phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả trong văn bản tiếng anh và tiếng việt - Pdf 23


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN VĂN THÀNH PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN QUAN HỆ NHÂN QUẢ
TRONG VĂN BẢN TIẾNG ANH
VÀ TIẾNG VIỆT
N NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH - ĐỐI CHIẾU
MÃ SỐ: 62.22.01.10

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ V
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH. TRẦN NGỌC THÊM
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường
họp tại:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Vào lúc: …… giờ…… ngày …… tháng …… năm ……


và thực hành các kỹ năng theo các nội dung/chủ đề trong các thể loại
văn bản.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu cấu trúc nhân quả trong tiếng Anh
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học như: M.A. Halliday (1976, 2004),
L. Alterberg (1984), E. Sweetser (1990), J. Haiman (1986), R.
Jackendoff (1995), J.J. Song (1996), A.E. Golberg (2001), C. Khoo and
others (1999, 2002), R. Girju (2003), N. Kwon (2004), R. Mulkar-
Mehta (2011), … đã nghiên cứu về các phạm vi ngôn ngữ khác nhau:
liên kết văn bản, cấu trúc nhân quả trong các loại văn bản khoa học tự
nhiên như sinh học, y khoa, … hoặc các lý thuyết về quan hệ nhân quả
trong văn bản, đặc biệt là về động từ gây khiến (causal verbs). Theo
Halliday (2004), quan hệ nhân quả thể hiện rất nổi bật, với tư cách là
một tác nhân liên kết, trong nhiều thể loại văn bản, một số tác tố thể
hiện quan hệ nhân quả một cách tổng quát, một số thể hiện rất cụ thể
một kết quả, lý do, hoặc mục đích. (In many types of discourse the
relation of cause figures very prominent as a cohesive agent. Some
cause expressions are general, others relate more specifically to result,
reason or purpose.) 2

2.2. Tình hình nghiên cứu cấu trúc nhân quả trong tiếng Việt
Ở Việt Nam, ngữ pháp văn bản, sự liên kết của hai mối quan hệ
nguyên nhân-hệ quả và điều kiện-hệ quả bắt đầu được một số nhà
nghiên cứu Việt Nam quan tâm, như Hoàng Trọng Phiến (1980), các tác
giả thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1983), Trần Ngọc Thêm
(1985), Cao Xuân Hạo (1991), Hồ Lê (1992), Diệp Quang Ban (1996),
và Nguyễn Đức Dân (1998); Lê Thị Minh Hằng (2005), Nguyễn Khánh

(tường minh hoặc ngầm ẩn). 3

b. Về nội dung, đối tượng được chú ý là các hình thái cấu trúc ngôn
ngữ khác nhau có thể dùng để thể hiện câu lô-gic nhân quả.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án giới hạn vào nghiên cứu cấu trúc lô-gic nhân quả có dùng
hoặc không dùng tác tố liên kết. Từ nguyên tắc một chức năng có thể
được thể hiện thông qua nhiều hình thái, chúng tôi tạm phân chia làm ba
loại hình thái (gắn liền với ba phương thức liên kết khác nhau) dùng để
thể hiện cấu trúc nhân quả: a. loại dùng tác tố trong suốt, b. loại dùng
tác tố mờ đục, và c. loại dùng tác tố zero. Đề tài không nghiên cứu về
các động từ gây khiến (causal verbs).
5. Cái mới và ý nghĩa khoa học
Về lí thuyết:
a. Nhận dạng vấn đề chuyển hóa nghĩa một cách tương đối có quy
luật từ ba bình diện lô gic–ngữ nghĩa-cú pháp trong mối liên hệ với hiệu
lực giao tiếp
b. Làm rõ chức năng lô-gic ngữ nghía qua hiệu lực giao tiếp để
nhận ra đích thực hơn thế nào là cơ chế ngữ pháp – ngữ nghĩa (trong
mối quan hệ với ngữ pháp cấu trúc) theo cách nhìn hiện nay của ngôn
ngữ học tri nhận.
c. Xác định tính liên kết nội dung-hình thức không tách rời với định
hướng tạo nghĩa trong giao tiếp thông qua cơ chế chức năng–hình thái
theo quy luật: một nội dung có thể được thể hiện thông qua nhiều hình
thái, và một hình thái nhất định có thể thể hiện cho nhiều nội dung để
mở ra một hướng xử lí mới biện chứng hơn về mối quan hệ giữa nội
dung–hình thức.

6. 2. Tư liệu nghiên cứu
Về văn bản chính luận báo chí, chúng tôi sử dụng nguồn tư liệu hiện
đại, chủ yếu là báo chí tiếng Anh, và các bản tin và báo điện tử Thông
Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) và Thời sự quốc tế-Báo Nhân Dân (TSQT-
ND) trong vài năm trở lại đây. Chúng tôi cũng khảo sát thêm văn bản
chính luận qua bài phê bình điện ảnh Đừng Đốt của nhà văn Chu Lai.
Về văn bản truyện ngắn tiếng Anh, chúng tôi sử dụng văn bản
truyện ngắn The Last Leaf (Chiếc lá cuối cùng/CLCC) của nhà văn Mỹ
O. Henry (1862-1910). Văn bản tiếng Anh, được dịch đối chiếu ra tiếng
Việt năm 1980. Về văn bản truyện ngắn tiếng Việt, chúng tôi chọn
truyện ngắn Khói trời lộng lẫy của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Bên cạnh
Khói trời lộng lẫy, và trong truyện ngắn Má Hồng của nhà văn Nguyễn
Khải.
Về thơ ca, chúng tôi chọn năm bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Anh,
Lord Byron (1788-1824), được thế giới nhắc đến nhiều. Trong thơ ca
tiếng Việt, chúng tôi chọn Truyện Kiều của Nguyễn Du (1765-1820),
một nhà thơ xuất hiện ở thời điểm tương đồng với Lord Byron.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục các
bảng, ngữ liệu khảo sát, tài liệu tham khảo, danh mục các công trình đã
công bố, phụ lục, luận án gồm 4 chương chính.
5

CHƯƠNG 1

vi đối tượng khác nhau, và thể hiện theo nhiều đặc trưng phong cách
diễn ngôn qua nhiều thể loại văn bản khác nhau.
c. Khi nhận dạng phương thức biểu hiện nhân quả như những phổ
niệm được mã hóa trong văn bản tiếng Anh và tiếng Việt, ta không thể
không lưu ý đến sự vận dụng các cung bậc tri giác khác nhau trong quá
trình diễn ngôn. Tại đây, có loại tương tác giữa P và Q được xác lập theo
hướng tri nhận trực quan để miêu tả trực tiếp hiện thực theo hướng trần 6

thuật; có loại được xác lập thiên về lí trí mang tính đúc kết quá trình trải
nghiệm; có loại được xác lập theo hướng biểu cảm, giải trình lô-gic
thông qua hình tượng trong diễn ngôn nghệ thuật.
d. Nhưng dù qua tiếng Anh hay tiếng Việt, và dù ở cung bậc tri giác
nào, cuối cùng nó phải được phân tích và chứng minh bằng lập luận về
sự hiện diện và tương tác giữa P và Q theo nguyên tắc: Nếu không cảm
thụ đúng thì không có quá trình lí giải đúng; và quá trình lí giải đúng về
mặt lô-gic không thể tách rời với quá trình cảm thụ đúng về mặt đặc
trưng tạo nghĩa của nguồn liệu văn chương thông qua hiệu lực giao
tiếp.
e. Dù với phương thức liên kết nào, và dù qua văn bản báo chí,
truyện ngắn hay thơ trong tiếng Anh hoặc tiếng Việt, tương tác P-Q đều
được nhận dạng qua cơ chế hoạt động liên thông giữa phạm trù từ vựng
ngữ nghĩa với tính liên kết cú pháp và tính tiền giả định từ tiền đề bối
cảnh để xác lập hiệu lực giao tiếp. Như vậy, vấn đề chức năng lô-gic
ngữ nghĩa được quan tâm ở đây không thể tách rời với hiệu lực giao
tiếp. Vì chỉ khi nào nghĩa của từ biểu lộ thành hiệu lực giao tiếp trong
tính hiện thực của nó thì ngôn ngữ mới thực sự trở thành công cụ giao
tiếp trong ý nghĩa cụ thể và đầy đủ nhất của nó.

(cấu trúc nhân quả)
3
If / As long as John takes pain, he will have gain (T3)
Nếu / hễ ở hiền thì gặp lành (T3)
(cấu trúc điều kiện)
4
No pain, no gain (T4)
Ở hiền gặp lành (T4)
(cấu trúc tục ngữ)
Bảng 1.1. Trình tự lô-gic của hoạt động nhận thức
Qua cách thao tác lô-gic ngữ nghĩa trong cơ chế tương tác hình thái
- chức năng, bước đầu chúng tôi có thể nhận ra:
a. Chỉ khi nào hiểu được sự chuyển hóa bên trong giữa câu điều
kiện và câu nhân quả trong đơn vị tục ngữ thì mới nhận ra đầy đủ cơ chế
hình thành ngữ nghĩa dưới dạng hình thái bị rút gọn của tục ngữ – mặc
dù các tác tố lập luận chỉ nhân quả và chỉ điều kiện bị rút gọn, nhưng
lô-gic ngữ nghĩa của sự khuyến cáo được tích hợp từ câu nhân quả và
câu điều kiện ở đây vẫn được bảo lưu.
b. Khi xét tương tác giữa bình diện chức năng lên bình diện hình
thái, nếu so sánh với những nghiên cứu ở tiếng Anh về phương diện này,
ta thấy hình thái thể hiện lô-gic nhân quả được nghiên cứu mở rộng.
1.3. Điều kiện để xác định quan hệ nhân-quả
Hai nhà tâm lí học T. Trabasso, P. van den Broek, (1985) đã đề nghị
bốn tiêu chuẩn có tính chất nguyên tắc (principal criteria) – về thực
chất, đây là bốn điều kiện thực tế để cho sự kiện là nguyên nhân đủ chân
thực để tạo ra hệ quả chân thực – để thiết lập một sự nối kết nhân-quả
giữa hai sự kiện thực tế, và đã được nhà nghiên cứu Diệp Quang Ban
dẫn lại như sau:
– Tính ưu tiên về thời gian (temporal priority)
– Tính còn hiệu lực (operativity)

Khi lấy văn bản làm đối tượng khảo sát PTLKNQ, chúng tôi thực sự
quan tâm đến hoạt động tạo nghĩa từ thế mở của văn bản định hướng
vào hiệu lực giao tiếp (không tách rời nghĩa chủ đề và nghĩa ngữ dụng).
Đối với chúng tôi, tiếp cận văn bản là nói đến sự chú ý hai mặt: (a) bản
chất mở của hoạt động ngôn ngữ trong văn bản, (b) không tách rời với
hướng tạo nghĩa gắn liền với hiệu lực giao tiếp từ cảm thụ của người
tiếp nhận.
1.5.3. Tiêu chí xác định phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả
dùng tác tố zero
Sự nối kết các vế câu nhân quả với vế câu chỉ hệ quả trong trường
hợp không dùng tác tố đòi hỏi:
– Trật tự vế câu: vế câu chỉ nguyên nhân/điều kiện phải đứng trước.
– Mối quan hệ nghĩa giữa hai vế câu phải “phi cân xứng” theo
hướng giúp có thể nhận ra tính riêng của quan hệ nhân quả, kể cả tính
tương phản (phân biệt được với quan hệ thời gian, mục đích, v.v ).
– Cảm nhận ẩn dụ nhân quả. 9

1.6. Các kiểu cấp độ liên kết biểu hiện quan hệ nhân quả
1. Liên kết ở cấp độ liên ngữ
2. Liên kết ở cấp độ liên cú
3. Liên kết ở cấp độ liên câu
1.7. Tiểu kết
Giao thoa giữa câu nhân quả và điều kiện là môi trường tốt nhất để
nhìn ra sự hình thành lô-gic ngữ nghĩa qua tương tác giữa phạm trù chức
năng – hình thái một cách có cơ chế. Vấn đề mang tính thời sự này cũng
chính là tiền đề rất cơ bản có thể giúp xác định, phân loại và lí giải các
dạng cấu trúc thể hiện quan hệ nhân quả trong luận án.

10

a. Phương thức biểu hiện với đại từ hồi chỉ This + động từ
b. Phương thức biểu hiện bằng phép lặp chủ đề mới với so
2.2.2. Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố mờ đục
Chúng ta cũng thường gặp trong văn bản một dạng tương tác nhân
quả có yếu tố chỉ dẫn quan hệ liên kết nhưng sự chỉ dẫn ở đây không
được tường minh. Phần lớn trường hợp trên là những nhân tố thuộc
phạm trù giới từ chỉ quan hệ thời gian, quan hệ không gian, quan hệ
sở hữu (chẳng hạn như from, before, after, when, whenever, where,
under, with, of,…).
2.2.2.1. Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả ở cấp độ liên ngữ (cú-
ngữ)
(43) The elderly also face special harm from smoking.
(Người lớn tuổi cũng đối mặt với nguy hại đặc biệt vì khói.)
2.2.2.2. Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả ở cấp độ liên cú (cú-
cú)
(46) A 53-year-old North York man died Thursday afternoon when
the car he was driving struck a rock cut on Highway 401 and rolled
several times… (Một người đàn ông 53 tuổi vùng North York đã chết
vào tối thứ Năm vì chiếc xe mà ông ta lái đã đâm sầm vào một tảng đá
trên Xa lộ 401 và văng ra vài vòng…)
2.2.3. Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố zero
2.2.3.1. Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả thông qua tương liên
về nghĩa
Theo Mann và Thompson (1986): Một vài quan hệ giữa các thành
phần của văn bản là không được nhận thấy, vì thế chúng ta phải suy
diễn từ quan hệ ý nghĩa của phát ngôn được đề cập.
(51) In the early evening of October 21, 1974, the 93,000 tons dwt
tanker Universe Leader began taking on a cargo of crude oil at Gulf’s

So, to quaint old Greenwich Village the art people soon came
prowling,….
(…. Một họa sĩ đã từng phát hiện được một cơ hội quý báu trên khu
phố….
Vì thế, các nghệ nhân lặng lẽ đổ về khu phố cổ hấp dẫn Greenwich
Village,….)
2.3.2. Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố mờ đục
2.3.2.1. Liên kết nhân quả ở cấp độ liên ngữ (cú-ngữ, ngữ-cú)
(62) With good nursing, you'll win.
(Nhờ chăm sóc chu đáo, cô sẽ thắng.)
2.3.2.2. Phương thức biểu hiện nhân quả ở cấp độ liên cú (cú-cú)
(63) When the last one falls, I must go, too…
(Khi chiếc lá cuối cùng rụng thì em phải ra đi…)
2.3.3. Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố zero
2.3.3.1. Lô-gic ngữ nghĩa P-Q được xác lập theo hướng siêu hình
(67) It is the last one…”I thought it would surely fall during the
night. I heard the wind. It will fall today and I shall die the same time”.
(Chiếc lá cuối cùng… Em nghĩ là thế nào đêm qua nó cũng rụng.
Em nghe thấy tiếng gió thổi. Hôm nay nhất định nó lìa cành và em cũng
sẽ lìa đời…)
(Vì nghe) Gió thổi (P) + Lá rụng (Q)
2.3.3.2. Lô-gic ngữ nghĩa P-Q được xác lập theo hướng hiện thực 12

(70) Behrman was a failure in art. Forty years he had wielded the
brush without getting near enough to touch the hem of his Mistree’s
robe.
(Behrman là kẻ thất bại trong nghệ thuật (P). Bốn mươi năm trời

But wear the chain. Q
Vì tình yêu quyến rũ phi thường,
Ta mãi làm nô lệ.
13

2.5. Tiểu kết
1) Văn bản báo chí tiếng Anh có đầy đủ ba phương thức thể hiện lô-
gic nhân quả: tác tố trong suốt (chiếm tỷ lệ cao nhất), tác tố mờ đục, và
tác tố zero.
2) Văn bản truyện ngắn CLCC có đủ ba phương thức thể hiện nhân
quả. Nổi bật ở đây là sự xuất hiện nhiều dạng cấu trúc nhân quả thể hiện
bằng giọng điệu tình thái (qua lời thoại của chính nhân vật) nằm sâu
trong các tiền giả định liên quan đến chủ đề.
3) Văn bản thơ của Byron, qua 5 lần tác giả sử dụng when, chúng
tôi có cảm nhận rằng: các sự kiện xảy ra trong thời điểm when thì vấn đề
thời điểm không phải là nguyên nhân bên ngoài, mà thực chất có thể
hiểu đó là nguyên nhân bên trong.

CHƯƠNG 3
PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN QUAN HỆ NHÂN QUẢ
TRONG VĂN BẢN TIẾNG VIỆT
3.1. Tiểu dẫn
Khi đi vào phân tích các phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả,
chúng tôi nhận diện sự chuyển hóa liên thông từ cấu trúc lên bề mặt với
những xác định như sau:
a. Khi quan tâm sự hình thành cấu trúc lô-gic nhân quả trong mối
quan hệ với cấp độ, xét góc độ hình thái (từ nguyên tắc một chức năng

3.2.2. Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố mờ đục
Loại phương thức thông qua tác tố mờ đục nầy có thể chia ra nhiều
loại: (1) loại giới ngữ chỉ điều kiện, (2) loại hệ từ là, (3) loại từ phụ định
hướng hành động như để, để…phải, nhằm,…(4) loại động từ gây khiến
như thành, trở thành, trở nên, tạo nên, tạo ra, tạo thành, hướng tới, góp
phần, phát triển thành, xuất phát từ, v.v…
3.2.2.1. Liên kết nhân quả ở cấp độ liên ngữ (ngữ-ngữ, ngữ-cú, cú-ngữ)
(96) …Cuộc khủng hoảng nợ của EU và tình trạng bế tắc trong
chính sách tài chính của chính quyền Mỹ (P) làm chệch hướng đà phục
hồi kinh tế Mỹ (Q).
3.2.2.2. Liên kết nhân quả ở cấp độ liên cú (cú-cú)
(110) … Nga cáo buộc Mỹ can thiệp nội bộ của Nga (P) khi Oa-
sinh-tơn chỉ trích dự luật mà Hạ nghị viện Nga vừa thông qua về kiểm
soát chặt chẽ các tổ chức phi chính phủ do nước ngoài tài trợ (Q).
3.2.2.3. Cấu trúc quan hệ nhân quả ở cấp độ liên câu (câu-câu)
(117) … Nhật Bản viện trợ Cu Ba lô máy nông nghiệp trị giá 3
triệu USD (P). Với sự giúp đỡ này, (Q) Cu Ba tin tưởng sẽ tăng năng
xuất sản xuất lương thực, qua đó giảm lượng gạo nhập khẩu vốn tiêu
tốn 2000 triệu USD/năm.
3.2.3. Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố zero
Cấu trúc nhân quả về bản chất là dạng cấu trúc lô-gic ngữ nghĩa.
Thông qua tiếng Việt không biến hình, loại cấu trúc này thường được
mở rộng trong cách sử dụng của người Việt. Mặt khác, với phong cách
diễn ngôn báo chí (vốn không đi quá sâu vào quá trình lí giải sự kiện,
mà tiêu điểm chủ yếu là thông báo sự kiện), cho nên ở thể loại này xuất
hiện khá nhiều dạng cấu trúc nhân quả không có sự chỉ dẫn trực tiếp của
tác tố nhân quả. 15

(147) Tôi ghét Lam cha mẹ đầy đủ, thậm chí còn dư mấy má nhỏ ở
quận hai.
Q P P
Q  P1 + P2
Hình 3.5. Mô hình liên kết 1Q – nhiều P trong văn xuôi văn học
3.3.3.2. Phương thức biểu hiện nhân quả ở cấp độ lặp QP- QP
(148) Tôi ghét cái đầu tóc hất ngược bồng bềnh, ghét luôn nước da
trắng.
Q P Q P 16

Q  P, Q  P
Hình 3.6. Mô hình liên kết ngược theo cặp QP - QP
3.4. Các phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả trong văn bản
thơ Truyện Kiều
Trong số 50 cấu trúc có tác tố lập luận được khảo sát, 6 trường hợp
xuất hiện có sự đối ứng tác tố trực tiếp giữa hai vế P và Q. Và do áp lực
từ phong cách diễn đạt của thể loại thơ, nên trong 6 trường hợp trên
không có trường hợp nào xuất hiện đầy đủ hai yếu tố bởi vì cho nên
Tuy nhiên, dù tác tố lập luận xuất hiện đủ với cả hai vế hay chỉ trên
một vế, ta đều có thể cảm nhận được tương tác lô-gic giữa P và Q.
3.4.1. Phương thức biểu hiện nhân quả dùng tác tố trong suốt
3.4.1.1. Phương thức biểu hiện nhân quả ở cấp độ liên ngữ (ngữ-ngữ)
(149) Thương vì hạnh, trọng vì tài.
3.4.1.2. Phương thức biểu hiện nhân quả ở cấp độ liên cú (cú-cú)
(152) Vì ai rụng cải rơi kim (P)
Để con bèo nổi mây chìm vì ai (Q)
3.4.1.3. Phương thức biểu hiện nhân quả ở cấp độ liên câu (câu-câu)

Do vậy, vấn đề đặt ra với chúng tôi là phải quy những ẩn dụ cụ thể
mang tính hình tượng về với khái niệm trừu tượng để tạo ra sự tương
đồng trên cung bậc tri nhận giữa P và Q theo tương tác lô gic “bởi vì
yêu nhau nên phải vượt khó khăn”
P Q
Ý niệm Ẩn dụ
Hình 3.7. Mô thức hai vế P-Q
Đây là mô thức của một loại hình nhân quả tiêu biểu cho đặc trưng
nghệ thuật văn chương. Nó làm cho chúng ta thấu đáo hơn trong cách
nhận dạng và xác định thế nào là nghĩa tình thái, thế nào là nghĩa liên
hội, và đặc biệt thế nào là cách tạo nghĩa hàm ẩn theo hướng hàm nghĩa
chủ đề (thematic implicature) - vốn dĩ là đặc trưng cốt lõi trong nghệ
thuật văn chương.
3.5. Tiểu kết
Nghiên cứu cấu trúc nhân quả trong tiếng Việt không biến hình,
chúng tôi thấy rằng, lô-gic nhân quả được nhận diện bằng con đường tạo
nghĩa dưới ba dạng hình thái: dạng có tác tố trong suốt; dạng tác tố
mờ đục; và dạng không có tác tố. Đồng thời, đến lượt nó, dạng cấu
trúc nhân quả có tác tố được nhận diện theo nhiều cấp độ liên kết cú
pháp khác nhau (ngữ, cú, câu).

CHƯƠNG 4
SO SÁNH–ĐỐI CHIẾU CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN
QUAN HỆ NHÂN QUẢ TRONG VĂN BẢN
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
4.1. Tiểu dẫn
Khi nghiên cứu PTBHQHNQ dù trong tiếng Anh hay tiếng Việt, ta
không thể không lưu ý đến sự vận dụng các cung bậc tri giác khác nhau
trong cách diễn ngôn theo đặc tính văn bản. Với thể loại báo chí chẳng
hạn, loại tương tác giữa P và Q dễ nhận biết, vì chủ yếu nó được xác lập

Because
Vì …, nên
Vì…, …

Bởi (vì) …, (cho) nên …
Do (vì) …, (cho) nên …
Tại (vì) , (cho) nên/ mà/ do đó

As
Nhận thức & hoạt động ngôn
từ

Since Vì , nên
Vì ,
Hình 4.3. Mô hình các cặp tác tố chỉ dẫn nhân quả trong tiếng Anh và
tiếng Việt 19

4.3.2. Các điểm tương đồng và dị biệt giữa các tác tố mờ đục biểu

như sau: 2/14 dùng tác tố trong suốt; 6/14 dùng tác tố mờ đục; 6/14
dùng tác tố zero. Cấp độ liên kết: 13 liên cú/ngữ; 1 liên câu.
Đối tượng cụ thể trong văn bản tiếng Việt
a. Văn bản chính luận báo chí
Qua 32 bài của thể loại này, tương tác nhân quả phần lớn được xác
lập chủ yếu theo hướng trần thuật khách quan với 32 cấu trúc, chia
làm 3 dạng: 12/32 có tác tố; 24/32 tác tố mờ đục; 6/32 tác tố zero. Trong 20

số này có nhiều dạng gắn liền với đặc điểm biến hình của tiếng Anh mà
tiếng Việt không có. Cấp độ liên kết: 40 liên ngữ/cú; 2 liên câu.
b. Văn bản văn xuôi văn học Khói trời lộng lẫy
Tương tác nhân quả phần lớn được xác lập theo hướng mô tả trực
quan. 13/24 dùng tác tố trong suốt; 7/24 dùng tác tố mờ đục; 4/24
không dùng tác tố.
Truyện viết theo phong cách nói. Nhịp câu ngắn gọn không rộng
mở. Có thể coi như là một sản phẩm kết tinh từ cơ chế ngữ pháp ngữ
nghĩa tiếng Việt đơn lập (tiếng Anh không có dạng cấu trúc rút gọn kiểu
này). Cấp độ liên kết: 24 liên ngữ/ cú.
c. Văn bản thơ Truyện Kiều
Tương tác nhân quả được xác lập theo hướng trải nghiệm tâm linh
về nhân quả. Có dạng miêu tả hiện thực, nhưng tiêu biểu nhất ở đây là
dạng đúc kết. Phân bố: 40/180 có tác tố trong suốt; 10/180 tác tố mờ
đục; 130/180 tác tố zero. Cấp độ liên kết: 179 liên ngữ/cú; 1 liên câu.
4.4.2. Các điểm tương đồng và dị biệt trong tương tác nhân quả
giữa các văn bản cùng thể loại
(1) Chiếc lá cuối cùng và Khói trời lộng lẫy
Ta có thể so sánh một số điểm về sự tương đồng và dị biệt có thể có

dùng tác tố zero, (2) cả hai đều có dùng nhân tố gây khiến. Nếu nghiên
cứu cấu trúc nhân quả từ thực tế các diễn ngôn thì ta thấy chỗ giống
nhau trên là xu thế phổ biến, (3) cách xác định dạng cấu trúc nhân quả
thể hiện thông qua con đường ngầm ẩn. Trong CLCC có hiện tượng cấu
trúc nhân quả ẩn với sự tạo nghĩa theo hướng siêu hình hoặc hiện thực,
và trong KTLL có cấu trúc nhân quả ẩn dưới hình thức câu điều kiện và
câu nhân quả rút gọn.
(2) Thơ Byron và Truyện Kiều của Nguyễn Du
i. Lord Byron, bằng xúc cảm sôi nổi của bản thân, tác giả tự bộc lộ
bản lĩnh đấu tranh vì tự do và công bằng cho xã hội qua năm bài thơ
tách rời. Tương tác nhân quả ở đây không nhìn theo hướng định mệnh
và không phụ thuộc vào cách thể hiện theo phương thức ước lệ và kinh
điển.
ii. Trong lúc đó với Nguyễn Du lại khác, Truyện Kiều thực chất là
thiên tiểu thuyết văn vần hoàn chỉnh có đầy đủ hệ thống nhân vật. Cách
miêu tả, do vậy, định hướng rõ vào thế giới khách quan theo ước lệ và
điển tích của văn hóa truyền thống.
iii. Cách thể hiện tương tác nhân quả giữa Byron và Nguyễn Du có
chỗ trùng hợp chung: Đó là sự thể hiện tương tác nhân quả thông qua
con đường lô-gic ngữ nghĩa gắn với thế giới hình tượng bằng các
phương thức ẩn dụ, biểu trưng.
4.4.3. Các điểm tương đồng và dị biệt giữa các dạng cấu trúc ẩn dụ
nhân quả
i. Trong tiếng Anh cũng như tiếng Việt cả hai đều có dạng cấu trúc
ẩn dụ (metaphor) nhân quả được xác lập và tồn tại dưới dạng ẩn dụ nhân
quả đơn giản hoán dụ (metonymy).
ii. Ẩn dụ nhân quả đơn giản tồn tại dưới dạng hoán dụ là một loại
mô thức mang tính tương đồng dễ thấy nhất giữa hai ngôn ngữ. Nếu so
với các dạng cấu trúc ẩn dụ nhân quả khác trong tiếng Anh thì đây chính
là loại cấu trúc ẩn dụ nhân quả trong tiếng Anh mà người Việt dễ tiếp


KẾT LUẬN
Từ những gì đã được miêu tả và phân tích về phương thức biểu hiện
quan hệ nhân quả qua tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi đi đến một số
ghi nhận như sau:
1) Cấu trúc nhân quả có thể được biểu hiện thông qua nhiều loại
phong cách diễn ngôn khác nhau. Dù với dạng biến thể nào, chức năng
lô-gíc ngữ nghĩa, cuối cùng, phải được phân tích và chứng minh bằng
lập luận về sự hiện diện và tương tác giữa P và Q.
2) Chúng tôi đặt mối quan hệ liên thông ngữ nghĩa cú pháp một
cách có cơ chế vào đối tượng nghiên cứu. Đó là cơ sở để nhìn rõ sự chi
phối của cơ chế chức năng-hình thái đối với các phương thức liên kết
tạo ra cấu trúc nhân quả trên bình diện hoạt động ngôn ngữ. 23

3) Chúng tôi nhận dạng hai cơ chế khác nhau có thể có trong sự thể
hiện cấu trúc nhân quả: a) Cơ chế thiên về hình thức mà từ lâu chúng ta
thường nói đến là cấp độ liên kết cú pháp. Đối tượng được chú ý ở đây
là những quy mô liên kết khác nhau như liên kết ngữ, cú, câu, b) Cơ chế
tiếp theo thiên về cấp độ liên kết nội dung. Đó là sự thể hiện tư duy
lô-gic lên bình diện hoạt động ngôn ngữ, và đối tượng được chú ý là
các hình thái cấu trúc ngôn ngữ khác nhau có thể dùng để thể hiện câu
lô-gic nhân quả.
4) Nghiên cứu cấu trúc lô-gic nhân quả từ sự kết hợp giữa hai cơ
chế trong mối liên hệ với nguyên tắc một chức năng có thể được thể
hiện thông qua nhiều hình thái, chúng tôi tạm phân chia làm ba ba
phương thức khác nhau cho cả tiếng Anh và tiếng Việt: (i) loại dùng tác
tố trong suốt; (ii) loại dùng tác tố mờ đục; (iii) loại dùng tác tố zero.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status