1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DOÃN THỊ PHƢƠNG KHẢO SÁT CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN
Ý NGHĨA SỞ HỮU TRONG DANH NGỮ
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 602201
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN HỒNG CỔN HÀ NỘI - 2007 3
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………… …6
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………… … 9
3. Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu……………………………… …….9
2.3.1. Các kết cấu có sở hữu cách………………………………….… 55
2.3.2. Ý nghĩa của các kết cấu có sở hữu cách…………………….… 59
2.4. Sở hữu giới từ “of"………………………………………………59
2.4.1. Các kết cấu có giới từ “of”………………………………………60
2.4.2. Ý nghĩa của các kết cấu có giới từ “of”……………………….…60
Chƣơng III: CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN Ý NGHĨA SỞ HỮU
TRONG DANH NGỮ TIẾNG VIỆT (ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH)
1. Danh ngữ và thành tố phụ biểu thị ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ
tiếng
Việt………………………………………………………………….… 67
1.1. Danh ngữ tiếng Việt………………………………………………67
1.2. Đặc điểm cấu tạo………………………………………….…… 68
1.2.1. Thành tố chính của danh ngữ………………………………… 69
1.2.2. Thành tố phụ trước của danh ngữ………………………… … 70
1.2.3. Thành tố phụ sau của danh ngữ………………………………….71
1.3. Thành tố phụ biểu thị ý nghĩa sở hữu của danh ngữ …………… 72
1.3.1. Thành tố phụ biểu thị ý nghĩa sở hữu của danh ngữ tiếng Việt… 72
1.3.2. Vị trí của các thành tố phụ biểu thị ý nghĩa sở hữu trong danh
ngữ…………………………………………………………………… 74
2. Các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ tiếng
Việt………………………………………………………………………75
2.1. Kết cấu sở hữu có giới từ "của"…………………………….…… 75
2.1.1. Đặc điểm cấu trúc…………………………………………….……75
2.1.2. Đặc điểm ý nghĩa ……………………………………………… 80
5
2.2. Kết cấu sở hữu không có giới từ "của"……………….……… …81
2.2.1. Đặc điểm cấu trúc……………………………………… …… …81
2.2.2. Đặc điểm ý nghĩa……………………………………… … ….… 85
Ngày nay, ngoại ngữ không chỉ là một môn học bắt buộc ở các cấp học
mà với một số người, nó là một sự lựa chọn có chủ đích. Việc nắm bắt thông
thạo một ngoại ngữ là một yêu cầu tất yếu trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Theo thống kê, tiếng Anh là một ngôn ngữ có số lượng người sử dụng nhiều
thư hai trên thế giới sau tiếng Trung quốc. Tiếng Anh không những được sử
dụng như là một ngôn ngữ giao dịch chính thức trong nhiều lĩnh vực trên thế
giới mà nó còn được coi là ngôn ngữ thứ hai sau tiếng mẹ để ở nhiều quốc
gia. Vì vậy nhu cầu học tiếng Anh là khá cấp thiết đối với nhiều người Việt
đặc biệt là sau sự kiện Việt nam chính thức là thành viên của WTO tháng
11/2006. Tuy nhiên trong quá trình học tiếng Anh, một số người gặp không ít
khó khăn. Một trong những khó khăn đó là cách chuyển dịch các hình thức
biểu hiện ý nghĩa sở hữu ở danh ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược
lại.
Có thể dễ dàng nhận thấy những câu kiểu như: "Mary's mother gave
her a pair of shoes on her 17
th
birthday" (1) không phải ít gặp trong ngôn ngữ
hằng ngày của người Anh. Đối với người Việt, sự xuất hiện của ba hình thức
biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong cùng một phát ngôn như vậy là điều không
bình thường. Cùng một ý nghĩa như trên nhưng cách diễn đạt của người Việt
đơn giản hơn rất nhiều. Theo đó (1) có thể được hiểu một cách đơn giản là:
"Mẹ của Mary tặng cô ấy một đôi giày nhân dịp sinh nhật lần thứ 17". Qua ví
dụ nhỏ này có thể thấy, tần số xuất hiện của các hình thức biểu hiện ý nghĩa
sở hữu trong tiếng Anh lớn hơn tiếng Việt và ý nghĩa sở hữu cũng được biểu
hiện dưới nhiều hình thức. Đối với những người mới làm quen với tiếng Anh
thì việc phân biệt và sử dụng đúng các cách biểu đạt quan hệ sở hữu là không
hề đơn giản. Một số người khác lại thấy rằng, việc phân biệt và sử dụng đúng
các kiểu cấu trúc sở hữu cũng mất không ít thời gian. Có thể khẳng định chắc
7
8
thức lẫn ý nghĩa giữa hai ngôn ngữ như: her daughter - con gái cô ấy; a leg of
an old table - một cái chân bàn cũ còn có những trường hợp “hơi khó hiểu”
với người Việt. Ví dụ, khi người Anh nói “a pair of shoes”, người Việt còn có
thể hiểu được đó là ám chỉ một đôi giày. Bởi từ “a pair” được sử dụng để chỉ
một đôi, một cặp sự vật, đồ vật gồm hai chiếc. Nhưng khi người Anh nói
“Give me a pair of jeans, please!”, thì người tham gia giao tiếp nếu không
nắm vững tiếng Anh sẽ có thể đưa ra hai chiếc quần jeans. Trong khi đó với
người Anh thì “a pair of jeans” được dùng để chỉ một chiếc quần jeans.
Một điều nữa khiến cho người học tiếng Anh cảm thấy lúng túng đó là
trong một số trường hợp, các hình thức sở hữu trong danh ngữ được sử dụng
không nhằm để chỉ mối quan hệ sở hữu mà đơn giản chỉ mang tính xác định
thuần tuý.
Hoàn toàn có thể chấp nhận được khi người Việt nói :
- Tôi cắt tóc hôm qua.
Nhưng theo tác giả Nguyễn Quang (2002: 64) “cách nói như vậy bị coi
là không chính xác và mơ hồ”. Để diễn đạt ý của câu này người Anh (Mỹ
hoặc Úc) sẽ nói:
- I had my hair cut yesterday.
Trong khi tiếng Anh sử dụng tính từ sở hữu “my" như một hình thức để
đánh dấu tính xác định của sự vật được nêu trong phát ngôn trên thì người
Việt lại sử dụng các yếu tố khác để đánh dấu tính xác định. Các yếu tố đó là
các yếu tố nào? Chúng bị ràng buộc bởi những yêu cầu gì? Sẽ được phân tích
cụ thể trong luận văn.
Những luận điểm sơ bộ trên đây cho thấy xung quanh vấn đề các hình
thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ ở tiếng Anh và tiếng Việt vẫn
còn nhiều điều cần phải làm sáng tỏ. Và việc giúp người học định hướng
chính xác và sử dụng có hiệu quả các hình thức sở hữu ở cả hai ngôn ngữ là
một việc làm cần thiết.
thức sở hữu trong danh ngữ ở tiếng Anh và tiếng Việt. Từ đó rút ra những
điểm tương đồng và dị biệt của hai ngôn ngữ này về mặt loại hình ngữ pháp.
10
Thứ tư, khảo sát những lỗi người học thường mắc phải trong quá trình
chuyển dịch các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ ở tiếng
Anh sang tiếng Việt và ngược lại.
Nếu thực hiện được những mục tiêu trên đây luận văn có những đóng
góp về lý luận và thực tiễn như sau:
- Về mặt lý luận:
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ làm sáng tỏ các đặc điểm tương
ứng hoặc khác biệt giữa các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh
ngữ tiếng Anh và tiếng Việt.
- Về mặt thực tiễn:
+ Dựa trên những kết quả thu được, luận văn có thể giúp người dạy tìm
được các cách truyền đạt thích hợp sao cho người học cảm thấy dễ hiểu nhất.
Đồng thời cũng giúp người học có được những kiến thức nền khi sử dụng
những hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu.
+ Chỉ ra các lỗi thường mắc phải đối với việc sử dụng các phương thức
sở hữu ở danh ngữ tiếng Anh và tiếng Việt để từ đó tránh được những lỗi sai
không đáng có.
4. Phƣơng pháp và tƣ liệu nghiên cứu
Bên cạnh hai phương pháp nghiên cứu chung là phương pháp qui nạp
và diễn dịch, trong luận văn này chúng tôi còn sử dụng nhiều phương pháp
nghiên cứu khác như: phân tích miêu tả, phân tích cấu trúc, phân tích chức
năng, so sánh đối chiếu…
Tư liệu của luận văn bao gồm 360 câu trích dẫn tiếng Anh và tiếng Việt
có sử dụng các hình thức biểu thị ý nghĩa sở hữu; 293 câu tư liệu có danh ngữ
xác định được sử dụng các hình thức biểu thị ý nghĩa sở hữu đã được phân
loại theo các tiểu loại cụ thể. Trong đó có 113 câu trích dẫn tiếng Anh, 180
12
CHƢƠNG I
MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. Phạm trù sở hữu và kết cấu sở hữu
1.1. Phạm trù sở hữu
1.1.1. Phạm trù sở hữu nói chung
Từ điển Bách khoa Việt Nam do Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn
Từ điển Bách khoa Việt Nam phát hành năm 2003 có nêu rõ: “Sở hữu: quan
hệ xã hội phát triển trong lịch sử, biểu hiện đặc tính chiếm hữu của cải vật
chất xã hội bởi những thể nhân khác nhau (cá nhân riêng biệt, nhóm xã hội,
nhà nước), đối tượng sở hữu: là tất cả những đồ vật lệ thuộc vào chủ thể nhất
định (người sở hữu), quan hệ sở hữu là những chế định pháp lý quan trọng, là
tổng hợp các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ sở hữu (quan hệ giữa
người với người về vật)” (Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách
Khoa Việt Nam 2003:803).
Các nhà làm luật thì lại có một cách định nghĩa thiên về mặt kinh tế
như sau: “Sở hữu được hiểu chính là việc chiếm giữ những sản vật tự nhiên,
những thành quả lao động (ngày nay còn gồm cả những tư liệu sản xuất) của
xã hội loài người". Theo một nghĩa hẹp, quyền sở hữu được hiểu là mức độ
xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện các quyền năng
chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong những điều kiện nhất định.” (Trường
Đại học Luật Hà Nội 2003:147).
Như vậy, có thể thấy, các nhà xã hội học và kinh tế học đều thống nhất
với nhau ở một điểm: Sở hữu nghĩa là chiếm hữu. Quan hệ sở hữu phản ánh
cách khác, trong các ngôn ngữ ý nghĩa sở hữu có thể được biểu hiện ở hai cấp
độ: cú pháp và hình thái học.
Ở cấp độ cú pháp (syntax), đa số các ngôn ngữ đều có các động từ có
nghĩa sở hữu như "có, sở hữu, thuộc về " (tiếng Việt), “have, belong to,
own” (tiếng Anh), “ồủũỹ” (tiếng Nga) Từ các động từ này chúng ta có các
kết cấu biểu thị quan hệ sở hữu với đầy đủ chủ thể sở hữu, động từ sở hữu và
đối tượng sở hữu. Ví dụ:
14
Ngôn ngữ
Cấu trúc
Ví dụ minh hoạ
Tƣơng đƣơng
tiếng Việt
Tiếng Việt
- (CTSH) Có/thuộc về (ĐTSH)
- (ĐTSH) + thuộc về + (CTSH)
- Tôi có/ sở hữu cây bút
chì.
- Cây bút chì thuộc về
tôi.
Tiếng Anh
- (CTSH) have/has (ĐTSH)
- (CTSH) own (ĐTSH)
diễn tả ý sở hữu "đây là bút chì của Anton" như ở ví dụ (b) thì ta thấy đuôi
của danh từ chỉ người đã được biến đổi so với ví dụ (a) chỉ diễn đạt ý "Đây là
Anton".
Ở các ngôn ngữ không biến hình (như tiếng Hán, tiếng Việt) thay vì sử
dụng hình thái từ, các ngôn ngữ này lại chủ yếu sử dụng hư từ hoặc trật tự từ
để biểu thị ý nghĩa sở hữu như “áo của tôi”, hoặc “áo tôi” (tiếng Việt).
15
Nhưng cũng có những ngôn ngữ sử dụng cả sự biến đổi hình thái cũng
như hư từ hoặc trật tự từ như những phương tiện để biểu thị ý nghĩa sở hữu.
Tiếng Anh là một ví dụ. Để biểu thị ý sở hữu, người Anh sử dụng “'s” (như
"Beethoven's music" - nhạc của Bethoven) hoặc “of” (như "the music of
Beethoven").
Như vậy, có thể thấy ý nghĩa sở hữu trong ngôn ngữ được biểu thị dưới
nhiều hình thức khác nhau. Mỗi ngôn ngữ có các cách thức không giống nhau
tuỳ thuộc vào đặc trưng của từng ngôn ngữ.
1.1.3. Phân loại các phạm trù nghĩa sở hữu trong ngôn ngữ
Như đã nói ở trên, có nhiều cách khác nhau để đánh dấu nghĩa sở hữu
trong ngôn ngữ. Tuy nhiên, xét về mặt ngữ nghĩa, phạm trù sở hữu ở các ngôn
ngữ lại tương đối thống nhất và có thể qui về bốn cặp phạm trù sở hữu sau:
- Sở hữu khả li và sở hữu bất khả li.
- Sở hữu cố hữu và sở hữu phi cố hữu.
- Tính có thể sở hữu và không thể sở hữu.
- Sở hữu động vật và sở hữu bất động vật.
a. Sở hữu khả li và sở hữu bất khả li
Tính khả li (alienable) chỉ ra khả năng có thể phân tách của một sự vật,
hiện tượng khỏi vật chủ. Ngược lại, bất khả li (inalienable) giống như một
thuộc tính, một bộ phận không thể tách rời khỏi vật chủ. Ví dụ ”Tom's big
nose” (Cái mũi to của Tom) thuộc phạm trù sở hữu bất khả li, bởi cái mũi của
Tom là một đặc điểm, một thuộc tính của Tom, nó không thể tách rời khỏi
dụng cách nói vòng vèo kiểu như: ”mảnh đất mà tôi sở hữu (là chủ)”.
d. Sở hữu động vật và sở hữu bất động vật
Ở một vài ngôn ngữ, đối tượng sở hữu cũng là một yếu tố quan trọng
quyết định tới việc hình thành dạng của động từ sở hữu. Trong tiếng Georgian
cổ khi đối tượng sở hữu là động vật ta có câu: "Dzaghli mqavs" (Tôi có một
con chó), nhưng khi đối tượng sở hữu không phải là động vật thì động từ sở
hữu lại có dạng hoàn toàn khác như ở ví dụ dưới đây: "Kompiuteri makvs"
(Tôi có một chiếc máy tính). Như vậy có thể thấy yếu tố động vật và bất động
vật (animate and inanimate) của đối tượng sở hữu luôn chi phối hình thức sở
hữu. Tuy nhiên cũng theo tiếng Georgian cổ thì khái niệm động vật và bất
17
động vật có một gianh giới khá mơ hồ, bởi theo ngôn ngữ này thì từ "cái ô
tô" lại được xếp vào nhóm sở hữu động vật và vì vậy động từ sở hữu đi kèm
với nó sẽ là "mqavs" chứ không phải "makvs". (Dẫn theo
http://en.wikipedia.org/wiki/Possession_linguistics)
1.2. Kết cấu sở hữu
1.2.1. Khái niệm kết cấu sở hữu
Xét về mặt ngữ pháp, hình thức sở hữu chính là cách thức mà chúng ta
"đánh dấu" xác nhận quyền sở hữu của một danh từ này đối với một danh từ
khác. Kết cấu sở hữu chính là cách thức mà các từ, nhóm từ trong một ngôn
ngữ kết hợp với nhau theo những qui tắc nhất định để tạo ra mối quan hệ sở
hữu giữa hai đối tượng hoặc hai nhóm đối tượng.
1.2.2. Đặc điểm của kết cấu sở hữu
a. Về mặt ngữ pháp
Kết cấu sở hữu tồn tại ở hai dạng chính, đó là kết cấu sở hữu là câuvà
kết cấu sở hữu là ngữ.
Kết cấu sở hữu là câu là dạng kết cấu đầy đủ với sự có mặt của chủ thể
sở hữu, động từ sở hữu và đối tượng sở hữu. Dạng kết cấu này có cấu trúc khá
ổn định và số lượng hạn chế do phụ thuộc vào số ít các động từ sở hữu. Chẳng
b. Về mặt ngữ nghĩa
Kết cấu sở hữu ngoài chức năng chính là biểu thị ý nghĩa sở hữu còn
có thể biểu đạt nhiều ý nghĩa khác tuỳ thuộc vào từng ngôn ngữ . Tuy nhiên
các kết cấu sở hữu nhìn chung có thể nhóm lại theo các nhóm sau;
Kết cấu sở hữu biểu thị mối quan hệ sở hữu:
+ Quan hệ sở hữu bất khả li: "John's height": chiều cao của John (như
trong tiếng Anh), "sự tồn tại của tôi" (như trong tiếng Việt)
+ Quan hệ sở hữu khả li: "Janet's house": ngôi nhà của Janet, "mein
mann": chồng tôi (tiếng Đức); "Dzaghli mqavs": Tôi có một con chó (tiếng
Georgian)
Kết cấu sở hữu biểu thị mối quan hệ chỉnh thể, bộ phận.
+ Chỉ chất liệu: "a house of stone": một ngôi nhà bằng đá
+ Chỉ bộ phận, yếu tố: "a group of children": một nhóm trẻ con
Kết cấu sở hữu chỉ các tác nhân tham gia vào một hành động:
19
+ Với vai trò chủ thể của hành động: "her leaving": việc dời đi của cô
ấy
+ Với vai trò là tác thể của hành động: "the president's murder": kẻ ám
sát tổng thống
Kết cấu sở hữu chỉ nguồn gốc: "men of France": những người
đàn ông tới từ nước Pháp/ những người đàn ông Pháp (tiếng Anh); "cuốn
tiểu thuyết của Chu Lai" (tiếng Việt)
Kết cấu sở hữu dùng để miêu tả: "day of reckoning": ngày đền
tội/ tính sổ (tiếng Anh); "lương tháng" (tiếng Việt); "der Keller des hauses":
hầm chứa của ngôi nhà (tiếng Đức)
Kết cấu sở hữu chỉ mục đích: "women's shoes": giày của phụ nữ
(tiếng Anh); "truyện tranh của trẻ em" (tiếng Việt); "la chambre des filles":
phòng của con gái (tiếng Pháp)
Như vậy, có thể nói rằng các kết cấu sở hữu không chỉ đơn thuần biểu
Việt cũng có những yêu cầu chặt chẽ về các thành tố đi kèm. Chỉ khác một
điều là trong tiếng Anh các thành tố đó chi phối động từ sở hữu. theo nguyên
tắc về giống và số. Còn trong tiếng Việt sự ràng buộc đó không rõ nét.
Tuy nhiên trong tiếng Việt ta cũng có thể bắt gặp một số trường hợp
ngoại lệ như các ví dụ dưới đây:
(8) Hỡi cô thắt dải lưng xanh
Có về đất Bưởi với anh thì về
Đất Bưới có cây Bồ đề
Có giếng tắm mát có nghề seo, can. HG
(9) Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước
PTD
Nhưng những trường hợp trên chỉ là những trường hợp đặc biệt, ít gặp
hoặc thường thấy trong thơ ca, hò, vè Chủ sở hữu không trực tiếp xuất hiện
liền trước động từ sở hữu nhưng nghĩa sở hữu vẫn tồn tại do ngầm hiểu hoặc
do chủ sở hữu đã có mặt trước hoặc sau đó (tác giả sử dụng thủ thuật đảo).
Như vậy có thể khẳng định chắc chắn một điều rằng xét về mặt cấu
trúc, kết cấu sở hữu là câu có cấu tạo cố định và ổn định. Các yếu tố trong cấu
21
trúc phụ thuộc lẫn nhau theo những qui tắc nhất định không dễ thay thế. Xét
về mặt nghĩa, thì mỗi kết cấu là câu đã là một phát ngôn hoàn chỉnh. Chúng
đem tới cho người đọc, người nghe một thông tin đầy đủ, cụ thể giúp trả lời
các câu hỏi; Ai? Cái gì? Như thế nào?.
1.2.3.2. Kết cấu sở hữu là ngữ
Khác với kết cấu sở hữu là câu, kết cấu sở hữu là ngữ lại khá gọn nhẹ.
Xét về mặt cấu trúc, ngoại trừ trường hợp sở hữu đại từ tồn tại độc lập, các
kết cấu biểu hiện ý nghĩa sở hữu là ngữ chỉ bao gồm hai thành tố chính là chủ
thể sở hữu và đối tượng sở hữu được kết hợp với nhau theo các phương thức
nhất định. Ví dụ như trong tiếng Anh chúng ta có:
2. Các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ
2.1. Các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong các ngôn ngữ nói
chung
Hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu chính là cách thức để đánh dấu một
danh từ thuộc quyền sở hữu của một danh từ khác. Các hình thức biểu hiện ý
nghĩa sở hữu ở các ngôn ngữ khác nhau thì không giống nhau. Mỗi ngôn ngữ
có những cách riêng để biểu thị ý nghĩa sở hữu. Có những ngôn ngữ thiên về
phương thức hình thái học, có những ngôn ngữ thiên về sử dụng từ vựng
Nhưng nhìn chung đa số các ngôn ngữ đều sử dụng một trong bốn phương
thức biểu thị ý nghĩa sở hữu phổ biến. Đó là:
+ Phương thức hình thái học (biến đổi hình thái của từ).
+ Phương thức từ vựng (sử dụng các đại từ sở hữu, tính từ sở hữu ).
+ Phương thức cú pháp (sử dụng hư tư, trật tự từ).
Để biểu thị ý nghĩa sở hữu người Tây Ban Nha sử dụng phương thức
ngữ pháp với giới từ "de"như trong ví dụ sau:
(18) El pdre de Maria vive en Espana.
Bố của Maria sống ở Spain.
(19) La casa es de Juan.
Ngôi nhà đó là của John.
Hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu thông qua từ vựng cũng là một
phương thức biểu thị ý nghĩa sở hữu phổ biến trong tiếng Tây Ban Nha Đó
chính là việc áp dụng hệ thống tính từ sở hữu. Nhưng việc sử dụng tính từ sở
23
hữu ở ngôn ngữ này khá phức tạp. Riêng tính từ sở hữu của ngôi thứ nhất số ít
"của tôi" được thể hiện ở sáu dạng thức khác nhau: mi; mis; mío, míos; mía,
mías. Các tính từ sở hữu phải phù hợp với danh từ mà nó bổ trợ về giống và
số như trong các ví dụ sau:
(20) mi libro: sách của tôi.
(21) mis libro: Những quyển sách của tôi.
2.2. Các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ tiếng Anh và
tiếng Việt
Hãy cùng xem xét các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong tiếng
Anh. Tiếng Anh là một ngôn ngữ biến hình, nó có một lịch sử phát triển lâu
dài cộng với sự vay mượn, pha trộn của nhiều ngôn ngữ như tiếng Pháp, tiếng
Đức Chính vì thế mà có thể dễ dàng nhận ra tiếng Anh có rất nhiều điểm
tương đồng với một số ngôn ngữ trên thế giới. Để biểu thị ý sở hữu ngôn ngữ
này đã sử dụng ba phương thức: hình thái học, từ vựng, và ngữ pháp. Điều
này sẽ được làm rõ qua các ví dụ sau:
Phƣơng
thức
Hình thái
học
Từ vựng
Cú pháp
Tính từ sở
hữu
Đại từ sở hữu
Ví dụ
minh họa
- Jannet's car
- Teachers'
car
- my car
- his / her car
- their car
- mine
- his/ hers
- theirs
2.3. Chức năng ngữ nghĩa - ngữ dụng của các hình thức sở hữu trong
danh ngữ
Như đã nói ở trên (mục 1), chức năng cơ bản của các hình thức sở hữu
là biểu thị ý nghĩa sở hữu, hiểu theo nghĩa là “quyền sở hữu” hay “quyền
chiếm hữu, sử dụng và định đoạt”. Ví dụ:
(34) The blue car is mine (Chiếc ô tô màu xanh là của tôi).
Rõ ràng ở ví dụ này, quan hệ sở hữu được xác lập giữa chủ thể sở hữu
là “tôi” với đối tượng sở hữu là chiếc xe ô tô màu xanh thông qua đại từ sở
hữu “mine”. Đại từ sở hữu “mine” được sử dụng trong ví dụ không phải ngẫu
nhiên mà nó thể hiện rất rõ dụng ý của người nói muốn nhấn mạnh đến quyền
làm chủ, quyền chi phối vật của mình đối với chiếc ô tô màu xanh vừa được
chỉ ra kia. Tương tự như vậy, chúng ta cũng có thể thấy rất rõ nghĩa sở hữu
trong các ví dụ sau:
(35) The owner of this old house is a widow.
Chủ nhân của ngôi nhà cổ kia là một bà goá.
(36) Sorry. It isn't my umbrella. It's Lan's.