BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
JEONG MU YOUNG
PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN
Ý NGHĨA THỜI GIAN TRONG TIẾNG HÀN
(SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh-2008
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
JEONG MU YOUNG
PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN
Ý NGHĨA THỜI GIAN TRONG TIẾNG HÀN
(SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. DƯ NGỌC NGÂN
MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………..4
0.1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu…………………………………4
0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………………….5
0.3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề………………………………………………….5
0.4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………..15
0.5. Cấu trúc của luận văn……………………………………………………...16
NỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ Ý NGHĨA
THỜI GIAN ĐẶC ĐIỂM CÚ PHÁP TIẾNG HÀN
1.1. Những cơ sở lý thuyết……………………………………………………..18
1.1.1. Vấn đề chung…………………………………………………………….18
1.1.2. Ý nghĩa “Thời (time)” và các khái niệm có liên quan..............................19
1.1.2.1. Ý nghĩa “Thời (time)” .......................................................................19
1.1.2.2. Khái niệm “Thì (tense)”………………………………………….....21
1.1.2.3. Khái niệm “Thể (aspect)”…………………………………………..23
1.1.3. Các phương thức biểu hiện ý nghĩa thời gian…………………………....24
1.1.3.1. Biểu hiện bằng phương tiện hình thái học……………………..........24
1.1.3.2. Biểu hiện bằng phương tiện từ vựng – ngữ pháp…………………...26
1.2. Tổng quan về ý nghĩa thời gian trong tiếng Hàn…………………………..28
Chương 2: PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN Ý NGHĨA THỜI GIAN TRONG
TIẾNG HÀN (SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)
2.1. Phương thức biểu hiện ý nghĩa thời gian trong tiếng Hàn…………………54
2.1.1. Dùng phương tiện hình thái học………………………………………....54
2.1.1.1. Biểu hiện phạm trù “Thì”…………………………………………...56
2.1.1.2. Biểu hiện phạm trù “Thể”…………………………………………..93
2.1.2. Dùng phương tiện từ vựng - ngữ pháp…………………………………..108
2.2. So sánh phương thức biểu hiện ý nghĩa thời gian trong tiếng Hàn và trong
tiếp của người nói, đặc biệt là những người học tiếng Hàn với tư cách ngôn ngữ
thứ hai. Hiện nay, quan hệ tiếp xúc, giao lưu văn hoá, ngôn ngữ giữa hai đất nước
Việt Nam và Hàn Quốc ngày càng phát triển. Việc tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ
của nhau cũng góp phần thúc đẩy mối quan hệ này.
Vì những lý do trên, luận văn này sẽ đi vào tìm hiểu phương thức biểu hiện ý
nghĩa thời gian trong tiếng Hàn (so sánh với tiếng Việt). Đề tài này có ý nghĩa về
mặt lý luận và thực tiễn.
- Về lý luận: Việc nghiên cứu đề tài này góp phần làm rõ đặc điểm loại hình
của tiếng Hàn và tiếng Việt; các phương thức, phương tiện biểu hiện ý nghĩa thời
gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt.
- Về thực tiễn: Kết quả của luận văn có thể được vận dụng vào việc giảng
dạy tiếng Hàn cho người Việt và tiếng Việt cho người Hàn.
0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về các phương thức chủ yếu biểu hiện ý nghĩa thời
gian trong tiếng Hàn. Phương thức biểu hiện ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt
được nghiên cứu với tư cách là đối tượng so sánh với tiếng Hàn. Qua đó luận văn
muốn tìm thấy những phương tiện biểu hiện thời gian đặc thù của hai ngôn ngữ.
0.3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
0.3.1. Các quan điểm nghiên cứu thì và thể trong tiếng Hàn
Trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Hàn, thì là vấn đề được sự
quan tâm của giới nghiên cứu Hàn ngữ học. Hầu hết các sách ngữ pháp tiếng Hàn
đều có nói đến ý nghĩa thì (thời) trong tiếng Hàn. Các ý kiến này có thể được tóm
tắt trong một số quan điểm mà chúng tôi sẽ trình bày sau đây.
Theo tiếng Hàn, trong vị từ (hoặc ngữ vị từ ) làm thành phần câu, có chia
(volitive mood). Theo ông Underwood, thức biểu thị là “động từ quyết định có
biểu hiện hoạt động (action) và tĩnh trạng (static), hỏi về hiện thực (fact) hoặc nói
về hiện thực (fact)”. Theo ông Uderwood, phạm trù thức làm cơ sở trong tiếng
Hàn. Hệ thống thì của ông Underwood có gốc là thức, thì xuất phát từ thức. Hệ
thống thì bao gồm thì đơn (simple tense) và thì phức (compound tense), trừ phụ
tố sau (retrostective) ‘-더-’ thành lập 4 loại thì: hiện tại(아오), quá khứ(알앗소),
tương lai (알겟소), dĩ thành tương lai (알앗겟소); thêm phụ tố trước (retrostective)
biểu thị thì: ‘-더-’ tiếp diễn(알더이다), quá khứ rất xa (알앗더이다), tương lai tiếp
tục(알겟더이다), tương lai khả năng(알앗겟더이다).
Sau đây là bảng tóm tắt về thì và thức của H.G. Underwood trong công trình
“Ngữ pháp Hàn-Anh”(1890)
Vĩ tố kết thúc câu (termination)
Thức biểu thị (indicative mood)
Thức ý nguyện (volitive mood)
Hiện thực (fact)
Hoạt động (action)
Tĩnh trạng (static)
Thì đơn (simple tense)
Thì phức (compound tense)
Thì đơn (simple tense)
Dĩ thành tương lai
알앗겟소
Tương lai khả năng
알앗겟더이다
Các định từ
아는, 안, 알,
Thức biểu thị (indicative mood): có quá
알앗실, 알던
khứ, hiện tại, có liên quan đến tương lai
tiếp diễn.
Theo tác giả J.S. Gale, trong “Ngữ pháp tiếng Hàn” (1894), cuối câu có biểu
hiện thức. ‘하느니라,합넨다’ là thức trần thuật lệ thuộc(independent indicative),
dùng để giải thích ý nghĩa sự việc thường và phổ quát. Theo ông Gale, ‘-더-’ là
outside verbal form và theo ông Gale thức biểu thị (indicative mood) là giữa quá
khứ và hiện tại, theo ông Underwood thức biểu thị (indicative mood) là thì phức
(complex tense).
Tác giả P.A. Eckardt trong “Ngữ pháp tiếng Hàn” (1923) có phân biệt ‘thì
nguồn gốc /본시/Hauptzeit’ và ‘thì phụ/부속시 /Nebenzeit’ hiện tại, dĩ thành/ hoàn
chỉnh(1), dĩ thành/hoàn chỉnh(2), tương lai(1),tương lai(2), tương lai(3).
Tuyên bố (regressive) (+tình thái)
he sees
Hiện tại
Present
보더
he saw
Dĩ thành
Perfect
보았더
he will see
Tương lai
보겠더
Future
he sees there
he saw then
he will see then
Theo ông Ramstedt, thì là cơ sở để tạo thức.
0.3.1.1. Quan điểm cho rằng tiếng Hàn không tồn tại phạm trù thì
Sau năm 1970 có một số công trình nghiên cứu về thì, thể, thức, phạm trù
b. Tiếng Hàn chỉ có hai thì: quá khứ và phi quá khứ
Một số học giả tiếng Hàn nói rằng trong tiếng Hàn có tồn tại hai thì (quá khứ
và phi quá khứ tức là hiện tại). Nhà nghiên cứu Najinseok (1964,1965) có bàn về
phạm trù hai thì: “이적/ijЭk/(quá khứ)”, “지난적/jinanjЭk/(quá khứ)”.
Nhà nghiên cứu Kimseokduk (1974) xác định khái niệm thì quá khứ và thì
phi quá khứ.
Nhà nghiên cứu Seojeongsu xác định và trình bày cụ thể hơn khái niệm thì
quá khứ và phi quá khứ.
Choihyunbae trong công trình “Tiếng Hàn”(1937) lần đầu tiên nghiên cứu
và phân tích các thì cụ thể trong tiếng Hàn. Theo ông hình vị “-더-” biểu thị thì và
động từ, tính từ, hệ từ (copula) chia được theo thì. Ông có nhận xét là vĩ tố kết
thúc câu đặt sau động từ “-겠-” là hình thức chia phạm trù thời gian, khả năng, số
lượng phỏng đoán” nhưng chưa phân tích ý nghĩa chính xác của chúng, tuy nhiên
ông có đề cập đến chuẩn đặc trưng về tình thái (modality).
Nhà nghiên cứu Leejongchel (1964) theo quan niệm thì được thể hiện trong vĩ
tố và thì có quan hệ với thể và thức. Najinseok (1964,1965,1972) thì dựa vào thì
để chia thể, thức 때매김.
Trong lịch sử nghiên cứu, có ba quan điểm chủ yếu về yếu tố biểu hiện thì của
tiếng Hàn: (1) coi đó là vĩ tố kết thúc câu “- 었었-” (quá khứ), “-ㄴ-”(hiện tại), 겠-”(tương lai); (2) coi chúng là hình vị (morpheme) thêm vào sau động từ “었었-/- 었1-/-었2-” (quá khứ), hình vị zero (hiện tại); và (3) chúng là một từ “었었”
(quá khứ), “ㄴ”(hiện tại),
“겠”(tương lai).
Luận văn này theo quan điểm cho trong tiếng Hàn có 2 thì: quá khứ với hình
vị “- 었-” “-었었-” và phi quá khứ (tức là hiện tại) với hình vị zero và xem những
hình vị này là vĩ tố kết thúc câu.
Nhà nghiên cứu Alexandre De Rhodes (1651) có lẽ là người đầu tiên nói đến
vấn đề ngữ pháp thời gian trong tiếng Việt. Ông cho rằng tiếng Việt có ba thì (quá
khứ, hiện tại, tương lai). Thì được nhận biết bằng cách thêm vào một vài một vài
phụ từ. Thì hiện tại không cần thiết thêm một phụ từ nào, nhưng đôi khi cũng có,
ví dụ như: “ Tôi có việc bây giờ ”. Quá khứ thì chia ba thì như thì quá khứ chưa
hoàn thành, thì quá khứ hoàn thành (được biểu hiện bằng đã, đã về, đã nói v.v...)
và thì tiền quá khứ. Thì tương lai được biểu thị bằng “tiểu từ” sẽ.
Nhà nghiên cứu Trương Vĩnh Ký trong “Ngữ pháp tiếng Việt (1883)” cũng
cho rằng thời gian trong tiếng Việt được biểu thị bằng các hư từ (đã, đang, sẽ).
Tiếng Việt dùng hư từ đã (thì quá khứ), đang (thì hiện tại), sẽ (thì tương lai).
Ngoài ra tiếng Việt cũng có các thì chưa hoàn thành, thì quá khứ hoàn thành sớm.
Nhà nghiên cứu Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm và Bùi Kỷ cho rằng
tiếng Việt có ba thời là hiện tại, quá khứ và tương lai, mỗi thời gắn với hai giá trị
thể đối lập nhau hoàn thành và chưa hoàn thành (đã, đã ....rồi, đã....xong, xong).
Nhà nghiên cứu Bùi Đức Tịnh(1952) cho rằng tiếng Việt có ba thời (thời quá
khứ, thời hiện tại, thời tương lai), thể hiện qua các ngữ tố đã, đang, sẽ, rồi,
vẫn ..v.v.. Theo ông, ngữ tố “đã” dùng để chỉ sự tình ở thời vị lai và “đang” không
chỉ ý nghĩa hiện tại.
Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963) thì cho rằng “đã, đã rồi” chỉ
sự việc trong quá khứ khi chúng hành chức như những phó từ chỉ thời điểm.
Theo Lê Văn Lý (1972), tiếng Việt có hai hạng mục thì và thể với ngữ vị chỉ
thời gian (đương, đang), ngữ vị chỉ quá khứ (đã, rồi), ngữ vị chỉ tương lai gần hay
tương lai xa (sắp, sẽ).
Hai tác giả Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (1998) trong “Thành
phần câu tiếng Việt” đã hệ thống hóa ý nghĩa thời và thể trong tiếng Việt theo
cách phân chia thời tương lai và cả thời phi tương lai.
Thời tương lai với các giá trị thể đối lập: thời tương lai hoàn thành (sắp),
thời tương lai phi hoàn thành (sẽ).
là không biểu đạt ý nghĩa thì. Theo ông, các chỉ tố đã, đang, sẽ trong tiếng Việt là
những phương tiện ngữ pháp hay đang được ngữ pháp hóa biểu đạt thể. (Tiếng
Việt mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, Cao Xuân Hạo, 1998)
0.4. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu khoa học chung như thu
thập, phân loại ngữ liệu…, luận văn vận dụng chủ yếu các phương pháp sau đây:
0.4.1. Phương pháp phân tích ngữ nghĩa – cú pháp
Luận văn phân tích những các yếu tố liên quan đến các phương thức biểu
hiện ý nghĩa thời gian, chẳng hạn phân tích các trợ từ, phụ tố, các nghĩa của một
dạng thức vị từ hoặc vị ngữ rồi từ đó khái quát nghĩa của sự tình đang được miêu
tả.
0.4.2. Phương pháp miêu tả
Luận văn dùng phương pháp này để miêu tả, trình bày những kết quả khảo
sát, nghiên cứu.
0.4.3. Phương pháp so sánh đối chiếu
Để tìm ra đặc trưng loại hình của ngôn ngữ được khảo sát (tiếng Hàn), phải
so sánh, đối chiếu về ngữ nghĩa – cú pháp, hệ thống các phương thức biểu hiện
thời gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt.
Chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu tất cả những yếu tố liên quan đến
phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt. Việc so sánh, đối
chiếu giúp tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về phương thức biểu hiện
thời gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt.
Ngoài ra, trong quá trình so sánh, đối chiếu, miêu tả , luận văn còn vận dụng
phương pháp diễn dịch, qui nạp.
0.5. Cấu trúc của luận văn