ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
oOo LƯU QUÝ KHƯƠNG
CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN Ý NGHĨA
SO SÁNH TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
(So sánh thang độ)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Hà Nội, 2003
Người hướng dẫn khoa học:
GS. TS. HOÀNG TRỌNG PHIẾN
Hà Nội, 2003
i BẢNG VIẾT TẮT, KÝ HIỆU VÀ QUI ƢỚC TRÍCH DẪN A. Viết tắt và ký hiệu
CTSSNB : Cấu trúc so sánh ngang bằng
SSNB : So sánh ngang bằng
CTTN : Cặp từ trái nghĩa
CTSSN : Cấu trúc so sánh nhất
CTSSKB : Cấu trúc so sánh khác biệt
Trang
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Hệ thống hai bậc lưỡng phân các quan hệ so sánh
18
Sơ đồ 1.2 Các mối quan hệ so sánh giữa hai thực thể X và Y
20
Sơ đồ 1.3 Cách dùng từ "perfect"
27
Sơ đồ 1.4 Sự phân chia các tiểu loại cấu trúc so sánh
34
Sơ đồ 1.5 Quá trình xảy ra so sánh bậc ngang bằng và hơn / kém
36
Sơ đồ 1.6 Quá trình xảy ra so sánh bậc nhất
37
Sơ đồ 1.7 Phân loại cấu trúc so sánh trong tiếng Anh và tiếng
Việt
37
Sơ đồ về đặc điểm cú pháp của "At least" và tương đương trong
tiếng Việt
171
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tần số sử dụng câu so sánh tu từ học và so sánh logích
trong tiếng Anh
48
Bảng 2.2 Tần số sử dụng câu so sánh tu từ học và so sánh logích
trong tiếng Việt
48
Bảng 2.10 Mô hình cấu trúc so sánh với "the same as" và tương
đương trong tiếng Việt
89
Bảng 3.1 Mô hình cấu trúc so sánh hơn với "more than" và
tương đương trong tiếng Việt
107
Bảng 3.2 Mô hình cấu trúc so sánh với "more than" và tương
đương trong tiếng Việt
111
Bảng 3.3 Cấu trúc so sánh đối lập trong tiếng Anh và tương đương
trong tiếng Việt
113
Bảng 3.4 Mô hình hoá cấu trúc so sánh hơn "-er than " khi không
có yếu tố chêm xen trong tiếng Anh và cấu trúc tương
đương trong tiếng Việt
118
Bảng 3.5 Mô hình cấu trúc so sánh hơn với "prefer" và cấu trúc
tương đương trong tiếng Việt
121
Bảng 3.6 Mô hình hoá cấu trúc so sánh hơn với "would rather"
trong tiếng Anh và tương đương trong tiếng Việt
125
Bảng 3.7 Mô hình cấu trúc so sánh với "rather than" và tương
đương trong tiếng Việt
127
Bảng 3.8 Mô hình cấu trúc so sánh kém "less than " và tương
đương trong tiếng Việt
130
Bảng 3.9 Mô hình cấu trúc với "less than " và tương đương trong
131
vii
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Tính vấn đề và ý nghĩa của luận án
1
1.1. Tính vấn đề của luận án
1
1.2. Ý nghĩa của luận án
3
1.2.1. Ý nghĩa lý luận
3
1.2.2. Ý nghĩa thực tiễn
3
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
4
3. Mục đích của luận án
6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6
5. Phương pháp nghiên cứu
8
6. Cái mới của luận án
viii
1.2.2.2. Phương thức thay chính tố (supletion)
22
1.2.2.3. Phương thức hư từ (synsemantic words)
22
1.3. Lý thuyết thang độ và cấu trúc so sánh
22
1.3.1. Khái niệm về thang độ
22
1.3.2. Thang độ và cấu trúc so sánh
24
1.3.2.1. Tính từ có thang độ và tính từ không thang độ
24
1.3.2.2. Tính cam kết (committedness) trong cấu trúc so sánh của
cặp từ trái nghĩa có thang độ
27
1.4. Phân loại cấu trúc so sánh
28
1.4.1. Mô hình tổng quát của cấu trúc so sánh trong tiếng Anh
29
1.4.2. Mô hình tổng quát cấu trúc so sánh trong tiếng Việt
31
1.4.3. Phân loại cấu trúc biểu hiện ý nghĩa so sánh
33
1.5. Tiểu kết
38
CHƯƠNG 2: CÁC PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN Ý NGHĨA SO
SÁNH NGANG BẰNG TRONG TIẾNG ANH VÀ
TIẾNG VIỆT
40
tiếng Anh và tƣơng đƣơng tiếng Việt
55
2.2.1. Cấu trúc biểu hiện ý nghĩa so sánh ngang bằng có thang độ
với cặp từ "as as "
55
2.2.1.1. Cấu trúc so sánh ngang bằng với cặp từ "as as "
55
2.2.1.2. Một số cấu trúc chứa "as as " có tính thành ngữ
60
2.3. Các phƣơng tiện biểu hiện ý nghĩa so sánh ngang bằng
không có thang độ trong tiếng Anh và tƣơng đƣơng trong tiếng
Việt
67
2.3.1. Cấu trúc với "as"
67
2.3.2. Cấu trúc với "As if/ As though" và tương đương trong tiếng
Việt
71
2.3.3. Cấu trúc so sánh ngang bằng không có thang độ với "like"
và tương đương trong tiếng Việt
76
2.3.4. Cấu trúc so sánh ngang bằng không có thang độ với "same"
và tương đương trong tiếng Việt
87
2.3.5. Cấu trúc so sánh không thang độ với động từ "to be"
90
2.4. Tiểu kết
93
3.2.1.2. Cấu trúc so sánh hơn với "-er than " và tương đương
trong tiếng Việt
114
3.2.1.3. Cấu trúc so sánh hơn với "prefer" và tương đương trong
tiếng Việt
120
3.2.1.4. Cấu trúc so sánh hơn với "rather" và tương đương trong tiếng
Việt
122
3.2.2. Cấu trúc biểu hiện ý nghĩa so sánh kém trong tiếng Anh và
tương đương trong tiếng Việt
128
3.2.3. Một số cấu trúc so sánh hơn/ kém đặc biệt
136
3.2.3.1. So sánh không theo qui tắc (irregular comparison)
136
3.2.3.2. Cấu trúc so sánh hơn/ kém với tính từ có nguồn gốc từ
tiếng La tinh
138 xi
3.2.3.3. Cấu trúc so sánh tương liên (correlative comparative
construction) "the comparative the comparative"
139
3.2.3.4. Cấu trúc so sánh kép (double comparative construction)
"comparative and comparative"
145
3.3. Tiểu kết
147
4.2.2. Cấu trúc biểu đạt ý nghĩa so sánh kém nhất trong tiếng Anh
và tiếng Việt
167 xii
4.2.3. Một số cấu trúc so sánh nhất biến đổi không qui tắc
(irregular superlative comparison)
172
4.3. Tổng quan về cấu trúc biểu hiện ý nghĩa so sánh khác biệt
(comparison of differences)
176
4.3.1. Nhận thức về ý nghĩa so sánh khác biệt và cấu trúc biểu hiện
ý nghĩa so sánh khác biệt
176
4.3.2. Các phương thức biểu hiện ý nghĩa so sánh khác biệt trong
tiếng Anh
178
4.3.3. Các phương thức biểu hiện ý nghĩa so sánh khác biệt trong
tiếng Việt
178
4.4. Các phƣơng tiện biểu hiện ý nghĩa so sánh khác biệt trong
tiếng Anh và tƣơng đƣơng trong tiếng Việt
180
4.4.1. Cấu trúc so sánh khác biệt với "different" và tương đương
trong tiếng Việt
180
4.4.2. Cấu trúc so sánh khác biệt với "other" và tương đương trong
tiếng Việt
185
phạm trù phổ niệm, nhưng cách biểu hiện ý nghĩa so sánh trong các ngôn ngữ
lại không hoàn toàn giống nhau. Xét các câu tiếng Anh và câu tương đương
trong tiếng Việt dưới đây:
(1) Johnny is the same age as Pete. [184:150]
(Johnny bằng tuổi Pete).
(2) Johnny is as old as Pete. [184:150]
(Johnny bằng tuổi Pete).
(1) và (2) mang ý nghĩa so sánh ngang bằng (SSNB) với hai phương
tiện biểu hiện khác nhau: ở (1) là cụm từ "the same as"; ở (2) là cặp tương
liên “as as ”. Trong khi đó, yếu tố tương đương trong tiếng Việt của cả câu
hai là từ "bằng ". Lại xét tiếp câu sau đây:
(3) He loves the dog more than his wife . [177: 332]
(Anh ta yêu con chó hơn vợ anh ta).
(3) là một câu biểu hiện ý nghĩa so sánh hơn nhưng lại mang yếu tố mơ
hồ (ambiguity) vì có thể hiểu theo hai cách thể hiện ở câu (4) và (5) dưới đây
(4) He loves the dog more than his wife loves the dog. [177: 332] 2
(Anh ta yêu con chó hơn vợ anh ta yêu nó).
(5) He loves the dog more than he loves his wife . [177: 332]
(Anh ta yêu con chó hơn yêu vợ mình).
Khi nghe hay đọc câu (3), người ta phải hiểu theo nghĩa (4) hay (5)? Trừ phi
sự mơ hồ được cố ý tạo ra, việc nghiên cứu cách diễn đạt những câu so sánh
như (3) cho tường minh hơn sẽ có lợi cho giao tiếp ngôn ngữ.
Ngoài ra, có những trường hợp người học khá lúng túng khi tìm cách
hiểu và dịch một số câu so sánh tiếng Anh sang tiếng Việt. Câu (6) dưới đây
là một ví dụ.
(6) He spoke as calmly as he could: " Do you really think so"? [228, 143]
của hai ngôn ngữ gắn với hai nền văn hoá riêng với hai tập quán sử dụng ngôn
ngữ riêng.
Ngoài ra, qua nghiên cứu, luận án phát hiện và đề xuất thêm một số loại
cấu trúc so sánh trước nay chưa từng được đề cập đến trong các công trình
ngữ pháp tiếng Anh cũng như tiếng Việt.
1.2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trong xu thế mở cửa và hội nhập của Việt Nam vào cộng đồng thế giới,
ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu giúp hiện thực hoá tư tưởng “Việt Nam
muốn làm bạn với tất cả các nước”. Luận án cung cấp những hiểu biết cần
yếu về cách kiến tạo câu so sánh, nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ tinh tế
cho người học. Điều đó giúp quá trình hội nhập quốc tế của chúng ta được
thuận lợi hơn.
Sự đối chiếu thực hiện trên tiếng Anh và Việt sẽ chỉ ra những điểm
tương đồng, dị biệt giữa hai ngôn ngữ về cách biểu hiện nghĩa so sánh giúp
người Việt Nam học tiếng Anh lẫn người nước ngoài học tiếng Việt vượt qua
được những trở ngại và những chuyển di tiêu cực khi dịch câu so sánh từ Anh
sang Việt hoặc ngược lại, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học tiếng Anh ở
nước ta và dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. 4
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Cho đến nay, hầu hết các sách ngữ pháp tiếng Anh đều có trình bày
khái quát các cấu trúc so sánh với ba hình thức cơ bản là bằng nhau, hơn/ kém
và nhất. Trong lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu, bắt đầu từ Jespersen [133]
đến Quirk [176], Givón [111] cho đến Huddleston [127] có thể thấy cấu trúc
so sánh tiếng Anh được tiếp cận từ hai hướng: hướng từ góc độ cú pháp và
hướng theo quan điểm của ngữ nghĩa học.
Theo hướng thứ nhất, dựa vào ngữ pháp cải biến (transformational
hướng tiếp cận vấn đề mới và đây cũng là cơ sở để phân loại trong luận án
này.
Trong tiếng Việt, Nguyễn Đăng Liêm [151] có lẽ là người đầu tiên đối
chiếu cấu trúc so sánh tiếng Anh và tiếng Việt, nhưng tác giả chỉ mới đưa ra
được các công thức so sánh tính từ tiếng Anh đối sánh với so sánh tính từ
tiếng Việt ở cấp độ hơn, bằng và ít hơn và so sánh với danh từ chỉ lượng số ít
và số nhiều. Nguyễn Kim Thản [49] xác nhận sự tồn tại của câu so sánh trong
tiếng Việt nhưng chưa phân tích cụ thể. Nguyễn Đức Dân và Nguyễn Thị Yên
[7] và Nguyễn Đức Dân [8], [9] nêu lên khái niệm thang độ trong so sánh và
hiện tượng từ vựng hoá những từ ngữ để so sánh trên thang độ. Hoàng Trọng
Phiến [40] đề nghị sáu nhóm mô hình câu so sánh trong tiếng Việt, chủ yếu là
câu so sánh ngang bằng. Đào Thản [48], Đinh Trọng Lạc [30], Nguyễn Thái
Hoà [22], Nguyễn Thế Lịch [36] khảo sát các câu so sánh ngang bằng tu từ
học. Hữu Đạt [11] đề nghị một số mô hình của cấu trúc so sánh “ngang
bằng”, “hơn kém” và “nhất”. Tuy nhiên, tác giả không phân tích sâu cơ chế
hoạt động của các thành tố tạo nên câu so sánh. Tăng Kim Uyên [199] đối
chiếu cấu trúc so sánh hơn kém tiếng Anh và tiếng Việt và rút ra được một số
nét tương đồng và dị biệt. Bùi Phụng và Nguyễn Chí Hoà [44] bước đầu
nghiên cứu ý nghĩa so sánh đối chiếu động chủ yếu là việc xác lập một số mô
hình cấu trúc so sánh tương liên (correlative comparative) kết hợp với các 6
động từ chỉ sự phát triển như trở thành, trở nên. Nguyễn Thị Ngân Hoa [21]
nghiên cứu ảnh hưởng của sự thay đổi chuẩn so sánh đến giá trị biểu hiện của
một số cấu trúc so sánh trong thơ Xuân Diệu.
Bức tranh chung về tình hình nghiên cứu các phương thức biểu hiện ý
nghĩa so sánh trong tiếng Anh và tiếng Việt cho thấy đây là một lĩnh vực "có
vấn đề ” còn nhiều điều có thể nghiên cứu và đặc biệt có một mảng trong lĩnh
cascade of brown waters. [226, 70]
(Lúc này Đê-lơ buông làn tóc rủ quanh người nàng. Làn tóc gợn sóng óng
ánh như một thác nước màu nâu).
(9) “Holy water ?" she said, "I think I prefer whisky”. [228, 123]
(“Nước thánh à ?” Cô ta nói, ” Tôi nghĩ tôi thích rượu uýtxki hơn”).
b) Một kết cấu ngữ pháp trong đó thành tố so sánh là một cụm từ
(10) There was silence as deep and mysterious as the flat sandy country that
extended mile after mile in every direction. [226, 98]
(Không gian lặng lẽ sâu thẳm và huyền bí như nền đất cát bằng phẳng trải
rộng hàng bao nhiêu dặm về mọi hướng).
(11) They consider it the most perfect work of art the world has any
knowledge of. [243, 67]
(Họ xem đó là tác phẩm nghệ thuật hoàn mỹ nhất mà thế giới chưa hề biết
đến).
c) Một kết cấu ngữ pháp trong đó so sánh được thực hiện bằng một cặp
từ tương liên
(12) The more Teddy pondered his plan, the more convinced he became that
the election would be won by Mr. Aaron Like. [233, 53]
(Càng cân nhắc về kế hoạch của mình, Teddy càng tin rằng Ngài Aaron Like
sẽ thắng cử). 8
Sự mơ hồ nghĩa (ambiguity) trong các câu so sánh cũng sẽ được phân
tích và đề xuất cách khắc phục tùy từng trường hợp để việc sử dụng các câu
so sánh trong giao tiếp được thuận lợi hơn.
Ngôn điệu (prosody) và láy (reduplication) cũng có thể biểu hiện ý
nghĩa so sánh nhưng chúng tôi không khảo sát trong luận án vì những vấn đề
này đòi hỏi một công trình nghiên cứu đầy đủ khác.
+ Các tác phẩm văn học Anh, Mỹ do chúng tôi tự dịch sang tiếng Việt.
+ Từ điển tiếng Anh, Từ điển tiếng Việt, Từ điển Anh- Việt đã được
xuất bản tại Việt Nam và nước ngoài.
+ Sách ngữ pháp tiếng Anh và tiếng Việt do người bản ngữ viết.
+ Các bài nghiên cứu về cấu trúc so sánh tiếng Anh và tiếng Việt đăng
trên các tạp chí ngôn ngữ học trong và ngoài nước.
5.4. Dữ liệu sẽ được phân tích về cả định lượng lẫn định tính. Các mẫu
câu sẽ được tách ra các thành tố để miêu tả theo phương pháp quy nạp, sau đó
đưa vào mô hình và thống kê tần số xuất hiện.
5.5. Về đối chiếu, luận án sẽ bắt đầu từ tiếng Anh, xem tiếng Anh là
ngôn ngữ gốc, ngôn ngữ xuất phát, và tiếng Việt là ngôn ngữ đích, ngôn ngữ
để đối chiếu. Đôi khi chúng tôi đối chiếu ngược từ các bản gốc tiếng Việt dịch
sang tiếng Anh để tìm thêm các biến thể tương đương bổ sung.
5.6. Những đề xuất và kiến nghị về dạy, biên soạn sách giáo khoa và
những vấn đề về dịch thuật các cấu trúc so sánh tiếng Anh và tiếng Việt,
chúng tôi không tách ra thành một chương riêng mà lồng ghép vào các
chương ngay sau phần trình bày vấn đề đó.
6. Cái mới của luận án
6.1. Đây là luận án đầu tiên khảo sát đối chiếu cấu trúc so sánh trong
tiếng Anh và tiếng Việt trên tất cả các thang độ bằng, hơn/ kém, nhất. 10
6.2. Lần đầu tiên, các câu mang nghĩa so sánh khác biệt được xem xét
và phân loại với tư cách là một tiểu loại cấu trúc so sánh trong ngôn ngữ.
6.3. Luận án đã phát hiện ra những tương đồng, dị biệt giữa cách biểu
hiện ý nghĩa so sánh của tiếng Anh với cách của tiếng Việt và cố gắng lý giải
nguyên nhân của những điểm dị đồng đó.
7. Bố cục của luận án
he looked like a child - so young, so quiet and so weak”. [239,
82]
(Đôi mắt Thái tử lúc nào trông cũng buồn”. Wallis nói về Edward “và đôi khi
trông chàng giống như một đứa trẻ - quá trẻ, quá thầm lặng, quá yếu đuối).
(2) In the old days princes were cold and bored. But Edward is different. He
gets out of his car and walks down the street. Every two or three minutes he
stops and speaks with the crowd. [239, 74]
(Ngày xưa, các ông hoàng thường tỏ ra lạnh nhạt. Riêng Edward lại khác.
Ông ra khỏi xe, đi bộ xuống đường phố, cứ vài phút thì dừng lại nói chuyện
với đám đông).
Trong câu (1), hai đối tượng X (Thái tử Edward) và Y (đứa trẻ) được
đem so sánh. Sự giống nhau là trạng thái trẻ, yếu đuối và thầm lặng. Trong