ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỒNG THỊ HẰNG ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ NGỮ
BIỆT NGỮ THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
Người hướng dẫn khoa học:
GS. TS Nguyễn Đức Tồn
Hà Nội, 2013
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………… 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 4
PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………… 5
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ BIỆT NGỮ 5
1.1. TỔNG QUAN CÁC TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ BIỆT NGỮ 5
1.2. KHÁI NIỆM BIỆT NGỮ 6
1.2.1. Nguồn gốc của thuật ngữ "biệt ngữ" 6
1.2.2. Định nghĩa biệt ngữ 7
2.1.4. Hiện tƣợng liên tƣởng đồng âm 54
2.1.5. Hiệp vần để tạo kết hợp lạ 55
2.1.6. Sử dụng các yếu tố tình thái 56
2.1.7. Sử dụng các yếu tố Hán Việt thay cho từ thuần Việt thông dụng 57
2.2. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VỀ MẶT NGỮ PHÁP 58
2.2.1. Đặc điểm về mặt từ loại 59
2.2.2. Đặc điểm cấu tạo về mặt kết hợp các thành tố (đơn, ghép, láy) 60
2.3. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC TỪ NGỮ THUỘC BIỆT NGỮ CỦA
THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY SO VỚI CÁC DẠNG BIỆT
NGỮ KHÁC XÉT VỀ MẶT CẤU TẠO 62
2.4. TIỂU KẾT 63
Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CÁC TỪ NGỮ BIỆT NGỮ CỦA THANH
THIẾU NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY 65
3.1. CÁC PHẠM VI NGỮ NGHĨA ĐƢỢC BIỂU THỊ CỦA TỪ NGỮ BIỆT
NGỮ THANH THIẾU NIÊN 65
3.1.1. Biệt ngữ trong hoạt động học tập của thanh thiếu niên 65
3.1.2. Biệt ngữ trong phạm vi giao tiếp nói về tình bạn, tình yêu học trò 67
3.1.3. Biệt ngữ trong hoạt động giao tiếp vui chơi giải trí, thời trang… của thanh
thiếu niên 68
3.2. ĐẶC ĐIỂM LIÊN TƢỞNG PHỔ BIẾN CỦA GIỚI TRẺ ĐỂ TẠO BIỆT
NGỮ 69
3.2.1. Biện pháp mở rộng - thu hẹp nghĩa 69
3.2.2. Biện pháp chuyển nghĩa 70
3.2.3. Sử dụng từ đồng nghĩa 72
3.3 TIỂU KẾT 73
Chƣơng 4: ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ NGÔN NGỮ HỌC CỦA HÀNH VI SỬ DỤNG CÁC
TỪ NGỮ BIỆT NGỮ CỦA THANH THIẾU NIÊN HIỆN NAY 74
4.1. PHƢƠNG PHÁP ĐIỀU TRA 74
4.2. KẾT QUẢ ĐIỀU TRA 74
4.3. THẢO LUẬN VÀ ĐÁNH GIÁ 76
đất nƣớc ta sẽ có một thế hệ những con ngƣời mới trong quá trình giao tiếp lạm
dụng từ ngữ nƣớc ngoài, sử dụng những yếu tố ngôn ngữ không lành mạnh, tối
nghĩa để diễn đạt tƣ tƣởng của mình trong giao tiếp.
Mặt khác, trên thực tế, chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện
chuyên sâu về những từ ngữ biệt ngữ ở tuổi thanh thiếu niên về đặc điểm cấu tạo
và ngữ nghĩa.
Từ những lý do trên, việc tìm hiểu đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa từ ngữ biệt
ngữ của thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay sẽ có ý nghĩa xã hội sâu sắc.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu của luận văn là chỉ ra đặc điểm khu biệt giữa biệt ngữ
của thanh thiếu niên với các dạng biệt ngữ khác nhƣ: tiếng lóng, thuật ngữ, từ
nghề nghiệp…, đặc điểm tâm lý ngôn ngữ của hành vi sử dụng từ ngữ biệt ngữ
của thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay, nhằm định hƣớng dƣ luận xã hội đúng
đắn đối với hiện tƣợng ngôn ngữ đang đƣợc giới trẻ rất ƣa dụng này, đồng thời
định hƣớng việc sử dụng ngôn ngữ một cách tích cực, góp phần vào việc quy
hoạch, hoạch định chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam và trong việc giáo dục văn
hóa giao tiếp cho thanh thiếu niên hiện nay.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm
vụ sau:
- Nhận diện các từ ngữ biệt ngữ của thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay, chỉ ra
những đặc điểm khu biệt của nó so với các dạng biệt ngữ khác nhƣ: tiếng lóng,
thuật ngữ, từ nghề nghiệp, v.v…
- Tìm hiểu từ ngữ biệt ngữ của thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay về đặc điểm
cấu tạo và ngữ nghĩa, qua đó chỉ ra những đặc điểm về tâm lí ngôn ngữ học của
nhóm xã hội sử dụng là thanh thiếu niên.
- Ứng dụng kết quả nghiên cứu nêu định hƣớng tác động theo hƣớng tích cực,
góp phần giáo dục văn hóa giao tiếp cho thanh thiếu niên hiện nay.
nhau về ngữ nghĩa. Phƣơng pháp này đƣợc dùng để phân tích, chỉ ra các nét khu
biệt ngữ nghĩa của các từ biệt ngữ đƣợc nghiên cứu.
6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Cấu trúc của luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo gồm
có 4 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết chung về biệt ngữ
Chƣơng 2: Đặc điểm cấu tạo của các từ ngữ biệt ngữ của thanh thiếu niên Việt
Nam hiện nay
Chƣơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ biệt ngữ
Chƣơng 4: Đặc điểm tâm lí ngôn ngữ học của hành vi sử dụng các từ ngữ biệt
ngữ của thanh thiếu niên hiện nay
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ BIỆT NGỮ
1.1. TỔNG QUAN CÁC TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ BIỆT NGỮ
Biệt ngữ là một đề tài đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà
- Chƣa đi sâu vào khảo sát các đặc tính cũng nhƣ bản chất ngôn ngữ học của
biệt ngữ.
- Các công trình thực sự đi sâu chuyên nghiên cứu về biệt ngữ chƣa nhiều.
- Chƣa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của các
từ ngữ biệt ngữ của thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay.
1.2. KHÁI NIỆM BIỆT NGỮ
1.2.1. Nguồn gốc của thuật ngữ "biệt ngữ"
Biệt ngữ, tiếng Anh là jargon là những thuật ngữ kỹ thuật thuộc các lĩnh vực
riêng biệt đòi hỏi có vốn từ vựng chuyên ngành. Khái niệm biệt ngữ (jargon) xuất
hiện vào cuối thế kỷ 14 vốn có nghĩa là “twittering of birds” (tiếng hót líu lo của
loài chim). Dần dần từ biệt ngữ đƣợc dùng để chỉ những thuật ngữ kỹ thuật của
những ngành nghề cụ thể, là cách nói và viết khó hiểu. Những nhà ngôn ngữ học
nghiên cứu về biệt ngữ đều thống nhất rằng biệt ngữ chủ yếu nói về các tiện ích
chứ không bao gồm những từ ngữ chủ tính quỷ quyệt, gian xảo, thủ đoạn nhƣ
tiếng lóng.
Trong tiếng Việt, chƣa có ai đặt ra câu hỏi đƣa ra câu trả lời cho nó: biệt ngữ
xuất hiện từ bao giờ?
Theo cuốn "Chinock - Jargon" của tác giả Edward H. Thomos xuất bản năm
1935 thì Jargon (biệt ngữ) đƣợc sinh ra trong thời kỳ trƣớc khi tiếp xúc với châu
Âu và đã đƣợc những ngƣời sống ở phía Bắc của đảo Vancouver và ở phía Nam
bờ biển California sử dụng. Jargon đƣợc sử dụng nhƣ một ngôn ngữ thƣơng mại
không chỉ giữa các dân tộc bản địa của các bộ lạc khác nhau mà còn là thứ "tiếng
pha trộn ở miền Cận Đông" giữa các nhóm cũng không thuộc địa phƣơng đó. Hầu
nhƣ tất cả những ngƣời định cƣ ở vùng lãnh thổ Oregon đã học đƣợc một số từ
ngữ jargon (biệt ngữ) để giao tiếp với các nƣớc láng giềng của họ. Ngôn ngữ đƣợc
sử dụng từ những năm 1920 và cho đến nay vẫn dùng thông qua vùng Tây Bắc.
Nhƣ vậy:
- Khái niệm biệt ngữ xuất hiện vào khoảng thế kỷ 14 vốn có nghĩa là "tiếng hót
líu lo của các loài chim". Dần dần biệt ngữ đƣợc dùng để chỉ các thuật ngữ kỹ
thuật ngành nghề cụ thể, là cách nói và viết khó hiểu.
ngƣời buôn bán, những ngƣời lái xe, quân đội… Cũng có những biệt ngữ của
những ngƣời thƣờng xuyên tham dự một trò giải trí, một môn thể dục thể thao nào
đấy… Ví dụ:
- Biệt ngữ của những ngƣời theo đạo Thiên Chúa: nữ tu, thầy già, lỡi, ơn ích, kẻ
lành, ông quản,…
- Biệt ngữ của triều đình phong kiến: Trẫm, Khanh, long thể, long nhan, ngự
giá, hoàng đế, vương mẫu, nương nương, ái phi, long bào,…
Trong biệt ngữ, nên phân biệt làm hai loại: những biệt ngữ là tên gọi chính thức
của các sự vật, hiện tƣợng,… thực có trong một tập thể xã hội đó, nhƣ những biệt
ngữ: ngai vàng, tàn, lọng, cung,… và các tên gọi quan tƣớc, phẩm trật của triều
đình phong kiến. Những biệt ngữ này có tính toàn dân cao hơn, dễ dàng đƣợc toàn
thể xã hội sử dụng khi cần thiết. Thứ hai, là những biệt ngữ nhƣ là những tên gọi
thêm, chồng lên tên gọi chính thức, các tập thể xã hội sản sinh ra chúng với mục
đích phân biệt mình với những tập thể xã hội khác, nhƣ các biệt ngữ: trẫm (tức là
"tôi", "ta"), ngự thiện (tức là "ăn, nói về vua")…
Jargon (biệt ngữ): Theo cuốn từ điển A dictionary of slang, jargon and cant
embracing English, American, and Anglo-indian slang, pidgin English, tinker's
jargon, and otherirregular phraseclogi (Từ điển tiếng lóng, biệt ngữ gồm Anh, Mỹ
và tiếng lóng Anh - Ấn Độ, tiếng Anh bồi biệt ngữ chọc ngoáy và từ ngữ không
thƣờng xuyên khác): "có nghĩa là (1) vô nghĩa, không mạch lạc hoặc nói chuyện
vô nghĩa; (2) một loại ngôn ngữ lai hoặc phƣơng ngữ bồi; (3) là ngôn ngữ chuyên
ngành hoặc kỹ thuật thƣơng mại, nghề nghiệp hoặc nhóm phƣơng ngữ; (4) lời
phát biểu bằng văn bản có vốn từ vựng bất thƣờng hay khoe khoang, phân nhịp
phức tạp và ý nghĩa mơ hồ. Từ điển còn chú thích: Biệt ngữ là một ngôn ngữ đặc
trƣng của một nhóm cụ thể (nhƣ giữa các kẻ trộm)".
Jargon: Theo từ điển Oxford Dictionaries: "Đƣợc dịch là thuật ngữ hay biệt
ngữ: là những từ ngữ đặc biệt hoặc biểu thức đƣợc một nghề nghiệp hoặc nhóm sử
dụng mà rất khó cho những ngƣời khác để hiểu". (oxforddictionaries.com)
Jargon: Theo từ điển Oxford English - Vietnamese: "Biệt ngữ, tiếng của một
giới, một ngành chuyên môn; tiếng lóng, tiếng man rợ." [68, 466]
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu (1981): Biệt ngữ có thể có cách gọi khác là tiếng xã
hội và tiếng xã hội này đƣợc sử dụng trong một tập thể xã hội nhất định;
Biệt ngữ có thể phân chia làm hai loại, bao gồm: (1) biệt ngữ là những tên gọi
chính thức của các sự vật, hiện tƣợng… thực có trong tập thể xã hội và (2) biệt
ngữ là những tên gọi thêm, chồng lên tên gọi chính thức; sự xuất hiện của những
tên gọi thêm này giúp cho việc phân biệt tập thể xã hội này với xã hội khác. [3,
236 -237]
Cũng theo Đỗ Hữu Châu: Biệt ngữ (còn gọi là các tiếng xã hội) bao gồm các
đơn vị từ vựng đƣợc dùng trong một tập thể xã hội. Có biệt ngữ của giai cấp thống
trị trong xã hội cũ, các giới xã hội nhƣ công chức, học sinh, những ngƣời buôn
bán, ngƣời lái xe, quân đội,… Cũng có những ngôn ngữ của những ngƣời thƣờng
xuyên tham dự một trò chơi, một môn thể thao nào đó. Giữa biệt ngữ và từ nghề
nghiệp có sự nhập nhằng. Chúng tạm thời đƣợc quy định nhƣ sau: Biệt ngữ là
những đơn vị từ vựng không thuộc về các sự vật, hành động, đặc biệt vốn là
những bộ phận hợp thành của một nghề nghiệp, một môn thể dục thể thao nhất
định. Những từ biểu thị các sự vật, hoạt động này là các từ nghề nghiệp hay thuật
ngữ. Biệt ngữ chỉ là những đơn vị từ vựng "chồng" lên những đơn vị từ vựng mà
ngôn ngữ toàn dân đã có, góp phần tạo nên cái vẻ riêng của những ngƣời tham gia
ngành nghề hay trò chơi đó… Hay nói rõ hơn là đối với những ngƣời không thuộc
tập thể xã hội đó thì ngƣời ta dùng từ toàn dân để biểu thị, còn đối với những
những trong cùng một tập thể xã hội thì dùng một từ biệt ngữ riêng. Cho nên, biệt
ngữ thƣờng có vẻ "lạ tai" đối với ngƣời ngoài. [4,134-135]
Theo Nguyễn Thiện Giáp (2010), biệt ngữ là những từ ngữ đƣợc sử dụng hạn
chế về mặt xã hội, tức là những từ ngữ không phải toàn dân dùng mà chỉ một tầng
lớp xã hội nào đó dùng mà thôi. Nói chung, mỗi tầng lớp xã hội có chung một
hoàn cảnh, một cách sống, có thể tạo ra một số từ ngữ riêng chỉ dùng trong nội bộ
tầng lớp mình. Những từ ngữ nhƣ vậy đều có thể gọi là biệt ngữ. Biệt ngữ lệ thuộc
vào từng giai cấp, từng tầng lớp xã hội nhất định nhƣng nếu căn cứ vào đó mà cho
rằng ngôn ngữ có tính giai cấp là hoàn toàn sai lầm. Mọi tầng lớp, mọi giai cấp
đều có chung một hệ thống ngữ âm, một hệ thống ngữ pháp nhƣ ngôn ngữ toàn
gọi chồng lên tên gọi chính thức của các sự vật, hiện tượng. Những từ ngữ biệt
ngữ mang tính hài hước, dí dỏm.
1.3. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BIỆT NGỮ
1.3.1. Biệt ngữ là phƣơng ngữ xã hội
Ngôn ngữ với tƣ cách là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con ngƣời, nó
phản ánh mặt xã hội, phản ánh sự phân chia xã hội thành tầng lớp, nghề nghiệp,
môi trƣờng sinh hoạt… Khi sử dụng để giao tiếp, ngôn ngữ đƣợc thể hiện bằng
phƣơng ngữ. Vì thế ngƣời ta thƣờng nói, “Chị này nói tiếng Huế”, “Anh kia nói
tiếng Nghệ Tĩnh”, v,v… “tiếng” ở đây là chỉ phƣơng ngữ địa lý. Phƣơng ngữ địa
lý hay còn gọi là phƣơng ngôn, tiếng địa phƣơng là hình thức ngôn ngữ tồn tại ở
một vùng miền nào đó. Hay nói cách khác, phƣơng ngữ địa lý chỉ những từ ngữ
đƣợc sử dụng phổ biến ở một vài địa phƣơng, là bộ phận của ngôn ngữ nói hàng
ngày của mỗi vùng địa phƣơng. Phƣơng ngữ địa lý cũng rất dễ trở thành một “dấu
hiệu” xã hội. Ví dụ, ở một số thành phố lớn của nƣớc Mỹ có rất nhiều ngƣời da
đen từ miền Nam đến nhập cƣ. Họ thƣờng dùng trợ động từ phủ định ain’t thay
cho tất cả các ngôi có các động từ “am not”, “isn’t”, “don’t”, “doesn’t”, “have
not”, “has not”. Ví dụ: “he ain’t got it” = “he hasn’t got it”. Những ngƣời nói kiểu
phủ định nhƣ thế này vô hình trung bị coi là ngƣời thiếu đƣợc giáo dục văn hóa. Ở
đây, theo Nguyễn Văn Khang, “phƣơng ngữ địa lý" đã “nhuốm màu xã hội” và trở
thành phƣơng ngữ xã hội. [22,115]
Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp của con ngƣời, nó phản ánh mặt xã hội của
ngƣời giao tiếp. Mỗi một thành viên trong xã hội sẽ đƣợc xếp vào các giai tầng xã
hội khác nhau trên cơ sở hàng loạt các tiêu chí nhƣ giới tính, nghề nghiệp, trình độ
văn hóa, tuổi tác… Các đặc điểm về giai tầng xã hội có tác động trực tiếp và tạo
nên các đặc điểm về ngôn ngữ trong sử dụng. Những ngƣời làm các nghề khác
nhau có sự khác nhau trong cách nói, nhƣ công nhân, nông dân, học sinh sinh
viên, ngƣời buôn bán, các nhà khoa học… Những sự khác nhau này nhiều khi là
rất lớn đến nỗi ngƣời làm nghề này không hiểu “ngôn ngữ” của ngƣời làm nghề
khác. Nhƣng những sự khác nhau ấy chỉ thu hẹp ở mặt từ ngữ, thuật ngữ chuyên
môn, chứ không động chạm đến cấu trúc của ngôn ngữ và mã ngôn ngữ. Biệt ngữ
tên gọi thêm, chồng lên tên gọi chính thức nhƣ: uyển ngữ, tiếng lóng…
1.4. NGUỒN GỐC VÀ CHỨC NĂNG CỦA BIỆT NGỮ
Biệt ngữ nói chung, biệt ngữ của lứa tuổi thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay
nói riêng, đƣợc tạo để thực hiện những chức năng khác nhau:
Với tƣ cách là phƣơng ngữ xã hội, biệt ngữ chỉ đƣợc dùng giới hạn trong các
nhóm xã hội khác nhau. Biệt ngữ có phạm vi sử dụng hẹp, là những từ ngữ không
phải đƣợc toàn dân dùng mà chỉ có những ngƣời trong cùng một tập thể xã hội
dùng. Và chỉ có những ngƣời trong tập thể xã hội đó mới hiểu đƣợc những từ ngữ
đó. Ví dụ: chỉ có những ngƣời làm về công nghệ thông tin mới biết các thuật ngữ
nhƣ: CPU, Ram, chip,… Hay những từ ngữ mà giới học sinh sinh viên hay dùng
nhƣ: cúp tiết, trứng ngỗng, gậy, đỉnh,… Những mục đích khác nhau khi tạo ra biệt
ngữ có thể là để gọi chính xác tên của các sự vật, hiện tƣợng thực có trong xã hội;
hoặc nhằm đùa vui, tạo phong cách riêng, dễ nhớ, để hợp mốt; hoặc có thể là để
giữ bí mật thông tin.
Biệt ngữ là công cụ, là phƣơng tiện tồn tại và phát triển của các nhóm xã hội,
đặc biệt là trong giới thanh thiếu niên. Họ tạo ra những từ ngữ này để các thành
viên trong nhóm sử dụng vừa với tƣ cách là ám hiệu để nhận ra nhau, hiểu nhau;
vừa để tạo ra một không khí vui vẻ, dí dỏm và sinh động. Sự sinh tồn của những
từ ngữ biệt ngữ của thanh thiếu niên gắn liền với sự tồn tại của nhóm thanh thiếu
niên đã tạo ra chúng.
Biệt ngữ đƣợc thanh thiếu niên tạo ra còn nhằm mục đích giảm bớt đƣợc những
khó khăn khi phải nói về những vấn đề tế nhị trong cuộc sống. Có những vấn đề
mà không thể thảo luận bằng ngôn ngữ toàn dân, ngôn ngữ chuẩn mực. Nói cách
khác, các từ ngữ biệt ngữ của thanh thiếu niên hiện nay chủ yếu là những từ ngữ
dùng để tránh đi những sắc thái đau buồn, thô thiển hoặc khiếm nhã nếu phải dùng
những từ ngữ toàn dân chính thức. Chẳng hạn, học sinh sinh viên thích hỏi thăm
nhau bằng câu “Ăn trứng ngỗng hả?” hơn là câu hỏi “Bị điểm 0 hả?”. Bởi theo
cách nói thứ nhất thì một hình ảnh ngộ nghĩnh đƣợc hiện ra, ngƣời hỏi có thể tƣơi
cƣời, ngƣời đƣợc hỏi cũng có thể mỉm cƣời mà bớt đi những nỗi buồn trong lòng.
Hay khi hỏi các vấn đề tế nhị có liên quan đến bộ phận sinh dục thì thanh thiếu
nghĩa, phân loại và đánh giá khác nhau về tiếng lóng, đặc biệt là trong việc phân
biệt biệt ngữ với tiếng lóng và từ nghề nghiệp.
Theo Đỗ Hữu Châu [7, 164] khẳng định: "Tiếng lóng bao gồm một số từ bí
hiểm để che giấu tƣ tƣởng của ngƣời nói, không cho nhiều ngƣời ngoài tập đoàn
xã hội của mình biết". Cũng theo Đỗ Hữu Châu, trong giáo trình Từ vựng - ngữ
nghĩa tiếng Việt: tiếng lóng bao gồm các đơn vị từ vựng thuộc loại thứ hai trong
biệt ngữ, tức là những tên gọi "chồng lên" trên những tên gọi chính thức. Hiện
tƣợng tiếng lóng là phổ biến đối với mọi ngôn ngữ. [3, 237]
Sách Ngôn ngữ học: Khuynh hướng - lĩnh vực - khái niệm của nhiều tác giả thì
cho rằng: "Khác biệt ngữ, tiếng lóng có nghĩa xấu" [40, 277]. Thực tế ở một số
trƣờng hợp khó phân biệt rạch ròi ranh giới giữa biệt ngữ và tiếng lóng với từ
nghề nghiệp. Mặt khác, tiếng lóng chƣa hẳn "chỉ thuộc bọn ngƣời xấu", lại càng
không phải là ngôn ngữ dƣới đáy xã hội. Chẳng hạn, Đỗ Hữu Châu từng nêu ví
dụ về tiếng lóng của sinh viên một thời: gậy - điểm 1, trứng - điểm 0, ngỗng -
điểm 2, nhuận sắc - đẹp một cách tƣơi mát,…
Vậy biệt ngữ và tiếng lóng giống nhau ở những điểm sau:
- Đƣợc dùng trong một nhóm ngƣời riêng biệt
- Khó hiểu đối với những ngƣời ngoài nhóm.
Tuy nhiên gần đây các nhà nghiên cứu đều cho rằng tiếng lóng là thuộc loại thứ
hai (chỉ là một tiểu loại của biệt ngữ). Bởi vì biệt ngữ có thể phân chia làm hai loại
bao gồm:
1. Những biệt ngữ là tên gọi chính thức của các sự vật, hiện tƣợng… thực có
trong tập thể xã hội đó, chẳng hạn nhƣ những từ biệt ngữ: ngai vàng, tàn, lọng,
cung… và những từ biệt ngữ này có tính toàn dân cao hơn, dễ dàng đƣợc toàn thể
xã hội sử dụng khi cần thiết, loại này bao gồm (thuật ngữ, từ nghề nghiệp,…);
2. Biệt ngữ là những tên gọi thêm, chồng lên tên gọi chính thức, các tập thể sản
sinh ra chúng với mục đích phân biệt mình với những tập thể xã hội khác nhƣ:
trẫm (tôi, ta), ngự thiện (ăn, nói về vua)…
So sánh biệt ngữ với tiếng lóng, chúng tôi nhận thấy:
- Tiếng lóng có nghĩa xấu. Nó chủ yếu đƣợc các nhóm xã hội "đen" tạo ra nhằm
- Đều đƣợc dùng trong một nhóm ngƣời riêng biệt;
- Đƣợc dùng hạn chế về mặt xã hội. Khó hiểu đối với những ngƣời không cùng
nhóm xã hội đó;
- Là tên gọi chính thức của các sự vật, hiện tƣợng trong xã hội.
Điểm khác nhau giữa từ nghề nghiệp và biệt ngữ:
Từ nghề nghiệp là tên gọi duy nhất của sự vật, hiện tƣợng, không có từ đồng
nghĩa trong từ vựng toàn dân. Nhƣ vậy, từ nghề nghiệp có ý nghĩa biểu vật trùng
với phạm vi sự vật, hiện tƣợng có trong thực tế ngành nghề. Ví dụ nghề dệt chiếu
có: đay, cói, go, văng,…
Từ nghề nghiệp là một tiểu loại thuộc loại thứ nhất của biệt ngữ. Biệt ngữ mang
sắc thái dí dỏm, hài hƣớc, giúp những ngƣời sử dụng có cảm giác họ thuộc một
nhóm ngƣời riêng. Nhiều ngƣời sử dụng biệt ngữ nhằm giữ bí hiểm và để thu hút
sự chú ý của ngƣời khác. Đây là đặc điểm mà từ nghề nghiệp không có.
Đặc điểm của biệt ngữ là mang tính lâm thời, xuất hiện và mất đi nhanh. Còn
từ nghề nghiệp là một bộ phận trong vốn từ dân tộc, nhƣng vì từ nghề nghiệp có
tính chuyên môn cao nên rất khó hiểu đối với ngƣời ngoài nghề.
Từ nghề nghiệp có quan hệ gần gũi với đời sống nhân dân, do đó nó dễ dàng trở
thành từ toàn dân khi những khái niệm riêng ấy trở nên phổ biến trong xã hội. Còn
những từ ngữ biệt ngữ ít gần gũi với đời sống nhân dân nên từ ngữ biệt ngữ rất
khó có thể trở nên phổ biến trong xã hội.
Từ nghề nghiệp là những từ ngữ đƣợc sử dụng trong phạm vi những ngƣời có
cùng ngành nghề để gọi tên công cụ, sản phẩm, thao tác của quá trình lao động.
Còn biệt ngữ là công cụ giao tiếp của các nhóm xã hội.
Nhƣ vậy, từ nghề nghiệp cũng là một tiểu loại thuộc loại thứ nhất của biệt ngữ.
1.5.3. Phân biệt "biệt ngữ" và "thuật ngữ"
Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp, thuật ngữ là một bộ phận những từ ngữ đặc
biệt của ngôn ngữ, bao gồm các những từ và cụm từ cố định mà tên gọi chính xác
của các khái niệm và các đối tƣợng thuộc các lĩnh vực khoa học / chuyên môn của