phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả trong văn bản tiếng anh và tiếng việt - Pdf 24


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN VĂN THÀNH PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN QUAN HỆ NHÂN QUẢ
TRONG VĂN BẢN TIẾNG ANH
VÀ TIẾNG VIỆT CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH - ĐỐI CHIẾU
MÃ SỐ: 62.22.01.10

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ V

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN THÀNH
ii
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận án
NCS. NGUYỄN VĂN THÀNH
iii
LỜI CẢM TẠ

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm,
người hướng dẫn, đã cho tôi các chỉ đạo quý giá trong quá trình thực hiện
luận án này.
Tôi xin cảm ơn các Giáo sư tại Đại học Seattle, tiểu bang
Washington, Hoa Kỳ, đặc biệt là Giáo sư Ngôn ngữ học John Bean và
Giáo sư Văn chương Anh Larry Nichols đã trao đổi và chỉ dẫn cách tiếp
cận các vấn đề trong luận án.
Tôi xin cảm ơn các đồ
ng nghiệp là giảng viên người Việt và người
Mỹ tại Bộ môn Anh của Đại học Quốc tế - Đại học Quốc gia TP.HCM,
đã cho tôi những lời khuyên chân tình và bổ ích để hoàn tất luận án này.
Tôi cũng xin cảm ơn các bạn sinh viên Việt Nam và sinh viên quốc

6 Bố cục của luận án 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tiểu dẫn 18
1.1.1. Khái niệm nhân quả trong triết học 18
1.1.2. Khái niệm nhân quả trong ngôn ngữ học 19
1.2. Giao thoa giữa quan hệ nhân quả và quan hệ điều kiện 24
1.3. Điều kiện để xác định quan hệ nhân quả 31
1.4. Lô-gic ngữ nghĩa trong quan hệ nhân quả 37
1.5. Các phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả 38
1.6. Tiêu chí xác định phương thứ
c biểu hiện quan hệ nhân quả 39
1.6.1. Tiêu chí xác định dùng tác tố trong suốt 39
1.6.2. Tiêu chí xác định dùng tác tố mờ đục 40
1.6.3. Tiêu chí xác định dùng tác tố zero 44
1.7. Các cấp độ liên kết biểu hiện quan hệ nhân quả 48
1.7.1. Liên kết ở cấp độ liên ngữ 48
1.7.2. Liên kết ở cấp độ liên cú 49
v
1.7.3. Liên kết ở cấp độ liên câu 52
1.8. Tiểu kết 54

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN
QUAN HỆ NHÂN QUẢ TRONG VĂN BẢN TIẾNG ANH
2.1. Tiểu dẫn 55
2.2. Các phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả trong văn xuôi
chính luận 56

3.2. Các phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả trong văn xuôi
chính luận 93
3.2.1. Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố trong
suốt
94
3.2.2. Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố mờ đục 98
3.2.3. Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố zero 107
3.3. Các phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả trong văn xuôi văn họ
c
109
3.3.1. Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố trong
suốt
110
3.3.2. Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố mờ đục 111
3.3.3. Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố zero 112
3.4. Các phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả trong văn bản thơ 114

3.4.1. Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố trong
suốt
114

3.4.2. Ph
ương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố mờ đục 116

3.4.3. Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố zero 117
3.5. Tiểu kết 126

CHƯƠNG 4: SO SÁNH-ĐỐI CHIẾU
CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN QUAN HỆ NHÂN QUẢ
TRONG VĂN BẢN TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

PHỤ LỤC 1 178
PHỤ LỤC 2 182
PHỤ LỤC 3 185
viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT & KÝ HIỆU
STT Từ viết tắt Chú giải
01
CLCC
Chiếc lá cuối cùng
02
CTNQ
Cấu trúc nhân quả
03
KTLL
Khói trời lộng lẫy
04 NVT Nguyễn Văn Thành
05 PTBHQHNQ Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả
06
TCNN
Tạp chí Ngôn ngữ
07
TSQT - ND
Thời sự Quốc tế - Nhân dân
08
TTXVN
Thông tấn xã Việt Nam
09 Dấu (+) Chỉ ra tính hiện thực của cấu trúc

bản tiếng Anh và tiếng Việt 133
21 4.4. Xu thế giản lược tác tố liên kết nhân quả 145
22 4.5. Bảng phân bố các tác tố qua các thể loại văn bản 148
x
Anh – Việt
23 4.6. Bảng phân bố các tác tố qua các thể loại văn bản
Anh – Việt được thể hiện qua đồ thị 148
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1. Lí do chọn đề tài
Tìm hiểu Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả trong văn bản tiếng
Anh và tiếng Việt thực chất trước hết là tìm hiểu vấn đề hoạt động của tư duy
thông qua ngôn ngữ, và định hình bằng cơ chế và chất liệu của ngôn ngữ để
xác lập phương thức liên kết nhân qu
ả trong tính hiện thực của hoạt động
ngôn ngữ (diễn ra như thế nào) thông qua văn bản tiếng Anh và văn bản tiếng
Việt. Cơ chế về mối quan hệ giữa tư duy lô-gic và bình diện cú pháp trong
việc thể hiện cấu trúc nhân quả vốn được mã hóa bằng ngôn ngữ như một
phạm trù phổ niệm lâu nay chưa được giới nghiên cứu quan tâm đúng mức.
Việc làm sáng tỏ c
ơ chế trên trong sự chuyển hóa liên thông từ bình diện
tư duy lô-gic lên bình diện cấu trúc ngôn ngữ gắn liền với bình diện
phong cách thể loại diễn ngôn một cách thật bài bản, từ khâu lí thuyết đến

So sánh đối chiếu các tác tố liên kết, các cấu trúc ngữ nghĩa trong văn bản, để
phục vụ việc biên/phiên dịch, giảng dạy, học tập tiếng Anh cho người Việt,
cũng như giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.

2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu cấu trúc nhân quả
trong tiếng Anh
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học như: M.A. Halliday (1976, 2004),
L. Alterberg (1984), E. Sweetser (1990), J. Haiman (1986), R. Jackendoff
(1995), J.J. Song (1996), A.E. Golberg (2001), C. Khoo and others (1999,
2002), R. Girju (2003), N. Kwon (2004), R. Mulkar-Mehta (2011), … đã
nghiên cứu về các phạm vi ngôn ngữ khác nhau: liên kết văn bản, cấu trúc
nhân quả trong các loại văn bản khoa học tự nhiên như sinh học, y khoa, …
hoặc các lý thuyết về quan hệ nhân quả trong văn bản, đặc biệt là về động từ
gây khiến (causal verbs).
a. Altberg (1984) phân loại các kết từ nguyên nhân-hệ quả thành bốn
loại chính:
i. kết từ trạng ngữ (adverbial link), như so, hence, therefore
ii. kết từ giới từ (prepositional link), như because of, on account of
iii. phụ kết (subordiation), như because, as, since
3
iv. kết từ hợp nhất mệnh đề (clause-integrated link), như that's why, the result
was
b. Haiman (1986) khi bàn về “câu điều kiện”, vẫn dùng ngữ đoạn “hệ
quả” đi cùng với “nguyên nhân”;
“Không nghi ngờ gì nữa, có một mối quan hệ nguyên nhân-hệ quả
giữa cú điều kiện và cú hệ quả ở chỗ nào có câu điều kiện điển mẫu, theo

nguyên nhân (causal), ngữ nghĩa (semantic), trật tự cơ bản (basic order),
phủ định (negative).
Ví dụ: Although the chances of errors were high, no one made a mistake.
(Mặc dù khả năng gây lỗi là cao, không có người nào mắc lỗi.)
iii. Kết quả - nguyên nhân (Consequence - cause): nguyên nhân (causal),
ngữ nghĩa (semantic), trật tự không cơ bản (non-basic order), khẳng định
(positive).
Ví dụ: There will be water shortage this year because it is not raining.
(Năm nay sẽ thiếu nước vì trời không mưa.)
iv. K
ết quả - nguyên nhân tương phản (Contrastive consequence - cause):
nguyên nhân (causal), ngữ nghĩa (semantic), trật tự không cơ bản (non-
basic order), phủ định (negative).
Ví dụ: No one made a mistake although the chances of errors were high.
(Không có người nào mắc lỗi mặc dù khả năng gây lỗi là cao.)
v. Tuyên bố lập luận (Argument claim): nguyên nhân (causal), dụng ngữ
(pragmatic), trật tự cơ bản (basic order), khẳng định (positive).
Ví dụ: The elderly may find a cold deadly. Therefore, they should get a jab
against it.
(Người cao tuổi có thể sẽ phải trải qua một đợt lạnh chế
t người. Vì vậy, họ
nên được chủng ngừa.)
vi. Mục đích - công cụ (Instrument - goal): nguyên nhân (causal), ngữ
dụng (pragmatic), trật tự cơ bản (basic order), khẳng định (positive).
Ví dụ: We will give you enough evidence in order to write up a sensible
report.
(Chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn đầy đủ chứng cứ để viết một báo cáo hợp
lý.)
Ví dụ: Drinking wine can be beneficial for your heart, only if you drink it
in small quantities.
6
(Uống rượu có thể có lợi cho tim, với điều kiện bạn uống ít.)
xii. Tuyên bố - lập luận tương phản (Contrastive claim - argument): nguyên
nhân (causal), ngữ dụng (pragmatic), trật tự không cơ bản (non-basic
order), phủ định (negative).
Ví dụ: Cats are said to be very independent, although they can be a
companion to lonely people.
(Mèo được cho là rất độc lập, mặc dù chúng có thể là bạn của những người
cô đơn.)
e. Khoo, C., Chan, S., and Niu, Y. (2002) giải thích về định tính hàm ẩn
của động t
ừ chỉ quan hệ nguyên nhân hệ quả (implicit causal attribution of
verbs) như sau: “Quan hệ ngầm ẩn được người đọc suy ra từ thông tin trong
văn bản hoặc từ tri thức nền (background knowledge)”. Tuy vậy, nguyên nhân
hàm ẩn trong văn bản cũng có thể có một hình thức thiên lệch tinh vi (subtle
bias): Một vài biểu thức ngôn ngữ (linguistic expressions) không có nghĩa
nguyên nhân để người đọc có thể biết rõ nhưng lại có thiên hướng hướng
ngườ
i đọc vào định tính của một thành phần nào đó trong văn bản.
f. Talmy (2003) phân loại các kiểu quan hệ gây khiến theo mô hình từ
vựng hóa (lexicalization pattern) - hầu hết là "các loại gây khiến khác nhau
kết hợp với gốc của động từ" (different types of causation incorporated in the
verb root).
i. Các tình huống độc lập - không gây khiến (Autonomous events - non-
causative)

hiện quan hệ nhân quả một cách tổng quát, một số
thể hiện rất cụ thể một kết
quả, lý do, hoặc mục đích. (In many types of discourse the relation of cause
figures very prominent as a cohesive agent. Some cause expressions are
general, others relate more specifically to result, reason or purpose.)
Causal general
(so, then, therefore, hence)
specific
result (as a result)
reason (on account of this)
purpose (for that purpose)
h. Mulkar-Mehta (2011), Đại học Nam California, trong luận án Tiến sĩ
với đề tài: Granular Causality for Learning by Reading (Kết cấu thô về quan
8
hệ Nhân quả ứng dụng cho việc đọc hiểu văn bản), đã tổng kết được 25 chỉ tố
gây khiến gốc (seed causal markers) và 318 cấu trúc nhân quả (causal
patterns) từ các văn bản báo chí về lĩnh vực y sinh (biomedical).

2.2. Tình hình nghiên cứu cấu trúc nhân quả trong tiếng Việt
Ở Việt Nam, ngữ pháp văn bản, sự liên kết của hai mối quan hệ nguyên
nhân-hệ quả và đi
ều kiện-hệ quả bắt đầu được một số nhà nghiên cứu Việt
Nam quan tâm, như Hoàng Trọng Phiến (1980), các tác giả thuộc Ủy ban
Khoa học Xã hội Việt Nam (1983), Trần Ngọc Thêm (1985), Cao Xuân Hạo
(1991), Hồ Lê (1992), Diệp Quang Ban (1996), và Nguyễn Đức Dân (1998);
sau đó có Nguyễn Khánh Hà (2008), Nguyễn Thị Thu Hà (2008), Lê Thị
Minh Hằng (2009), và Nguyễn Thị Thu Hương (2010), cũng có các nghiên

ới, (ii) “kết từ liên hợp” biểu thị quan hệ liên hợp, như: và, với,
và các cặp nếu thì , vì cho nên
c. Cao Xuân Hạo (1991) tiếp cận kiểu câu nguyên nhân và điều kiện
theo cách của riêng: ứng dụng lí thuyết ngữ pháp chức năng vào việc nghiên
cứu ngữ pháp tiếng Việt.
“Trong những ngôn ngữ như tiếng Việt, vốn chưa từng trải qua quá trình
li khai nói trên [tức là “quá trình li khai giữa Chủ
ngữ ngữ pháp và Đề ngữ” –
NVT], cấu trúc cơ bản của câu tương đương với cấu trúc mệnh đề gồm hai
phần Sở đề (Subjectum hay Thema) và Sở thuyết (Praedicatum hay Rhema)”.
Trên cơ sở đó, hai kiểu câu nguyên nhân-hệ quả và điều kiện-hệ quả
được tác giả lí giải là cú pháp khác biệt nhau, căn cứ vào sự có mặt hay khả
năng xuất hiện của hai quan hệ từ thì
và là. Giải pháp này không căn cứ trên
sự khác nhau của các quan hệ từ nối hai vế, và cũng không đặt ra mối quan hệ
liên thông giữa hai kiểu câu này.
Cách định vị chức năng cú pháp đề-thuyết trong nội bộ hệ thống ngôn
ngữ, thay vì cấu trúc chủ-vị, của Cao Xuân Hạo khác hẳn việc định vị cấu trúc
này ở bậc sử dụng cú với chức năng mà Halliday gọi là “chức năng v
ăn bản”
(textual function). Có thể kết luận rằng đây là hai thứ “thước đo” hoàn toàn
khác nhau, tạm so sánh như thước đo chiều dài bằng mét khác với thước đo
diện tích bằng mét vuông, không thể quy đổi cái này ra cái kia.
d. Trong cuốn Cú pháp tiếng Việt (1992), Hồ Lê đã nhận ra những kiểu
khác nhau của quan hệ “điều kiện-hệ quả” trong các kiểu câu có cấu tạo ngữ
10
pháp hình thức khác nhau thể hiện qua các quan hệ từ khác nhau. Theo Hồ

11
Điều nói trên cũng có hiệu lực đối với câu điều kiện chứa cặp từ nối cứ
… là …, như: Cứ thấy anh là nó khóc vì nó nhớ đến bố. Quan hệ nhân-quả ở
đây được tác giả giải thích theo kiểu “chuyển tiếp” như sau: (i) Sự xuất hiện
của anh làm nó nhớ đến bố, (ii) Nhớ đến bố nên nó khóc. Tiếng cứ dùng trong
trường h
ợp này tương đương về nghĩa với tiếng hễ, dùng để chỉ một kiểu điều
kiện có tính chất “thường xuyên”, “lặp đi lặp lại”.
f. Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (2005a), Diệp Quang Ban căn cứ
vào khả năng kết hợp với các thực từ, chia động từ thành nhiều lớp. Theo đó,
một số lớp con từ có th
ể cùng một lúc chi phối đối tượng và nêu đặc trưng của
hành động đối với đối tượng. Trong số đó, động từ mang ý nghĩa khiến động
cùng một lúc đòi hỏi danh từ chỉ đối tượng sai khiến và động từ chỉ nội dung
sự sai khiến, như: sai, bảo, khiến, bắt buộc, cho phép, để,
Ví dụ: sai em đi lấy sách,
buộc công nhân thôi việ
c
g. Trần Ngọc Thêm (2006) đã thực sự quan tâm đến cơ chế liên kết
giữa hình thức và nội dung. Sự chú ý đúng mức này được xác lập và giải trình
theo một tầm nhìn khoa học đáng tin cậy. Trong cách xác định cơ chế về mối
liên kết nội dung hình thức nói trên, Trần Ngọc Thêm đã chỉ ra rằng: “Giữa
hai mặt liên kết nội dung và liên kết hình thức có mối quan hệ biện chứng
ch
ặt chẽ: liên kết nội dung được thể hiện bằng một hệ thống các phương thức
liên kết hình thức, và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết
nội dung. Tất nhiên điều đó không có nghĩa là giữa hai mặt này có sự tương

t thuộc phạm vi của tổ
chức diễn ngữ.”
Chúng tôi thấy cách tiếp cận của Hồ Lê và Nguyễn Đức Dân là hướng
đang cần được lưu ý hơn. Cách phân tích lô-gic từ nhiều góc độ của hai tác
giả để chứng minh rằng giữa cấu trúc nhân quả và cấu trúc điều kiện có một
hạt nhân ngữ nghĩa quan hệ nhân quả chung – là rõ ràng, lô-gic, và giàu sức
thuyết phục.
k. Nguyễn Thị Thu Hương (2010) trong lu
ận án Tiến sĩ về Lý luận
ngôn ngữ, với đề tài Cấu trúc gây khiến-kết quả trong tiếng Anh và tiếng Việt,
đã so sánh, đối chiếu, và có các kết luận:
Về mặt ngữ pháp, tiếng Anh có 3 dạng chính là (i) cấu trúc gây khiến-kết
quả hình thái học, (ii) cấu trúc gây khiến-kết quả từ vựng tính và (iii) cấu trúc
13
gây khiến-kết quả cú pháp. Tiếng Việt chỉ có 2 loại cấu trúc gây khiến-kết
quả: (i) cấu trúc gây khiến-kết quả từ vựng tính và (ii) cấu trúc gây khiến-kết
quả cú pháp. Ở dạng chủ động của hai ngôn ngữ, cấu trúc gây khiến-kết quả
đều có các thành tố ngữ nghĩa được mã hóa tương tự nhau về mặt ngữ pháp.
Cấu trúc gây khiến-kết quả chủ động đều có các mô hình cú pháp đ
iển hình là
SVO, S1V1S2V2 và S1VS2A. Tiếng Anh có 12 dạng cấu trúc gây khiến-kết
quả và tiếng Việt có 14 dạng.
Về mặt ý nghĩa, cấu trúc gây khiến-kết quả trong tiếng Anh rộng hơn
tiếng Việt, bao gồm cả các hoạt động cầu khiến. Những biến đổi mang tính
vật lý trong tiếng Anh thường được biểu hiện bằng các cấu trúc gây khiến-kết
quả từ vựng tính, còn trong tiếng Việt các tác động gây khi
ến-kết quả này lại

được nghiên cứu nhiều.

4. Phương pháp và tư liệu nghiên cứu
4. 1. Phương pháp nghiên cứu
a. Chúng tôi thao tác theo hướng lô-gic ngữ nghĩa, dựa vào nguyên tắc
liên thông, không tách rời mối liên hệ giữa ba bình diện lô-gic, ngữ nghĩa,
ngữ pháp.
b. Chúng tôi thường xuyên sử dụng phương pháp miêu tả theo hai
h
ướng: (i) hướng phân tích diễn dịch bằng phân loại thiên về định lượng, (ii)
tổng hợp quy nạp để đúc kết và xác lập mô hình thiên về định tính.
c. Chúng tôi còn đặc biệt tận dụng một phương pháp mang tính chất thủ
pháp: đó là thủ pháp cải biến (transformational operation) – lược bỏ, bổ
sung, thay thế, chêm xen, hoán vị, mô hình hóa – để xử lí sự tương đồng và dị
biệ
t giữa các cấu trúc.
d. Phương pháp So sánh – đối chiếu được chúng tôi sử dụng để làm nổi
bật những nét tương đồng và dị biệt của các phương thức biểu hiện quan hệ
Nhân-Quả (PTBHQHNQ) qua các thể loại văn bản của hai loại hình văn bản
tiếng Anh và tiếng Việt.
4. 2. Tư liệu nghiên cứu
Về văn bản chính luận báo chí, chúng tôi sử dụng nguồn tư liệu hi
ện đại,
chủ yếu là báo chí tiếng Anh, và các bản tin và báo điện tử Thông Tấn Xã Việt
15
Nam (TTXVN) và Thời sự quốc tế-Báo Nhân dân (TSQT-ND) trong vài năm
trở lại đây. Tiêu điểm thông báo được nhấn mạnh là những sự kiện nổi bật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status