Hội đồng Vi sinh vật học
Quốc tế, tên nhà bệnh học thú y Daniel Elmer Salmon được đặt tên cho chi (FDA,
2008).
Salmonella spp. là vi khuẩn Gram âm, có dạng hình que ngắn, tròn ở hai
đầu, kích thước (0,4 - 0,6) x (1 - 3)µm, không sinh nha bào. Đa số các loài
Salmonella spp đều có khả năng di động mạnh do có từ 7 - 12 lông xung quanh thân
(trừ S.gallinarum, S.pullorum). Khi nhuộm Gram, vi khuẩn bắt màu đỏ đều toàn
thân hoặc hơi đậm ở hai đầu (Nguyễn Như Thanh, 1997).
Salmonella là những vi khuẩn kỵ khí tùy ý. Nhiệt độ thích hợp 37°C, nhưng
có thể phát triển được 6 - 42°C. Độ pH thích hợp bằng 7,6, nhưng vi khuẩn phát
triển được ở pH từ 6 - 9. Salmonella spp. không có khả năng phát triển ở nồng độ
muối cao (Nguyễn Như Thanh, 1997). Hầu hết các loài trong chi Salmonella đều
sinh H
2
S (Clark và Barret, 1987). Salmonella spp. có khả năng lên men và sinh hơi
từ glucose, mannitol, maltose, galactose, arabinose; không lên men đường lactose,
sucrose. Đa số Salmonella spp. không phân giải gelatin, không phân giải urea,
không sản sinh indol, một số sử dụng được cacbon ở nguồn citrate, phân giải xanh
metylen (Nguyễn Như Thanh, 1997).
Để nuôi cấy phân lập Salmonella spp.,các môi trường chọn lọc như
MacConkey, Xylose Lysine Deoxychlolate Agar (XLD), Salmonella - Shigella
thường được sử dụng (Phạm Hồng Sơn, 2005). Trên môi trường XLD, khuẩn lạc vi
khuẩn Salmonella spp. điển hình có màu hồng trong suốt, có hay không có tâm đen,
một số dòng có tâm đen bóng rất lớn có thể chiếm gần hết khuẩn lạc (Trần Linh
Thước, 2002).
Salmonella được phát hiện trên người, động vật và cả ở chim (Murray và
cs, 2000; Tizard, 2004). Chúng gây ra các bệnh như sốt thương hàn, sốt phó thương
hàn và gây ngộ độc thực phẩm (Ryan và Ray, 2004). Theo báo cáo của Van
Dorssen (1935) phân lập Salmonella Typhimurium từ thận của một loài mòng biển
(Larus canus) ở Hà Lan, thì nhiễm khuẩn Salmonella được công nhận là một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status