Hành vi cầu khiến và ứng dụng trong giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ - Pdf 26


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HỒNG

HÀNH VI CẦU KHIẾN VÀ ỨNG DỤNG TRONG GIẢNG
DẠY TIẾNG VIỆT NHƯ MỘT NGOẠI NGỮ LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI – 2008

3
M ỤC L ỤC

PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
1. Lí do chọn đề tài
2. Đối tƣợng nghiên cứu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
5. Ý nghĩa của luận văn
6. Bố cục của luận văn
CHƢƠNG 1: HÀNH VI NGÔN NGỮ VÀ HÀNH VI
CẦU KHIẾN
1.1. Hành vi ngôn ngữ
1.1.1. Phát ngôn ngữ vi và biểu thức ngữ vi
1.1.2. Động từ chỉ hành vi ngôn ngữ và động từ ngữ vi
1.1.3. Biểu thức ngữ vi nguyên cấp và biểu thức ngữ vi tƣờng
minh
1.1.4. Hành vi ở lời gián tiếp
1.2. Cầu khiến và hành vi cầu khiến
1.3. Phân loại hành vi cầu khiến
1.4. Văn hoá và lịch sự trong lời cầu khiến tiếng Việt
1.5. Sơ lƣợc về hành vi cầu khiến trong tiếng Việt
CHƢƠNG 2: HÀNH VI CẦU KHIẾN TRONG CÁC
SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI
2.1. Khảo sát hành vi cầu khiến đƣợc đƣa vào trong các sách
dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài

CHƢƠNG 3: ỨNG DỤNG VÀO GIẢNG DẠY CHO NGƢỜI
NƢỚC NGOÀI
3.1. Văn hoá giao tiếp trong sử dụng các hành vi cầu khiến
3.2. Hành vi cầu khiến trong các cấp độ giảng dạy cho ngƣời
nƣớc ngoài
3.3. Một số kiến nghị trong việc giảng dạy hành vi cầu khiến
cho ngƣời nƣớc ngoài
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TƢ LIỆU NGHIÊN CỨU
41
47
50
50
55
56

56
60

62

65
70 5
KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
tiếng Việt và lịch sử văn hóa Việt Nam. Những năm gần đây, do mối quan
hệ của Việt Nam ngày càng đƣợc mở rộng nên cơ cấu những sinh viên đến
Việt Nam học tiếng Việt đã có sự thay đổi lớn. Đó là sự có mặt của các
sinh viên đến từ những quốc gia nhƣ: Mĩ, Anh, Nhật, Tây Ban Nha, Hàn
Quốc, Ấn Độ, Mông Cổ, Singapo, Thái Lan vv Đồng thời, những cơ sở

7
đào tạo tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài cũng xuất hiện nhiều hơn ở Hà
Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng
1.3. Đáp ứng nhu cầu học tập tiếng Việt ngày càng đông của ngƣời
nƣớc ngoài và phục vụ cho việc giảng dạy tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ
đƣợc hiệu quả, chúng ta đã xây dựng đƣợc hệ thống các giáo trình ở tất cả
các trình độ và đang dần hoàn thiện các bộ giáo trình tiếng Việt chuyên
ngành. Những bộ giáo trình này là cơ sở giúp ngƣời nƣớc ngoài tiếp cận
với tiếng Việt đƣợc hệ thống và dễ dàng.
1.4. Tiến hành khảo sát những nội dung trong các bộ giáo trình dạy
tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài hiện có là một việc cần thiết. Trong khuôn
khổ luận văn thạc sĩ, chúng tôi đi sâu tìm hiểu vấn đề hành vi cầu khiến
đƣợc trình bày trong nội dung các bài học nhằm mục đích mô tả, giải thích
và phân tích nội dung hành vi cầu khiến trong sách dạy Tiếng Việt cho
ngƣời nƣớc ngoài, đồng thời đƣa ra một số nhận xét và kiến nghị trong việc
giảng dạy vấn đề hành vi cầu khiến cho ngƣời nƣớc ngoài.
2. Đối tƣợng nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu các dạng thức biểu
hiện hành vi cầu khiến đƣợc đƣa vào các bài học dùng để giảng dạy tiếng
Việt cho ngƣời nƣớc ngoài.
- Tƣ liệu nghiên cứu của luận văn là những hành vi cầu khiến xuất
hiện trong nội dung các bài dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài. Nguồn tƣ
liệu đƣợc thu thập từ 20 quyển giáo trình, trong đó có 529 hành vi cầu
khiến đƣợc thực hiện với những mục đích và hoàn cảnh khác nhau.

ngoài diễn ngôn [3;97-106].
Đó là việc dựa vào các quan hệ tƣơng tác hay quan hệ liên cá nhân
của đối ngôn và các yếu tố: chính trị, văn hóa, lịch sử, không gian, thời

9
gian vv để phân tích sự xuất hiện của các hành vi cầu khiến trong những
ngữ cảnh cụ thể của nó.
- Phương pháp miêu tả: Vận dụng các thủ pháp trong ngôn ngữ học
để tìm hiểu các chi tiết về ngữ liệu và cách biểu hiện nội dung của các hành
vi cầu khiến nhằm đem lại những kết quả sát thực cho quá trình nghiên cứu.
- Theo suốt các phƣơng pháp nêu trên là hai phƣơng pháp luận cơ
bản trong nghiên cứu khoa học: diễn dịch và quy nạp. Trong quá trình
nghiên cứu, có những kết luận chúng tôi rút ra đƣợc từ những quy luật
chung, chẳng hạn, từ thực tế thống kê các hành vi cầu khiến để khái quát về
tình hình chung trong việc sử dụng hành vi cầu khiến của ngƣời nƣớc ngoài.
Ngƣợc lại từ những biểu hiện về ý nghĩa của các hành vi chúng ta xác định
đƣợc phạm vi nghĩa của các hành vi cầu khiến trong việc truyền đạt cho
ngƣời nƣớc ngoài.
5. Ý nghĩa của luận văn
- Bƣớc đầu khảo sát hành vi cầu khiến trong các sách dạy tiềng Việt
cho ngƣời nƣớc ngoài cho thấy tình hình sử dụng cũng nhƣ việc truyền đạt
cách sử dụng hành vi cầu khiến trong tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài.
- Phân loại các hành vi cầu khiến theo từng cấp độ từ dễ đến khó
trong việc giảng dạy mảng kiến thức này. Nhằm đóng góp cho việc giảng
dạy hành vi cầu khiến nói riêng và giảng dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc
ngoài nói chung tuân theo một trình độ nhất định có trình tự từ thấp đến cao.
- Làm sáng rõ những tiêu chí trong quá trình thực hiện các hành vi
cầu khiến. Điều này quyết định cho việc nên sử dụng động từ ngữ vi, chỉ
dẫn hiệu lực tại lời vào các hành vi cầu khiến cụ thể khi tiến hành các
hoạt động giao tiếp.

đƣợc trình bày trong cuốn sách “nói là làm” (1962). Sau Austin, còn có
những nhà nghiên cứu về vấn đề này nhằm khắc phục cũng nhƣ phát triển
thêm về lí thuyết hành vi ngôn ngữ, có các nhà nghiên cứu nhƣ: J.Searle,
D.Wunderlich, F.Recanati, K.Bach và R.M.Harnish.
Nhận ra bản chất hành động của ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu cho
rằng ngôn ngữ không chỉ đƣợc dùng để thông báo hoặc miêu tả cái gì đó
mà là để thực hiện các hành động, một loại hành động đặc biệt, hành động
đƣợc thực hiện bằng các phƣơng tiện là ngôn ngữ. “ Khi nói năng chúng ta
thực hiện những hành động nhƣ chúng ta thực hiện những hành động vật lí
khác. Hỏi, sai khiến, cầu xin, hứa hẹn, cám ơn, xin lỗi v.v ” Austin cho
rằng có 3 loại hành động ngôn ngữ lớn: hành vi tạo lời, hành vi mƣợn lời
và hành vi ở lời. [2;13] Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố của
ngôn ngữ nhƣ ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu để tạo ra một
phát ngôn về hình thức và nội dung. Hành vi mượn lời là những hành vi
“mƣợn” phƣơng tiện ngôn ngữ, nói đúng hơn là mƣợn các phát ngôn để
gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở ngƣời nghe, ngƣời nhận hoặc
ở chính ngƣời nói. Ví dụ, nghe phát ngôn sai khiến: Đóng cửa lại! SP2 có
thể đứng dậy, đi ra cửa và đẩy cánh cửa cho kín lại, anh ta cũng có thể bực

12
tức, càu nhàu, tỏ vẻ khó chịu. Hành động vật lí đóng cửa, sự bực tức đều
thuộc hành vi mƣợn lời. Chức năng hành động của giao tiếp đƣợc thực hiện
nhờ các hiệu quả mƣợn lời của phát ngôn. Có những hiệu quả mƣợn lời là
đích của một hành vi ở lời (nhƣ đóng cửa là hiệu quả mƣợn lời của hành vi
ở lời điều khiển), nhƣng cũng có những hiệu quả không thuộc đích của
hành vi ở lời (nhƣ vùng vằng, gắt gỏng, khó chịu khi nghe lệnh). Những
hiệu quả mƣợn lời rất phân tán, không tính toán đƣợc. Chúng không có tính
quy ƣớc (trừ hành vi mƣợn lời đích của hành vi ở lời). Hành vi ở lời là
những hành vi ngƣời nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng
là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng

ngữ vi có một kết cấu lõi đặc trƣng cho hành vi ở lời tạo ra nó. Kết cấu lõi
đó gọi là biểu thức ngữ vi. [2; 91]
Các phát ngôn ngữ vi là sản phẩm, cũng là phƣơng tiện của các hành
vi ở lời. Phát ngôn ngữ vi tối thiểu là phát ngôn chỉ có biểu thức ngữ vi.
Thông thƣờng, phát ngôn ngữ vi thƣờng mở rộng, có biểu thức ngữ vi và
các thành phần mở rộng.
Ví dụ: Xin bà con yên tâm, tôi sẽ không bao che khuyết điểm cho ai!
Thành phần mở rộng Biểu thức ngữ vi
Phát ngôn ngữ vi

Biểu thức ngữ vi phân ra nhiều loại khác nhau, trừ trƣờng hợp sử
dụng gián tiếp thì các biểu thức ngữ vi đƣợc nhận diện nhờ các tiêu chí là
những phƣơng tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời. Nhƣ vậy có nghĩa là có bao nhiêu
hành vi ở lời thì có bấy nhiêu biểu thức ngữ vi. Biểu thức ngữ vi là dấu
hiệu ngữ pháp ngữ nghĩa của các hành vi ở lời. Có các phƣơng tiện chỉ dẫn
hiệu lực ở lời nhƣ:
(1) Các kiểu kết cấu: là kiểu câu hiểu theo ngữ pháp truyền thống và
cũng bao gồm những kết cấu (mở rộng) cụ thể ứng với từng hành vi ở lời.
ví dụ: trong kết cầu khiến không chỉ có các kiểu quen thuộc: (Hãy) đọc đi!
Đừng (chớ) làm ồn nữa! mà còn có các kết cấu nhƣ: Làm ơn đưa hộ cái

14
bình nước! Đưa cái bình nước hộ cho một tí! Cảm phiền đứng dậy một chút!
Xin đề nghị quý ông xem xét ra quyết định! Lên đường nào! Học thôi!
(2) Những từ ngữ chuyên dùng trong các biểu thức ngữ vi: những từ
ngữ này dùng để tổ chức các kết cấu và là dấu hiệu mà nhờ chúng, chúng ta
biết đƣợc hành vi nào đang đƣợc thực hiện. Đó là những từ ngữ chuyên
dùng trong các biểu thức ngữ vi hỏi nhƣ: có (đã) không (chưa)? có
phải hay không? Đó là những từ ngữ chuyên dùng trong kết cấu cầu
khiến nhƣ: hãy, đi, đừng, chớ, hãy đi, đừng nữa, xin, làm ơn, hộ, cảm

có thể thực hiện những hành động bằng cách phát âm những động từ đó
chứ không thể bằng con đƣờng nào khác. Austin cho rằng động từ ngữ vi
chỉ đƣợc dùng trong chức năng ngữ vi (có hiệu lực ngữ vi) khi trong phát
ngôn nó đƣợc dùng ở ngôi thứ nhất (ngƣời nói SP1) thời hiện tại, thể chủ
động và thức thực thi.
Xét theo khả năng có thể hay không có thể đƣợc dùng với chức năng
ngữ vi trong các biểu thức ngữ vi, các động từ nói năng tiếng Việt có thể
chia thành 3 loại: (1) loại vừa có thể dùng ở chức năng ngữ vi, vừa có thể
dùng với chức năng miêu tả (hỏi, hứa, mời, tuyên bố, tuyên án, phê bình,
cảnh cáo ) (2) những động từ nói năng chỉ đƣợc dùng trong hiệu lực ngữ
vi, không thể dùng trong các chức năng miêu tả (đó là một số ít các động từ:
cảm tạ, đội ơn, đa tạ ) (3) những động từ chỉ có thể dùng trong các chức
năng miêu tả lại hành vi ở lời, không thể dùng trong chức năng ngữ vi (đó
là những động từ: hỏi han, bảo ban, sai khiến, chửi mắng, khoe, dọa,
giễu ) [2;98]
1.1.3. Biểu thức ngữ vi nguyên cấp (hàm ẩn) và biểu thức ngữ vi tường
minh (Phát ngôn ngôn hành hàm ẩn và phát ngôn ngôn hành tƣờng minh)
Các hành động đƣợc thực hiện bằng ngôn ngữ đƣợc gọi chung là các
hành vi ngôn ngữ (hay hành động ngôn từ). Để phân loại hành vi các nhà
nghiên cứu đã đƣa ra hai khái niệm biểu thức ngữ vi nguyên cấp và biểu

16
thức ngữ vi tƣờng minh. Những dấu hiệu để nhận biết đƣợc dựa trên cơ sở
các động từ ngữ vi và một số dấu hiệu khác đƣợc gọi là phƣơng tiện chỉ
dẫn hiệu lực tại lời.
Nhƣ vậy, các hành vi ngôn ngữ không chỉ đƣợc thực hiện bằng các
động từ ngữ vi mà còn đƣợc thực hiện ở những phát ngôn có chứa các
phƣơng tiện chỉ dẫn hiệu lực tại lời. Những phát ngôn đƣợc thực hiện bằng
các động từ ngữ vi đƣợc gọi là phát ngôn tƣờng minh (hay còn gọi là biểu
thức ngữ vi tƣờng minh), những phát ngôn không chứa các động từ ngữ vi

Trƣớc khi đến với nghĩa gián tiếp của hành động, ngƣời nói và ngƣời
nghe đều phải nhận biết đƣợc ý nghĩa trực tiếp của hành động. Đồng thời,
những hiểu biết chung của nhân vật giao tiếp về văn hóa, ngôn ngữ sẽ giúp
cho ngƣời giao tiếp nhận biết đƣợc ý nghĩa gián tiếp của hành động. Vì vậy,
để hành vi ngôn ngữ gián tiếp đƣợc thực hiện một cách có hiệu quả, chúng
ta cần phải có những hiểu biết nhất định về các yếu tố: ngữ cảnh, quan hệ
ngữ nghĩa giữa các thành phần của nội dung mệnh đề trong biểu thức ngữ
vi trực tiếp với ngữ cảnh, phép lịch sự, quy tắc hội thoại, logic
1.2. Cầu khiến và hành vi cầu khiến
Cầu khiến là việc yêu cầu làm hay không làm một việc gì, cầu khiến
đƣợc biểu hiện chủ yếu dƣới dạng ngôn ngữ là những câu mang ý nghĩa
cầu khiến. Trong ngôn ngữ học, cầu khiến là vấn đề đã đƣợc nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm. Từ ngôn ngữ học truyền thống đến ngôn ngữ học
hiện đại, vấn đề cầu khiến đã đƣợc đề cập trên nhiều khía cạnh khác nhau.
Ngôn ngữ học truyền thống đồng nhất cầu khiến với câu cầu khiến,
câu cầu khiến là một loại câu trong hệ thống câu đƣợc phân loại theo mục
đích nói. Cách phân loại này sử dụng hai tiêu chí: mục đích nói và dấu hiệu
hình thức.

18
- Về mặt nội dung: câu cầu khiến nhằm mục đích nói lên ý chí của ngƣời
nói và đòi hỏi, mong muốn đối phƣơng thực hiện những điều nêu ra trong
câu nói.
- Về nội hàm khái niệm cầu khiến, các nhà ngôn ngữ học vẫn chƣa có quan
điểm thống nhất nhƣng nhìn chung khi nói về nội dung cầu khiến, các nhà
ngữ pháp đã đề cập đến các loại: ra lệnh, yêu cầu, sai bảo, đề nghị, cấm
đoán, khuyên răn, dặn dò, chúc tụng, cầu mong, mời mọc, kêu gọi, thách
thức, cổ vũ
- Về mặt hình thức: câu cầu khiến gắn với động từ ở thức mệnh lệnh và
đƣợc đánh dấu bằng các phƣơng tiện hình thức khác nhau: khi nói dùng

hành động của con ngƣời đƣợc thực hiện bằng ngôn ngữ. Nhiều nhà nghiên
cứu đã cho rằng đây là một loại hành vi tiêu biểu trong những hành vi bằng
ngôn ngữ của con ngƣời. Bởi vì, hành vi cầu khiến là hành vi có những
điều kiện thực hiện và những biểu hiện rõ nhất, đặc trƣng cho các hành vi
ngôn ngữ, có đầy đủ đặc điểm của ba loại hành động ngôn ngữ và có những
đặc điểm sau:
- Đích ở lời: Tức mục đích của hành vi là đặt ngƣời nghe vào trách
nhiệm thực hiện một hành động thực hiện trong tƣơng lai.
- Hƣớng khớp ghép: Hiện thực - Lời.
- Trạng thái tâm lí là sự mong muốn của ngƣời nói.
- Nội dung mệnh lệnh là hoạt động tƣơng lai của ngƣời nghe.
Khi sử dụng, có thể thực hiện một trong số những hành động nhƣ: đề
nghị, yêu cầu, cho phép, ra lệnh, mời mọc, rủ rê, thỉnh cầu, khuyên, cấm
đoán, hỏi, chỉ thị những hành động này đƣợc tạo nên từ các vỏ ngữ âm,
từ ngữ, các kết hợp từ khác nhau. Đặc biệt, những yếu tố ngoài ngôn ngữ
nhƣ: ngữ cảnh, mục đích, hiệu quả sử dụng là những yếu tố quan trọng,
mang tính nguyên tắc riêng của mỗi cộng đồng ngôn ngữ có thể quyết định
việc sử dụng các hành vi cầu khiến đó.

20
Việc phân loại hành vi cầu khiến đƣợc dựa trên hai căn cứ: Thứ nhất
là dựa vào thành phần cấu tạo nên phát ngôn. Thứ hai là dựa vào hoàn cảnh,
mục đích, hiệu quả sử dụng của hành vi cầu khiến. Việc phân loại hành
vi cầu khiến dựa trên hai tiêu chí này không phải là hai cách phân chia khác
nhau mà là cách phân chia dựa trên hai góc độ khác nhau để chúng ta có
thể hiểu rõ hơn về hành vi cầu khiến.
Xét về thành phần cấu tạo, có thể chia hành vi cầu khiến thành hai
loại: hành vi cầu khiến tƣờng minh và hành vi cầu khiến nguyên cấp. Sự
phân chia này dựa trên cơ sở của các quan niệm về biểu thức ngữ vi nguyên
cấp và biểu thức ngữ vi tƣờng minh của lí thuyết hành vi ngôn ngữ. Theo

khiến cụ thể và rõ ràng. Vì chúng sử dụng các động từ cầu khiến, các động
từ này tự thân đã tƣờng minh hiệu lực cầu khiến mà chúng biểu thị.
Ví dụ:
“Tôi ra lệnh các đồng chí phải hành quân ngay trong đêm nay” và “Các
đồng chí phải hành quân ngay trong đêm nay”. là hai phát ngôn có hiệu
lực cầu khiến, song phát ngôn chứa động từ cầu khiến “ra lệnh” có hiệu lực
cầu khiến rõ ràng và cụ thể hơn.
Trong các hành vi cầu khiến tƣờng minh, hành vi cầu khiến đƣợc
tƣờng minh hóa, cụ thể hóa bằng một trong những động từ cầu khiến nhƣ:
yêu cầu, ra lệnh, bắt, cấm Các động từ này có mặt tích cực và mặt tiêu
cực. Mặt tích cực: chúng đảm bảo đƣợc tính rõ ràng, minh bạch của hành vi
yêu cầu trong bối cảnh giao tiếp mang tính nghi thức – nhƣ giao tiếp bằng
văn bản – đơn từ trong phong cách hành chính công vụ, hay trong các cuộc
họp mang tính nghi lễ. Mặt tiêu cực: do đƣợc tƣờng minh hóa nên hành vi
cầu khiến bằng một trong các động từ cầu khiến đã vi phạm nguyên tắc của
phép lịch sự trong quan hệ với tính lịch sự trong giao tiếp. Việc sử dụng
các động từ cầu khiến nhƣ: yêu cầu, ra lệnh, cấm, bắt khiến cho tính áp
đặt, dồn nén của các hành vi cầu khiến tƣờng minh rất cao. Kết quả là SP2

22
cảm thấy không tự do, thoải mái. Hay SP1 sử dụng các động từ cầu khiến:
van, xin., nhờ, năn nỉ thì có nghĩa SP1 đã đặt mình vào tình trạng trông
chờ lòng tốt, sự cảm thông của SP2, điều đó cũng có nghĩa là SP1 bộc lộ
những thiếu sót, những chỗ yếu của mình. Nhƣ vậy, sử dụng hành vi cầu
khiến tƣờng minh thì thể diện của SP1 cũng bị hạ thấp một cách rõ ràng.
Hành vi cầu khiến nguyên cấp mang nội dung cầu khiến giống nhƣ
hành vi cầu khiến tƣờng minh. Tuy nhiên, về mặt cấu tạo, hành vi cầu
khiến nguyên cấp không đƣợc cấu tạo bởi những động từ ngữ vi cầu khiến
mà đƣợc cấu tạo bởi những phƣơng tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời. Đó là các từ
ngữ chuyên dùng trong các kết cấu cầu khiến: hãy, đi, đừng, chớ, hãy đi,

Phân loại hành vi cầu khiến tƣờng minh và hành vi cầu khiến nguyên
cấp đem lại những hiểu biết toàn diện về các cách biểu hiện hành vi cầu
khiến. Mỗi một hành vi cụ thể trong ngữ cảnh cụ thể đƣợc lựa chọn cách
biểu hiện riêng. Từ cách biểu hiện hành vi cầu khiến tƣờng minh và hành vi
cầu khiến nguyên cấp thông qua việc sử dụng các động từ ngôn hành cầu
khiến và các phƣơng tiện chỉ dẫn hiệu lực tại lời đã giúp ngƣời nói (SP1)
và ngƣời nghe (SP2) nhận diện hành động một cách dễ dàng và thuận tiện
hơn.
Tuy nhiên, không phải mỗi động từ ngữ vi cầu khiến và mỗi phƣơng
tiện chỉ dẫn hiệu lực tại lời đều mang một ý nghĩa hành vi cầu khiến riêng.
Nhà nghiên cứu Searle đã chỉ ra hạn chế của Austin và cho rằng có thể hai
hay nhiều động từ ngữ vi cùng biểu hiện một hành động mà đôi khi chúng
ta đã nhầm lẫn là chúng biểu hiện những hành động khác nhau. Chẳng hạn
order (ra lệnh) và command (chỉ huy, sai khiến) thể hiện hai hành vi khác
nhau nhƣng thực ra nó chỉ là một. [4;25] Ví dụ: hành vi mệnh lệnh có thể
đƣợc thể hiện nhờ các động từ ngữ vi ra lệnh, hạ lệnh, lệnh, truyền Thậm
chí, có cả một loạt động từ đồng nghĩa nhƣng động từ này có thể dùng làm

24
động từ ngữ vi còn động từ kia thì không. Đó là trƣờng hợp của những
động từ đơn và động từ ghép đẳng nghĩa hoặc động từ láy, ví dụ: khuyên –
khuyên bảo, chê – chê trách, trách – trách móc, cấm – cấm đoán, phạt –
quở phạt, cƣợc – cá – cá cƣợc Trong một phát ngôn, nếu động từ thứ
nhất xuất hiện với tƣ cách là động từ ngữ vi cầu khiến thì nếu thay thế nó
bằng động từ ghép hoặc láy tƣơng ứng chúng ta sẽ dẫn tới một câu không
chấp nhận đƣợc: Tôi khuyên chị nên gặp ông ấy - * Tôi khuyên bảo chị nên
gặp ông ấy. Tƣơng tự nhƣ vậy, các phƣơng tiện chỉ dẫn hiệu lực tại lời
cũng đƣợc sử dụng để biểu thị các hành vi cầu khiến.
Ví dụ: khi thực hiện hành vi mệnh lệnh, chúng ta dùng các tiểu từ ngay,
đi đặt ở cuối một biểu thức biểu hiện một hành động: Làm ngay! Nói đi!

tôi v.v Để đánh dấu khoảng cách xã hội, trong tiếng Việt cũng nhƣ nhiều
ngôn ngữ khác, ngƣời ta còn dùng hình thức hô gọi bao gồm cả chức vụ lẫn
họ tên. Ví dụ: Thầy Nguyễn Thiện Giáp, Giám đốc Nguyễn Văn Thanh
Bên cạnh đó, quan hệ thân hữu cũng đƣợc xem là nhân tố bên trong đối với
giao tiếp. Nếu nhƣ trong quan hệ vị thế, các từ ngữ thể hiện vai giao tiếp
đƣợc xác định rõ ràng thì trong mối quan hệ thân hữu sự rõ ràng có phần bị
hạn chế hơn và đôi khi còn là “ý thích” của mỗi ngƣời tham gia giao tiếp.
Ví dụ: khi thực hiện hành vi ra lệnh (mang tính chất khiến), SP1 phải là
ngƣời có vị thế cao hơn so với SP2 nhƣng trong quan hệ thân hữu, hành
động ra lệnh ít đƣợc thực hiện mà thƣờng đƣợc thực hiện những hành động
có tính áp đặt thấp hơn nhƣ hành động ra lệnh hoặc sai khiến.
Thực hiện hành vi cầu khiến, những hiểu biết về vai giao tiếp là hết
sức quan trọng nhƣng chƣa phải là yếu tố duy nhất quyết định quá trình sử
dụng ngôn ngữ. Vì vậy, yếu tố quyền lợi khi thực hiện hành vi cũng đƣợc
xem là yếu tố có tính chất quyết định đối với việc lựa chọn ngôn ngữ cho
hành vi đó. Quyền lợi khi thực hiện hành vi là mục đích cuối cùng mà SP1
hƣớng tới. Mục đích đó chính là việc SP1 hƣớng quyền lợi về phía mình

Trích đoạn Về ngữ cảnh của các hành ỨNG DỤNG VÀO GIẢNG DẠY CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI 3.1 Văn hóa giao tiếp trong sử dụng các hành vi cầu khiến Hành vi cầu khiến trong các cấp độ giảng dạy cho ngƣời nƣớc ngoà Một số kiến nghị trong việc giảng dạy hành vi cầu khiến cho ngƣời nƣớc ngoà TƢ LIỆU NGHIÊN CỨU
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status