Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Cao thị kim anh
Tìm hiểu đặc điểm cấu tạo và chức năng của đoạn văn
trong truyện ngắn nguyễn khải
Luận văn thạc sỹ ngữ văn
Vinh 2004
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
--------o0o--------
Cao Thị Kim Anh
Tìm hiểu đặc điểm cấu tạo và chức năng
Của đoạn văn trong truyện ngắn nguyễn khải
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số
:
5. 04. 08
Luận văn thạc sỹ ngữ văn
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS-TS Phan Mậu Cảnh
Vinh 2004
3
Mục lục
Mở đầu
Trang
1. Lý do chọn đề tài
4
2. Lịch sử vấn đề
4
3. Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
6
4. Phơng pháp nghiên cứu
7
5. Cấu trúc luận văn
7
Chơng I: Những giới thuyết chung
Chơng III: Các kiểu đoạn văn xét về chức năng trong truyện ngắn Nguyễn Khải
64
1. Khảo sát các kiểu đoạn văn chức năng trong truyện ngắn Nguyễn Khải
64
2. Nhận xét các kiểu đoạn văn chức năng trong truyện ngắn Nguyễn Khải
88
3. Tiểu kết
93
Kết luận
94
Tài liệu tham khảo
98
4
Mở Đầu
1. Lý DO CHọN Đề TàI
5
Hớng nghiên cứu chung các sáng tác của Nguyễn Khải bao gồm: tiểu
thuyết, truyện vừa, kịch, tạp văn trong đó có cả truyện ngắn. ở hớng này có
những bài viết tiêu biểu sau:
Đặc điểm ngòi bút hiện thực của Nguyễn Khải của tác giả Chu Nga (Tạp
chí văn học số 2.1974); Vài đặc điểm phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải
trích chơng XV sách Văn học Việt Nam 1954 - 1975 tập II - Nhà xuất bản Giáo
dục, H, 1990; ở bài Cảm nhận về con ngời trong sáng tác của Nguyễn Khải
những năm gần đây của Nguyễn Thị Hụê (Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt
Nam, tháng 10 - 1999); Thế giới nhân vật của Nguyễn Khải trong cảm hứng
nghiên cứu phân tích của Đào Thủy Nguyên (Tạp chí Văn học, số 11, 2001) và
một số bài nghiên cứu của tác giả khác. Điểm chung của những bài viết này là thờng nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Khải dới góc độ lý luận văn học. Chúng tôi
trích dẫn một vài nhận xét sau: ở Nguyễn Khải nổi bật lên khuynh hớng văn
xuôi hiện thực tỉnh táo giàu yếu tố chính luận và tính thời sự. Cách viết của
Nguyễn Khải nói chung là linh hoạt, năng động không bị gò bó, phụ thuộc nhiều
vào khuôn mẫu sẵn có.[17]
Hớng nghiên cứu riêng về thể loại truyện ngắn của Nguyễn Khải:
Hớng này cũng có một số bài nghiên cứu và cũng chỉ dừng lại ở góc độ lý
luận văn học. Có thể kể tên những bài viết sau: Giọng điệu trần thuật trong
truyện ngắn Nguyễn Khải của Bích Thu(Tạp chí Văn học, số 10,1997); Hay ở
mục riêng dành cho truyện ngắn trong bài nghiên cứu Đọc truyện ngắn và tạp
văn của Nguyễn Khải của Nguyễn Hữu Sơn (Báo Nhân dân,1999). Và một số
bài nghiên cứu các truyện ngắn cụ thể nh: Mùa lạc của Hà Minh Đức (Bình
giảng và Phân tích, Nhà xuất bản Văn học Hà Nội,2001); Mùa lạc một thành
công mới của Nguyễn Khải của tác giả Nguyễn Thành Duy (Tạp chí nghiên cứu
Văn học, số6,1961); Phơng pháp tìm tòi của Nguyễn Khải qua tập Mùa lạc
của Nh Phong (Bình luận Văn học, Nhà xuất bản Hội Nhà văn Hà Nội,1977).
Chẳng hạn có tác giả nhận xét về truyện ngắn Nguyễn Khải nh sau: Văn
15. Nơi về
3. Hai ông già ở Đồng Tháp Mời
16. Những ngời già
4. Nắng chiều
17. Mẹ và bà ngoại
5. Một ngời Hà Nội
18. Thầy Minh
6. Đời khổ
19. Ông cháu
7. Ngời ngu
20.Lãng tử
8. Luật trời
21.Một bàn tay và chín bàn tay
9. Cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức
22.Đàn ông
10. Hậu duệ dòng họ Ngô Thì
23.Đàn bà
11. Chuyện tình của mỗi ngời
24. Chị Mai
12. Anh hùng bĩ vận
25. S già Chùa Thắm và ông đại tá về hu
13. Đổi đời
7
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Có nhiều vấn đề đặt ra cần tìm hiểu về đoạn văn, nhng trong khuôn khổ
luận văn này, chúng tôi xác định nhiệm vụ giới hạn khảo sát đoạn văn vào 2 nội
dung cơ bản:
+ Nhiều tập truyện ngắn giai đoạn 1990-1996: Một ngời Hà Nội; S già
chùa Thắm và ông đại tá về hu; Một thời gió bụi.
+ Đất mỏ: Truyện ngắn nhận giải thởng năm 1996 của báo Văn nghệ Quân đội.
+ Truyện ngắn và tạp văn - giải B, giải thởng Hội Nhà văn Việt Nam 1998.
+ Đàn bà: Truyện ngắn - giải nhất cuộc thi truyện ngắn và ký, giải cây bút
vàng do Bộ nội vụ và Hội Nhà văn Việt Nam đồng tổ chức.
+ Chùm tác phẩm : Gặp gỡ cuối năm, xung đột, cha và con và nhận giải
thởng Hồ Chí Minh năm 2000.
+Thợng Đế thì cời (2004): Tiểu thuyết đang đợc giới nghiên cứu và bạn
đọc quan tâm.
- Mảng văn nghị luận
ở mảng này cũng là một thế mạnh của Nguyễn Khải. Theo thống kê cha
thật đầy đủ thì ông có khoảng trên 100 bài báo, tham luận, báo cáo, các ý kiến,
th ngỏ, trả lời phỏng vấnđợc đăng trên các tờ báo thuộc chuyên ngành văn học
nghệ thuật.
Các ý kiến, các lời đề xuất, các nhận định của ông đợc nhiều ngời đánh giá
cao, đồng tình và ủng hộ. Có thể kể tên một số bài tiêu biểu trong mảng sáng tác này.
+ Nhìn lại những trang viết của mình: bài tham luận trong hội thảo Việt
Nam - nửa thế kỷ văn học (1995).
11
+ Hãy biết cống hiến bạn đọc cái phần mạnh nhất của mình (1998).
1.2.2. Về truyện ngắn Nguyễn Khải
Trong các sáng tác của mình, Nguyễn Khải đã dành công sức và tâm huyết
rất nhiều cho thể loại truyện ngắn. Khoảng 100 truyện ngắn ra đời trong quãng
thời gian hơn 50 năm cầm bút. Trong đó, có nhiều tác phẩm đạt giải cao trong các
cuộc thi viết truyện ngắn hay của Hội nhà văn, có nhiều tác phẩm khi ra đời đã
khơi gợi đợc hứng thú tranh luận, trở thành nơi nơi giao tiếp đối thoại của đông
những cảnh ngộ có thật trong cuộc sống. Vì thế các nhân vật, các sự kiệntrong
truyện đều dính líu ít nhiều đến tiểu sử của ông. Đó là những kỉ niệm, những
khao khát, mơ ớc thời trai trẻ, những băn khoăn day dứt vì cuộc sống hôm nay
Tôi chỉ mợn có cái vỏ, cái xác của ngời này ngời kia còn cái hồn phải là của
chính mình. ở cô Đào (Mùa Lạc), cái Tấm (Đứa con nuôi), Hòa (Bố con) đều
có một phần tôi trong đó. Trong truyện ngắn Hai ông già ở Đồng Tháp M ời
phần nào ao ớc của tôi là ông già trởng trạm máy kéo, phần đã có những năm
tháng trải qua là ông già th kí gặp nhiều bất hạnh. Trong Lãng tử, hình ảnh
một anh chàng lãng du, thích sống cuộc đời phiêu lu, tự do, nhàn tản cũng là tôi
nốt nhng là cái tôi của ao ớc, của mộng mơ bởi cuộc sống hàng ngày quá buồn
quá nhạt [1,7]
Truyện ngắn của Nguyễn Khải có một phong cách riêng, không phải bạn
đọc nào cũng thích, nói chung truyện của ông kén ngời đọc. Chỉ ở những ngời a
thích sự tìm tòi, khám phá những bí ẩn của lòng mình lòng ngời và cuộc sống
thì mới cảm thụ tốt tác phẩm của ông. Bởi văn ông thấm đợm chất triết lí, những
chiêm nghiệm về lẽ đời, về thời cuộc hôm nay và hôm qua.
1.3. Những đánh giá về tác phẩm của Nguyễn Khải
Năm 2000, Nguyễn Khải đợc vinh dự nhận giải thởng Hồ Chí Minh (đợt 2)
- giải thởng cao quí nhất đối với giới văn nghệ sĩ. Điều đó đã khẳng định, tôn
vinh vị trí và những kết quả sáng tạo nghệ thuật của ông trong nền văn học nớc
nhà. Các sáng tác của ông kể cả trớc và sau thời kì đất nớc hòa bình luôn nhận đợc sự quan tâm chú ý từ phía bạn đọc và giới nghiên cứu. Các ý kiến đánh giá có
cả khen lẫn chê, nhng dù khen hay chê thì tác phẩm của ông vẫn hấp dẫn ngời
đọc bởi văn của ông có một sự độc đáo không lẫn với ai đợc. Những ý kiến đánh
giá về tác phẩm của Nguyễn Khải xuất hiện ở các ấn phẩm khác nhau: tạp chí
Văn học, tạp chí Ngôn ngữ, báo Văn nghệ Đặc biệt trong cuốn Nguyễn Khải
về tác gia và tác phẩm đã tập hợp tơng đối đầy đủ các bài nghiên cứu, ý kiến phê
13
khi không tránh khỏi sự hụt hẫng cho ngời đọc. Ngôn ngữ Nguyễn Khải giàu chất
sống, chất văn xuôi là ngôn ngữ hiện thực. Đặc biệt là tính chất nhiều giọng. Chữ
14
nghĩa thờng chứa ngầm nhiều ngụ ý và sắc thái khá phong phú. (Văn học Việt
Nam 1945- 1975 tập II nhà xuất bản Giáo dục, H, 1990).
Các tác giả Lại Nguyên Ân, Trần Đình Sử (1983) nhận xét:
"Đề tài nhằm thẳng vào đời sống hiện tại - đó là điều kiện đầu tiên khiến
cho sáng tác của anh có độc giả. Tác phẩm của anh trở thành nơi giao tiếp đối
thoại với bạn đọc, những ngời đang sống cùng thời với tác giả. Cũng viết về đề
tài nh các nhà văn khác nhng sáng tác của Nguyễn Khải có đợc thành công hơn
có lẽ do 2 đặc điểm chính của anh với t cách một nghệ sĩ: cảm hứng nghiên cứu
và sự phân tích tâm lý. Tinh thần nghiên cứu khác hẳn với cảm hứng minh họa...
nó có nội dung nhận thức sắc sảo và đến nay vẫn còn ý nghĩa... Tôi thấy văn
xuôi ở nớc ta có nhiều nhà văn miêu tả tâm lí giỏi, nhng phân tích tâm lí thì ít ai
làm đợc nh anh Khải. Đi trớc anh, về mặt này, có thể chỉ là Nam Cao... Ngôn
ngữ của Nguyễn Khải rất đặc sắc, ngôn ngữ văn xuôi: nó không a nống lên thống
thiết mà thờng pha ngang sang giọng tng tửng, đùa đùa. Thêm nữa là tính chất
nhiều giọng. Cách viết của anh Khải thờng là nói các lí lẽ, ý kiến nhiều hơn là kể
việc và cũng thờng có nguy cơ đơn điệu... Tác phẩm của Nguyễn Khải thờng
không phức tạp về mặt h cấu...(Văn học và Phê bình, nhà xuất bản Tác phẩm
mới, Hà Nội,1994).
Tóm lại: Tác phẩm của Nguyễn Khải giàu chất trí tuệ. Văn phong của ông
tạo nên phong cách giàu tính triết lý. Vì thế có nhiều ngời đồng tình với nhận xét
Nguyễn Khải là một Chế Lan Viên trong văn xuôi.
2. đoạn văn và việc phân loại đoạn văn trong truyện ngắn
2.1 Đoạn văn
Trong văn bản nghệ thuật, đoạn văn có biểu hiện rất đa dạng và phức tạp đặc
biệt là về mặt kích thớc và cấu tạo. Việc chia tách đoạn văn ngắn dài khác nhau
nhằm tạo ý nghĩa sắc thái bổ sung có tính chất tu từ học, tức là thông qua việc chia
tách đoạn văn mà đa thêm vào văn bản những ý ngoài lời, những sắc thái ý nghĩa
tình cảm hoặc nhận thức không đợc diễn đạt bằng từ ngữ tờng minh.
16
Trong văn bản nghệ thuật còn có những phần thoại (là lời trao đáp của các
nhân vật và cả lời của tác giả). Trong phần thoại có nhiều đoạn, một lợt lời có dấu
hiệu hình thức nằm giữa hai chỗ ngắt dòng đợc tính là một đoạn. Do đặc thù của
thể loại truyện ngắn nên chúng tôi quan niệm một phần thoại đợc tính là một
đoạn văn dù trong đó có một hay nhiều lợt lời. Trong khuôn khổ luận văn này,
chúng tôi vẫn thống kê phần đoạn nh thế trong tổng số đoạn đợc tính đến ở
truyện ngắn Nguyễn Khải.
Nh vậy, là đơn vị có tính chất trung gian giữa câu và văn bản, đoạn văn có
hình thức xác định (lùi vào trong phần đầu của dòng chữ, ngắt dòng cuối đoạn;
một hoặc tổ hợp câu nằm giữa hai chỗ ngắt dòng), diễn đạt một nội dung nhất
định. Đoạn văn luôn định hớng về đích giao tiếp và quan hệ chặt chẽ với tổng thể
văn bản.
Tóm lại có thể hiểu cách chung nhất về đoạn văn nh sau:
Đoạn văn là một bộ phận của văn bản gồm một câu hoặc một chuỗi
câu đợc xây dựng theo một cấu trúc và mang nội dung nhất định (đầy đủ
hoặc không đầy đủ), đợc tách ra một cách rõ ràng về mặt hình thức.
2.2 Việc phân loại đoạn văn trong truyện ngắn
Truyện ngắn cũng là một loại văn bản - nhng là văn bản nghệ thuật. Vì thế
đoạn văn trong truyện ngắn vừa mang những đặc điểm của loại văn bản nói
chung vừa mang những đặc điểm riêng mà chỉ ở loại văn bản nghệ thuật mới có.
đến lúc gỡ đợc hết dây trói ở ngời A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào
đợc một tiếng Đi ngay rồi Mị nghẹn lại. A Phủ bỗng khụy xuống, không bớc
nổi. Nhng trớc cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy.
(Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)
Đây là đoạn văn mà các câu trong đó sắp xếp theo kiểu liệt kê diễn đạt
quan hệ thời gian trớc sau. Các câu trong đoạn văn có vai trò ngang nhau và đều
hớng tới bộc lộ tiểu chủ đề: bằng lòng thơng cảm và khát vọng sống mãnh liệt đã
thôi thúc Mị giải thoát cho A Phủ.
18
Ngoài kiểu liệt kê diễn đạt quan hệ thời gian còn có kiểu liệt kê diễn đạt
quan hệ đồng thời, liên tởng
- Đoạn văn móc xích
Là đoạn văn mà một hoặc một số bộ phận ở câu trớc sẽ đợc lặp lại ở câu
sau. Sự lặp lại đó đợc biểu hiện bằng phép lặp từ hoặc phép thế đại từ. Với kiểu
đoạn này các câu dờng nh móc nối vào nhau, câu sau làm nhiệm vụ phát triển t tởng cho những câu trớc.
Ví dụ:
Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc. Chúng nó bắn, đã thành lệ, mỗi
ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm hoặc xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối,
hoặc nửa đêm và trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu
cạnh con nớc lớn. Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thơng.
Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào nh một trận bão. ở chỗ
vết thơng, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi
dần dần bầm lại, đen và đặc quện lại thành từng cục máu lớn.
(Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành)
Cũng nh đoạn văn song hành, đoạn văn móc xích không có câu chủ đề.
Các câu ở đoạn văn trên móc nối với nhau bằng các phép thế, phép lặp. Câu sau
triển khai ý, bổ sung hoặc giải thích ý cho câu trớc và đều hớng tới bộc lộ tiểu
Ví dụ:
Tràng cầm đôi đũa, gợt một miếng bỏ vội vào miệng.(1) Mặt hắn chun
ngay lại, miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ.(2) Bữa cơm từ đấy không ai
nói câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt nhau.(3) Một nỗi tủi
hờn len vào tâm trí mọi ngời.(4)
(Vợ nhặt - Kim Lân)
20
Câu cuối của đoạn văn trên mang ý nghĩa khái quát nội dung toàn đoạn.
Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi ngời. Ba câu trớc là những biểu hiện cụ thể
nỗi tủi hờn của các thành viên trong gia đình ấy: câu (1),(2) là của Tràng; câu
(3) là của cả 3 ngời. Những từ ngữ ở 3 câu trên biểu hiện rõ nhất cho nội dung ở
câu chủ đề là: gợt một miếng bỏ vội vào miệng (1); mặt hắn chun ngay lại, miếng
cám đắng chát, nghẹn bứ trong cổ (2); không ai nói câu gì, cắm đầu ăn cho xong
lần, tránh nhìn mặt nhau(3).
- Đoạn văn tổng - phân - hợp
Kiểu trình bày của đoạn văn này bắt đầu bằng việc nêu vấn đề có tính chất
tổng hợp, khái quát (tổng), tiếp theo là lời phân tích hoặc giải thích hoặc nêu ra các
dẫn chứng minh họa cụ thể (phân), cuối cùng lại tổng hợp khái quát nâng cao hoặc
mở rộng thêm vấn đề đợc nêu ra ban đầu (hợp). Nh thế ở đoạn văn tổng -phân hợp sẽ có trên 2 câu chủ đề. Các câu chủ đề đợc sắp xếp liên tiếp hoặc gián cách.
Tuy nhiên các câu chủ đề này không hoàn toàn giống nhau về ý mà câu chủ đề sau
thờng đợc mở rộng và khái quát hơn về ý so với câu nêu chủ đề trớc.
Ví dụ:
Tỉnh dậy hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc.(1) Buồn thay cho đời!(2)
Có lí do nào nh thế đợc?(3) Hắn đã già rồi hay sao?(4) Ngoài bốn mơi tuổi
đầu(5) Dẫu sao, đó không phải tuổi mà ngời ta mới bắt đầu sửa soạn.(6) Hắn
đã tới cái dốc bên kia cuộc đời.(7) ở những ngời nh hắn, chịu đựng biết bao
nhiêu là chất độc, đày đọa cực nhọc, mà cha bao giờ ốm, một trận ốm có thể gọi
này xuất hiện nhiều nhất trong văn bản nghệ thuật và thờng mang đậm màu sắc
phong cách của tác giả.
- Đoạn văn đặc biệt một câu
Ví dụ:
Cánh cửa đề lao mở rộng.
Sáu ngời né mình tiến vào nh một bọn thợ nề, thận trọng khiêng cái thang
gỗ đặt ngang trên vai.
22
Trái với phong tục nhận tù mỗi ngày, hôm nay viên quan coi ngục nhìn sáu tên tù
mới vào với cặp mắt hiền lành. Lòng kiêng nể tuy cố giữ kín đáo mà cũng đã rõ quá rồi.
Khi kiểm điểm phạm nhân, ngục quan lại còn có biệt nhỡn đối riêng với Huấn Cao...
(Chữ ngời tử tù - Nguyễn Tuân)
Ví dụ trên có 3 đoạn văn. Hai đoạn văn đầu là hai đoạn văn đặc biệt - cấu
tạo từ một câu bình thờng (đoạn văn thứ nhất cấu tạo từ 1 câu đơn 2 thành phần,
đoạn văn thứ 2 đợc cấu tạo từ 1 câu ghép). Dụng ý nghệ thuật đằng sau việc tách
thành hai đoạn văn là để nhấn mạnh sự đối lập giữa hoàn cảnh tù đày cánh cửa
đề lao mở rộng với t thế đàng hoàng bình thản của sáu ngời tù sáu ngời tù né
mình tiến vào nh một bọn thợ nề, thận trọng khiêng cái thang gỗ đặt ngang vai.
Nghệ thuật tơng phản, đối lập đợc Nguyễn Tuân sử dụng triệt để ngay cả ở cách
dùng đoạn văn đặc biệt nhằm mục đích đề cao khí phách của Huấn Cao.
Nh vậy trong văn bản có sự đan xen giữa đoạn văn bình thờng và đoạn văn
đặc biệt (nh ví dụ trên). Sự xuất hiện ít hoặc nhiều một kiểu loại đoạn văn xét về
mặt cấu tạo là do sự chi phối của đặc trng thể loại và phong cách tác giả.
- Đoạn văn đặc biệt là một câu đơn đặc biệt
Chẳng hạn, có những đoạn văn đợc cấu tạo là một câu đặc biệt có dạng là
một cụm từ (cụm danh từ, cụm tính từ, cụm động từ).
Ví dụ:
ý của tác giả là muốn tập trung khắc họa về sự khắc nghiệt, lạnh giá, não nùng
của ma của gió của thiên nhiên nhằm gây ấn tợng cho ngời đọc ngay từ đầu tác
phẩm về một điều gì đó không bình thờng sẽ xảy ra. Đó là dự cảm về cuộc mu
sinh khốn khổ bi đát của anh Sẩm mù trong một xã hội thiếu tình ngời.
24
2.2.2 Dựa vào chức năng đoạn văn
Mỗi văn bản thờng chứa nhiều đoạn văn. Trong đó có những đoạn văn chỉ
giữ một chức năng riêng, nhng cũng có nhiều đoạn văn cùng thực hiện một chức
năng nhất định. Chức năng của đoạn văn phụ thuộc vào vị trí, vào dụng ý nghệ
thuật của tác giả. Nhìn chung, nhiều nhà ngôn ngữ học đồng ý với cách phân loại
đoạn văn trong văn bản nói chung và trong văn bản nghệ thuật nói riêng (trong
đó có truyện ngắn) là: đoạn văn mở đầu, đoạn văn triển khai, đoạn văn chuyển
tiếp và đoạn văn kết thúc.
2.2.2.1 Đoạn văn mở đầu
Đoạn văn mở đầu là nơi mở ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm. ấn tợng
ban đầu của ngời đọc đối với tác phẩm chính là đoạn mở đầu. Không chỉ có chức
năng tạo ấn tợng nh tạo tình huống đặc biệt, dẫn dắt câu chuyện có duyên gợi
sự hứng thú khám phá cho ngời đọc mà câu đoạn mở đầu còn có chức năng tạo
khung - nền chung cho truyện (giới thiệu hoàn cảnh, khung cảnh, sự kiện, nhân
vật).
- Các kiểu mở trong đoạn văn mở đầu
Thông thờng ở thể loại truyện ngắn, đoạn văn mở đầu có hai kiểu: kiểu mở
đầu trực tiếp và kiểu mở đầu gián tiếp.
+ Kiểu mở trực tiếp
Là kiểu mở truyện đi thẳng vào vấn đề của cốt truyện. ở kiểu này đoạn mở
đầu có thể trùng với phần trình bày của cốt truyện nh phần cao trào của truyện,
điểm mở nút của truyện, hay một thời điểm đặc biệt nào đó của nhân vật