Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU HÀ CÁCH BIỂU HIỆN MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ
TRONG CÂU TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Văn Lộc
Thái Nguyên - 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Lộc, người
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo trong Viện Ngôn ngữ học, các
thầy cô giáo Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Khoa
Sau đại học Trường ĐHSP Thái Nguyên đã giảng dạy trong khoá học và tạo
điều kiện, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Hội đồng đã
nhận xét, góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn.
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2008
4.1. Đối tượng nghiên cứu
7
4.2. Phạm vi nghiên cứu
7
4.3. Nguồn ngữ liệu
8
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
8
6. Cái mới và những đóng góp của luận văn
8
7. Bố cục của luận văn
9
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Quan hệ ngữ nghĩa
11
1.1.1. Định nghĩa
11
1.1.2. Đặc điểm của quan hệ ngữ nghĩa
15
1.1.3. Các dạng phổ biến của quan hệ ngữ nghĩa trong câu
15
1.2. Quan hệ cú pháp
16
1.2.1. Định nghĩa
16
1.2.2. Cách biểu hiện quan hệ cú pháp
17
1.2.3. Cách xác định quan hệ cú pháp trong câu
18
2.3.1. Bản chất của các động từ quan hệ làm, khiến
54
2.3.2. Đặc điểm của các động từ quan hệ làm, khiến trong cấu trúc nhân quả
59
2.4. Tiểu kết
70
CHƢƠNG 3: VẤN ĐỀ PHÂN TÍCH NGỮ PHÁP
KIỂU CÂU CÓ Ý NGHĨA NHÂN QUẢ ĐƢỢC BIỂU HIỆN
BẰNG QUAN HỆ TỪ VÀ ĐỘNG TỪ QUAN HỆ
3.1. Vấn đề phân tích ngữ pháp kiểu câu có ý nghĩa nhân quả đƣợc
biểu hiện bằng quan hệ từ
71
3.1.1. Các ý kiến khác nhau về cách phân tích kiểu câu này
71
3.1.2. Ý kiến trao đổi về cách phân tích kiểu câu này
79
3.2. Vấn đề phân tích ngữ pháp kiểu câu có ý nghĩa nhân quả đƣợc
biểu hiện bằng động từ quan hệ
86
3.2.1. Ý kiến của các nhà nghiên cứu về cách phân tích kiểu câu này
86
3.2.2. Ý kiến trao đổi đề xuất
88
3.3. Tiểu kết
90
KẾT LUẬN
92
giáo trình, tài liệu tham khảo phục vụ cho dạy - học ngữ pháp tiếng Việt, góp
phần nâng cao chất lƣợng dạy học.
1.4. Mặc dù mối quan hệ nguyên nhân kết quả là kiểu quan hệ rất phổ
biến, có vai trò quan trọng và việc nghiên cứu nó cần thiết và có ý nghĩa nhƣ
vậy nhƣng đến nay, việc nghiên cứu cách biểu hiện mối quan hệ này trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
câu tiếng Việt chƣa đƣợc các nhà Việt ngữ học thực sự quan tâm. Có thể nói,
đến nay, vẫn chƣa có công trình nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về
quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt.
Vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài Cách biểu
hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt.
2. Lịch sử vấn đề
Khi nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, các nhà nghiên cứu nhƣ
Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn, nhóm tác giả thuộc Ủy ban Khoa học
Xã hội, Đinh Văn Đức, Diệp Quang Ban… ít nhiều có quan tâm đến mối
quan hệ này. Nhƣng phần lớn trong số họ mới dành một mục trong các
chuyên luận ngữ pháp để nói về quan hệ nguyên nhân kết quả, và thƣờng chỉ
đề cập đến một cách khái quát.
2.1. Trong cuốn Ngữ pháp tiếngViệt hiện đại, Hữu Quỳnh đã tiến hành
miêu tả và phân loại các động từ biểu thị mối quan hệ nhân quả, xếp động từ
nhân quả vào nhóm động từ gây khiến. Theo định nghĩa của ông, “động từ
gây khiến giống nhƣ động từ ngoại hƣớng, hoạt động của nó chi phối hoặc
hƣớng vào đối tƣợng nhƣng với ý nghĩa khuyên bảo, cho phép hay ngăn cản
hành động của đối tƣợng”. Động từ gây khiến thƣờng đòi hỏi hai thành tố
phụ: một là danh từ, một là động từ và có khi hai thành tố phụ tạo nên cụm
chủ - vị. Các động từ gây khiến trong danh sách của Hữu Quỳnh, gồm có: để
(cho), khiến (cho), làm (cho), bắt, bắt buộc, cản trở, cho phép, cưỡng bức,
cưỡng ép, dắt, dẫn, dìu dắt, đề nghị, đòi hỏi, cấm, giúp đỡ… [26, 70].
Hữu Quỳnh cũng tiến hành phân loại quan hệ từ mà ông gọi là từ nối.
Từ nối đƣợc ông định nghĩa nhƣ sau: “Từ nối là những từ chỉ các quan hệ ngữ
Ví dụ:
Con chăm học làm cho mẹ rất vui lòng.
Anh thành công khiến em rất vui lòng.
Trong trƣờng hợp này, nòng cốt câu đơn cũng có giá trị tƣơng đƣơng
với danh ngữ và cũng có những cách diễn đạt nhƣ:
Việc anh thành công khiến em rất vui mừng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Anh thành công, điều đó khiến em rất vui mừng.
Trong công trình này, các quan hệ từ đƣợc các tác giả gọi là kết từ. Kết
từ đƣợc chia thành những tiểu loại chính sau đây: a) “Kết từ chính phụ” tức là
kết từ biểu thị quan hệ chính phụ. Đó là những kết từ nhƣ: do, của, để, bởi,
bởi vì, tại, tại vì, mà, từ, đối với… b) “Kết từ liên hợp” tức là kết từ biểu thị
quan hệ liên hợp. Đó là những từ nhƣ: và, với, hay, hoặc, cùng, những, song,
thì… và những từ có thể dùng thành cặp như: nếu… thì, tuy… nhưng, vì… cho
nên, không những… mà còn, càng… càng, vừa… vừa” [45, 91].
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng các tác giả chƣa phân loại, phân tích, miêu tả
động từ biểu thị quan hệ nhân quả và quan hệ từ nhân quả một cách cụ thể,
mà mới chỉ đề cập đến một cách khái quát.
2.3. Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt. Câu, Hoàng Trọng Phiến đã đề
cập đến các khía cạnh biểu hiện của động từ nhân quả và quan hệ từ nhân quả.
Đồng thời, ông đã tiến hành phân loại quan hệ từ khá cụ thể thành các nhóm.
Tác giả đã xếp những câu có chứa động từ khiến vào nhóm câu trung
gian giữa câu đơn và câu ghép, ông gọi đó là sự phức tạp hoá câu đơn, hay
còn gọi là kiểu câu móc xích. Kiểu câu này có mô hình tƣơng ứng nhƣ sau:
D
1
Đ
1
D
2
Hai bổ ngữ (A
1
, A
2
) đều bị chi phối của động từ gây khiến nhƣng
chúng vẫn có quan hệ với nhau. Nếu tách A
1
- A
2
ra thì đó là một kết cấu chủ -
vị có nội dung thông báo, miêu tả hoàn chỉnh, ví dụ: cha mẹ vui lòng, cây cối
xanh tươi. Nhƣ vậy, theo quan điểm của Lê Biên, 2 bổ ngữ của động từ gây
khiến nếu tách riêng ra có thể tạo thành một cụm chủ vị.
Những động từ gây khiến theo Lê Biên gồm: sai, bảo, đề nghị, yêu cầu,
cho, cho phép, khuyên, cấm, ngăn cản, khiến (cho), làm (cho), làm…
2.5. Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã chia động từ
tiếng Việt thành hai lớp: lớp động từ độc lập và lớp động từ không độc lập.
Lớp động từ độc lập là “những động từ biểu thị ý nghĩa quá trình (hành
động hoặc trạng thái). Ý nghĩa quá trình có thể nhận thức đƣợc tƣơng đối rõ,
ngay cả trong trƣờng hợp động từ không có từ khác đi kèm để bổ nghĩa” [1, 96].
Lớp động từ độc lập đƣợc phân chia thành một số nhóm nhỏ, dựa theo
“khả năng kết hợp đƣợc của động từ với một số nhóm phụ từ nhất định và khả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
năng chi phối của động từ đối với những thực từ hay kết hợp từ đi kèm cho
tính chuyên môn” [1, 96]. Động từ quan hệ đƣợc tác giả xếp vào nhóm thứ
hai, tức là nhóm động từ có thực từ đi kèm biểu thị đối tƣợng sai khiến và nội
dung sai khiến. Những động từ này có tên gọi chung là động từ khiên động
thuộc lớp động từ ngoại động.
Những động từ khiên động gồm có: nhờ, bảo, cử, bắt, khiến, yêu cầu…
Ví dụ:
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là cách biểu hiện mối quan hệ nhân
quả trong câu tiếng Việt hiện đại.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung vào 2 phƣơng thức biểu hiện quan hệ nhân quả:
- Cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả bằng phƣơng tiện ngữ pháp
(bằng quan hệ từ)
- Cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả bằng phƣơng tiện từ vựng - ngữ
pháp (bằng động từ quan hệ)
4.3. Nguồn ngữ liệu
Chúng tôi có khoảng 2000 phiếu tƣ liệu ghi các câu có ý nghĩa nhân
quả đƣợc biểu hiện bằng quan hệ từ và động từ quan hệ rút ra từ sách giáo
khoa ngữ văn phổ thông, từ báo chí và các tác phẩm văn học bằng tiếng Việt
(hầu hết là các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp nghiên cứu chủ đạo đƣợc chúng tôi sử dụng trong luận
văn là phương pháp miêu tả.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phƣơng pháp, thủ pháp nghiên cứu
sau đây:
Phương pháp thống kê, phân loại đƣợc chúng tôi áp dụng để thu thập,
xử lí các câu có sử dụng quan hệ từ và động từ quan hệ biểu thị quan hệ nhân quả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Phương pháp đối chiếu, so sánh đƣợc chúng tôi sử dụng để làm nổi
bật những nét tƣơng đồng và khác biệt của các quan hệ, các hiện tƣợng ngữ
nghĩa và ngữ pháp liên quan đến cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả.
Luận văn cũng sử dụng các thủ pháp thử nghiệm nhƣ bổ sung, lƣợc
bỏ, thay thế, cải biến và mô hình hóa để hạn chế sự cảm tính, chủ quan trong
miêu tả các hiện tƣợng ngữ nghĩa, ngữ pháp và để hỗ trợ làm tăng hiệu quả
của các phƣơng pháp trên.
phần câu, khả năng chuyển đổi câu có ý nghĩa nhân quả đƣợc biểu hiện bằng
quan hệ từ thành câu có ý nghĩa nhân quả đƣợc biểu hiện bằng động từ quan
hệ (làm, khiến) và ngƣợc lại; đồng thời phân tích, định loại về mặt cấu trúc
cho câu nhân quả tiếng Việt. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Quan hệ ngữ nghĩa
1.1.1. Định nghĩa
Trong cuốn Ý nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ, Wallace L. Chafe coi
cấu trúc ngữ nghĩa là cấu trúc được tạo xung quanh động từ trung tâm kèm
với các danh từ có quan hệ với nó theo một số hướng. Nhƣ vậy, cấu trúc ngữ
nghĩa chính là quan hệ danh - động. [47, 19]
Trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, nhóm tác giả
cho rằng: “Quan hệ ngữ nghĩa là mối liên hệ (tƣơng quan) từ vựng - ngữ cú
giữa các bộ phận của phát ngôn”. [48, 239]
Tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng quan hệ ngữ nghĩa có 2 loại:
“Quan hệ ngữ nghĩa bậc một, mang tính khái quát cao đƣợc nhiều khoa
học (ngôn ngữ học, triết học, toán học, logic học) quan tâm, nhƣ: quan hệ thứ
tự, quan hệ bao hàm, quan hệ tƣơng tự, quan hệ đồng nhất, quan hệ mâu
thuẫn” [44, 314].
“Quan hệ ngữ nghĩa bậc hai, làm nhiệm vụ cụ thể hoá cho các quan hệ
bậc một. Chẳng hạn, quan hệ thứ tự đƣợc cụ thể hoá thành các quan hệ: định
vị thời gian, trình tự diễn đạt, nhân quả v.v… Quan hệ bao hàm đƣợc cụ thể
hoá thành các quan hệ: giống loài, chung riêng, sở hữu, đặc trƣng…” [44, 314].
Dƣơng Hữu Biên lại coi “quan hệ ngữ nghĩa - chức năng là một trong
hai dạng quan hệ cơ bản giữa một vị từ và các đối tố của nó”. Theo đó, tác giả
cũng xác định “quan hệ ngữ nghĩa - chức năng là quan trọng bởi nó chiếm giữ
đây nhƣng có sự điều chỉnh về tên gọi cho quen thuộc và dễ hiểu hơn, chúng
tôi phân biệt câu ở bình diện giao tiếp (tâm lý), bình diện cú pháp và bình
diện nghĩa sâu (logic).
Ở bình diện giao tiếp, câu là một đơn vị thông báo (một thông điệp)
đƣợc dùng trong những tình huống nói năng cụ thể. Phân tích câu về mặt giao
tiếp chính là xác định đề ngữ - điểm xuất phát của thông báo và thuyết ngữ -
phần còn lại của câu có chức năng thuyết minh về đề ngữ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Về mặt cú pháp, câu là đơn vị đƣợc tạo thành từ sự kết hợp giữa các từ
theo những quan hệ cú pháp nhất định. Phân tích câu về mặt cú pháp là xác
định các thành phần cú pháp của câu nhƣ chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng
ngữ…; các quan hệ ngữ pháp nhƣ quan hệ chính phụ, quan hệ đẳng lập, quan
hệ chủ vị; các kiểu câu phân theo cấu trúc cú pháp cơ bản nhƣ câu đơn, câu
ghép, hoặc các kiểu câu phân theo đặc trƣng hình thức và chức năng thực hiện
hành vi ngôn ngữ nhƣ câu nghi vấn, câu cầu khiến… [30, 39].
Về mặt nghĩa sâu, câu là một cấu trúc gồm các thành tố ngữ nghĩa nằm
trong mối quan hệ nhất định phản ánh trực tiếp sự kiện, hiện tƣợng trong hiện
thực khách quan. Phân tích câu về mặt nghĩa sâu là xác định hạt nhân ngữ
nghĩa của câu (biểu thị các sự tình) và các tham tố ngữ nghĩa của bậc nghĩa
sâu (biểu thị các thực thể tham gia vào các sự tình).
Theo Nguyễn Văn Lộc, trong việc phân tích mặt ý nghĩa của các thành
phần câu (nghĩa của các thực từ trong câu), vấn đề khó khăn, phức tạp nhất là
xác định bản chất và ranh giới các ý nghĩa cụ thể. Đến nay, bản chất của các
nghĩa cú pháp kiểu nhƣ chủ thể, đối thể, công cụ, nguyên nhân… chƣa đƣợc
hiểu thống nhất và chƣa đƣợc xác định rõ ràng. Trong các công trình ngữ
pháp, các kiểu nghĩa trên đƣợc đồng nhất với phạm trù nghĩa sâu đƣợc xác
định trên cơ sở cấu trúc sâu theo cách hiểu của Ch.Fillmore. Theo quan niệm
này thì những cấu trúc kiểu nhƣ: (1) Malchik bezyt (Cậu bé đang chạy) và (2)
Beg malchika (Sự chạy của cậu bé) sẽ nằm trong một lƣợc đồ ngữ nghĩa
chung, trong đó từ “machik” luôn có ý nghĩa chủ thể hoạt động. Nhƣng nếu
xác định trong mối quan hệ giữa các từ vựng của từ và không có hình thức
ngữ pháp riêng để biểu thị. [35]
Từ những ý kiến luận giải về nghĩa sâu trên đây, chúng tôi rút ra quan
niệm của mình về cấu trúc ngữ nghĩa và quan hệ ngữ nghĩa nhƣ sau: Cấu trúc
ngữ nghĩa của câu (cấu trúc chìm, cấu trúc sâu) đƣợc phân biệt với cấu trúc cú
pháp (cấu trúc nổi) ở chỗ: cấu trúc ngữ nghĩa của câu là cấu trúc biểu thị mối
quan hệ ngữ nghĩa (quan hệ nghĩa sâu theo cách hiểu trên) giữa các từ, tổ hợp
từ trong câu. Vậy, quan hệ ngữ nghĩa là mối quan hệ về mặt nghĩa sâu giữa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
các từ, tổ hợp từ trong câu phản ánh trực tiếp quan hệ giữa các sự vật, hiện
tƣợng trong hiện thực khách quan.
1.1.2. Đặc điểm của quan hệ ngữ nghĩa
- Quan hệ ngữ nghĩa phản ánh trực tiếp mối quan hệ giữa các sự vật, sự
kiện, hiện tƣợng trong thực tế khách quan. Nó khác với quan hệ cú pháp chỉ
trực tiếp phản ánh mối quan hệ giữa các từ.
- Khác với quan hệ cú pháp luôn có hình thức cú pháp riêng để biểu thị,
quan hệ ngữ nghĩa không bắt buộc phải có hình thức cú pháp riêng để biểu
thị. Chẳng hạn, quan hệ ngữ nghĩa nhân quả trong câu tiếng Việt có thể biểu
hiện dƣới các hình thức cú pháp là các cấu trúc có động từ quan hệ hoặc các
cấu trúc có quan hệ từ nhân quả kiểu nhƣ:
Sự ra đi của anh khiến mẹ lo lắng. (bằng động từ quan hệ “khiến”)
Vì sự ra đi của anh nên mẹ lo lắng. (bằng quan hệ từ “vì…nên”)
1.1.3. Các dạng phổ biến của quan hệ ngữ nghĩa trong câu
- Quan hệ chủ thể - hành động: Nam đọc. Mẹ về. Nó chạy…
- Quan hệ hoạt động - đối tƣợng: đọc sách. đập đá…
- Quan hệ hoạt động - công cụ: ăn bằng đũa. liên lạc bằng điện thoại…
- Quan hệ sở hữu: tiền của tôi. sách của Nam…
- Quan hệ nguyên nhân - kết quả: chết vì bệnh. sống nhờ bạn…
1.2. Quan hệ cú pháp
1.2.1. Định nghĩa
Trong tiếng Việt, trật tự từ là phƣơng thức quan trọng nhất. Điều này
thể hiện ở chỗ mỗi kiểu cấu trúc cú pháp tiếng Việt thƣờng đƣợc đặc trƣng
bởi một kiểu trật tự từ nhất định. Chẳng hạn, theo qui tắc, cấu trúc chủ vị
trong tiếng Việt có trật tự C - V (chủ - vị) còn cấu trúc chính phụ có trật tự C -
P (chính - phụ). Sự thay đổi trật tự trên đây sẽ phá vỡ hoặc làm thay đổi bản
chất cấu trúc (so sánh: tôi hỏi và hỏi tôi, xây nhà và nhà xây). Mô hình câu
đơn của tiếng Việt ở dạng điển hình là C - V vốn có tính cố định cao. Trong
khi đó, đối với các ngôn ngữ biến hình trật tự lại tƣơng đối tự do.
- Quan hệ từ (từ nối, kết từ)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Về ngữ pháp, sự có mặt hay vắng mặt của hƣ từ có thể làm thay đổi bản
chất cú pháp của câu. Chẳng hạn, trong câu Trước nguy cơ Tổ quốc bị xâm
lược đã buộc nhân dân ta phải cầm vũ khí chiến đấu sự có mặt của trước đã
làm cho câu sai ngữ pháp.
Về ngữ nghĩa, hƣ từ có tác dụng phân biệt hay làm rõ mối quan hệ ngữ
nghĩa giữa các thực từ. So sánh: gà mẹ khác với gà của mẹ.
- Ngữ điệu
Vai trò quan trọng của ngữ điệu trong cú pháp tiếng Việt thể hiện ở tác
dụng của nó trong việc phân biệt các kiểu cấu trúc cú pháp. Chẳng hạn, nhờ
ngữ điệu (trên văn bản đƣợc biểu hiện bằng dấu câu) mà ta phân biệt đƣợc
cấu trúc chính phụ với cấu trúc đẳng lập trong trƣờng hợp nhƣ: anh tôi (chính
phụ); anh, tôi (đẳng lập). Ngữ điệu cũng giúp cho việc phân biệt cấu trúc
chính phụ với cấu trúc chủ vị. Chẳng hạn, trong Cậu học sinh đang xem ti vi
là em tôi thì “cậu học sinh đang xem ti vi” là cấu trúc chính phụ với yếu tố
phụ “đang xem ti vi” đƣợc phát âm nhẹ hơn và liền với trung tâm “cậu học
sinh”; còn trong Lúc ấy, cậu học sinh vẫn đang xem ti vi thì cậu học sinh vẫn
đang xem ti vi là cụm chủ vị với vị ngữ đang xem ti vi đƣợc phát âm nhấn
mạnh hơn và tách biệt rõ rệt khỏi chủ ngữ.
1.2.3. Cách xác định quan hệ cú pháp trong câu
Tính chất của mối quan hệ cú pháp giữa các từ (các thành tố cú pháp)
cấu trúc trong mối quan hệ cú pháp với các thành tố bên ngoài sẽ đƣợc coi là
thành tố có vai trò chính xét về mặt quan hệ bên ngoài.
Bước 3: Xác định vai trò của các yếu tố trong cấu trúc dựa đồng thời
vào vai trò bên trong lẫn vai trò bên ngoài.
Trong hai thành tố của cấu trúc, thành tố nào có vai trò chính cả trong
mối quan hệ bên trong lẫn quan hệ bên ngoài sẽ đƣợc coi là thành tố chính
của cấu trúc.
Theo nguyên tắc trên đây, có thể xác định trong tiếng Việt hai kiểu
quan hệ cú pháp cơ bản và hai kiểu cấu trúc cú pháp tƣơng ứng:
+ Quan hệ đẳng lập: sách và báo. ăn và ngủ…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Trong những cấu trúc kiểu này, mỗi thành tố về hình thức đều có khả
năng thay thế bằng từ nghi vấn (Sách và gì? Gì và báo?), còn về nội dung,
không thành tố nào bổ sung ý nghĩa cho thành tố nào. Trong quan hệ với các
yếu tố ngoài cấu trúc, mỗi thành tố đều có khả năng đại diện cho cả cấu trúc.
Nhƣ vậy, các thành tố trong kiểu cấu trúc này có vai trò ngang nhau. Kiểu
quan hệ trong các cấu trúc này có thể gọi là quan hệ đẳng lập hay quan hệ
bình đẳng.
+ Quan hệ chính phụ (quan hệ phụ thuộc một chiều): bàn gỗ. đọc sách.
giỏi văn…
Trong những cấu trúc kiểu này, các thành tố đứng sau (gỗ, sách) là các
thành tố phụ vì về nội dung, chúng đều bổ sung ý nghĩa cho các từ đứng trƣớc
(gỗ bổ sung cho nhà ý nghĩa về chất liệu, sách bổ sung cho đọc ý nghĩa đối
thể); về hình thức, chúng đều có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn (ví dụ:
Nhà gì? Đọc gì?). Các thành tố này cũng không có khả năng chi phối bản chất
ý nghĩa và tổ chức hình thức của cấu trúc.
Trong mối quan hệ với các yếu tố bên ngoài, các thành tố này hoàn
toàn không có khả năng đại diện cho cả cấu trúc. Các thành tố đứng trƣớc có
đặc điểm hoàn toàn trái ngƣợc với các thành tố vừa nhận xét là các thành tố
chính của cấu trúc. Kiểu quan hệ trong các cấu trúc này có thể gọi là quan hệ
nội bộ cấu trúc. Về hình thức, mỗi thành tố trong cấu trúc đều có khả năng
thay thế bằng từ nghi vấn (Ví dụ: Ai về? Ai ngủ? Vì sao đường trơn? Vì trời
mưa nên thế nào?). Về nội dung, mỗi thành tố trong cấu trúc đều có tác dụng
nêu đặc điểm ý nghĩa cho thành tố kia (ở cấu trúc chủ vị, chủ ngữ bổ sung cho
vị ngữ ý nghĩa chủ thể hoạt động hay kẻ mang đặc điểm của sự vật do danh từ
hay đại từ làm chủ ngữ biểu thị, còn vị ngữ nêu hoạt động hay đặc điểm của
sự vật do chủ ngữ biểu thị). Tuy nhiên, nếu xem xét những cấu trúc trên đây
theo mối quan hệ ngoài cấu trúc thì có thể nhận thấy ở kiểu cấu trúc này lại có
tính chất chính phụ khá rõ trong đó vai trò chính thuộc về thành tố thứ hai (vị
ngữ trong cấu trúc chủ vị và thành tố chỉ kết quả trong quan hệ đối ứng) vì chỉ
các thành tố này mới có khả năng đại diện cho cả cấu trúc trong mối quan hệ
với bên ngoài.