Cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng việt - Pdf 86

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU HÀ CÁCH BIỂU HIỆN MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ
TRONG CÂU TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Văn Lộc

Thái Nguyên - 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Lộc, người
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn này.

Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo trong Viện Ngôn ngữ học, các
thầy cô giáo Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Khoa
Sau đại học Trường ĐHSP Thái Nguyên đã giảng dạy trong khoá học và tạo
điều kiện, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.

Em xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Hội đồng đã
nhận xét, góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn.

Thái Nguyên, tháng 09 năm 2008

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Quan hệ ngữ nghĩa 11
1.1.1. Định nghĩa
11
1.1.2. Đặc điểm của quan hệ ngữ nghĩa
15
1.1.3. Các dạng phổ biến của quan hệ ngữ nghĩa trong câu
15
1.2. Quan hệ cú pháp 16
1.2.1. Định nghĩa
16
1.2.2. Cách biểu hiện quan hệ cú pháp
17
1.2.3. Cách xác định quan hệ cú pháp trong câu
18
1.3. Sự tƣơng ứng giữa quan hệ ngữ nghĩa - quan hệ cú pháp 22
1.4. Một số khái niệm có liên quan khác 24
1.4.1. Khái niệm quan hệ từ
24
1.4.2. Khái niệm động từ quan hệ
27
1.4.3. Khái niệm kết trị và kết trị của động từ tiếng Việt
27
1.5. Tiểu kết 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


86
3.2.1. Ý kiến của các nhà nghiên cứu về cách phân tích kiểu câu này
86
3.2.2. Ý kiến trao đổi đề xuất
88
3.3. Tiểu kết 90
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
NGUỒN NGỮ LIỆU TRÍCH DẪN 98

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp và công cụ tƣ duy của con
ngƣời. Nếu tƣ duy có tính chất chung cho nhân loại thì ngôn ngữ lại mang
đậm dấu ấn dân tộc. Việc tìm hiểu cách biểu hiện bằng phƣơng tiện ngôn ngữ
những nội dung tƣ duy nhất định có ý nghĩa không chỉ đối với việc học tập,
nghiên cứu ngôn ngữ mà còn có ý nghĩa đối với việc khám phá đặc điểm tƣ
duy của mỗi dân tộc.
1.2. Một nội dung tƣ duy có thể có nhiều hình thức biểu đạt bằng ngôn
ngữ. Quan hệ nhân quả là một trong những quan hệ rất phổ biến thuộc về tƣ
duy. Nó tồn tại ở tầng nghĩa sâu và đƣợc biểu hiện bằng các phƣơng tiện ngôn
ngữ. Nghiên cứu mối quan hệ này, đặc biệt là cách biểu hiện của nó trong câu
tiếng Việt giúp ta thấy đƣợc nét đặc thù trong cách biểu hiện mối quan hệ
nhân quả trong tiếng Việt và mối tƣơng quan giữa mặt hình thức và mặt nội
dung trong tiếng Việt nói riêng và trong ngôn ngữ nói chung.
1.3. Việc nghiên cứu cách biểu hiện mối quan hệ nguyên nhân kết quả
trong câu tiếng Việt có ý nghĩa cả về mặt lí luận và thực tiễn.
Về lí luận, việc nghiên cứu cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong

phụ: một là danh từ, một là động từ và có khi hai thành tố phụ tạo nên cụm
chủ - vị. Các động từ gây khiến trong danh sách của Hữu Quỳnh, gồm có: để
(cho), khiến (cho), làm (cho), bắt, bắt buộc, cản trở, cho phép, cưỡng bức,
cưỡng ép, dắt, dẫn, dìu dắt, đề nghị, đòi hỏi, cấm, giúp đỡ… [26, 70].
Hữu Quỳnh cũng tiến hành phân loại quan hệ từ mà ông gọi là từ nối.
Từ nối đƣợc ông định nghĩa nhƣ sau: “Từ nối là những từ chỉ các quan hệ ngữ
pháp chuyên dùng để nối các thành phần câu hay các thành tố trong cụm từ”.
Theo đó, những từ nối đƣợc ông phân chia thành hai nhóm: từ nối chính phụ
và từ nối liên hợp. Những từ vì, do, bởi, tại, nhờ đƣợc xếp vào nhóm từ nối
chính phụ, bởi “chúng biểu thị ý nghĩa nguyên nhân dùng trong cụm từ chính
phụ”.[26, 88 - 92]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Ví dụ:
Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình.(Nguyễn Du)
Vì chàng thiếp phải đi chăng về mò. (Ca dao)
Nhƣ vậy, Hữu Quỳnh mới chỉ dừng lại ở việc miêu tả và phân loại sơ
bộ các động từ biểu thị quan hệ nhân quả và các quan hệ từ nhân quả mà chƣa
có điều kiện miêu tả kĩ hơn theo các nhóm. Việc tác giả xếp làm, khiến vào
cùng nhóm với bắt, mời, cấm là sự nhầm lẫn.
2.2. Các tác giả thuộc Uỷ ban khoa học xã hội trong cuốn Ngữ pháp
tiếng Việt đã phân loại, miêu tả một cách cụ thể cấu tạo của câu ghép, trong
đó, câu ghép đƣợc chia thành câu ghép song song và câu ghép qua lại.
Theo các tác giả, “đặc điểm quan trọng của nòng cốt - nòng cốt đơn hay
nòng cốt ghép - là khả năng độc lập về ngữ pháp, tức là khả năng làm thành
câu - câu đơn hay câu ghép. Khi đứng độc lập làm thành phần câu, nòng cốt
đơn có vai trò biểu thị một quá trình tƣ duy và thông báo hoàn chỉnh”. [46, 217]
Ví dụ:
Con chăm học. Mẹ rất vui lòng.
Để làm thành một câu ghép, các tác giả đã sử dụng phƣơng tiện dẫn nối
là cặp quan hệ từ vì… nên biểu thị mối quan hệ nhân quả để chuyển câu đơn

D
1
Đ
1
D
2
Đ
2.
Ví dụ:
Công việc này khiến chúng tôi lo lắng.
Toàn bộ câu là một chuỗi các yếu tố móc xích nhau và chia thành hai
bậc: khiến - chúng tôi và chúng tôi - lo lắng. [24, 189]
Theo Hoàng Trọng Phiến, kết cấu móc xích có thể có giới từ cho, để
cho… tuy nhiên, yếu tố giới từ không có vai trò quyết định đối với kết cấu
móc xích.
Ví dụ:
Công việc này khiến cho tôi lo lắng.
Việc ra đi của nó khiến cho tôi lƣu luyến.
Các loại câu nhân quả đƣợc tác giả chia thành 19 nhóm tƣơng ứng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Tuy tác giả đã chia các loại câu nhân quả thành các nhóm nhƣng lại
chƣa có điều kiện miêu tả kỹ các cấu trúc nhân quả.
2.4. Tác giả Lê Biên trong cuốn Từ loại tiếng Việt hiện đại, coi “động
từ gây khiến là những động từ chỉ vận động có tác động gây khiến, chi phối
hoạt động của đối tƣợng” [2, 79].
Theo ông, động từ gây khiến đòi hỏi phải có hai bổ ngữ: bổ ngữ thứ
nhất (A1) là đối tƣợng chịu tác động của động từ gây khiến, thƣờng là danh từ
và có thể là đại từ xƣng hô; bổ ngữ thứ hai (A2) là bổ ngữ nội dung do hành
động của chủ thể (động từ gây khiến) chi phối, tác động gây ra ở đối tƣợng, vì
vậy, bổ ngữ chỉ nội dung thƣờng là động từ, tính từ (hoặc một ngữ động từ,

tính chuyên môn” [1, 96]. Động từ quan hệ đƣợc tác giả xếp vào nhóm thứ
hai, tức là nhóm động từ có thực từ đi kèm biểu thị đối tƣợng sai khiến và nội
dung sai khiến. Những động từ này có tên gọi chung là động từ khiên động
thuộc lớp động từ ngoại động.
Những động từ khiên động gồm có: nhờ, bảo, cử, bắt, khiến, yêu cầu…
Ví dụ:
Công an huyện yêu cầu bộ phận hình sự của công an tỉnh trợ giúp xác
minh. (Cao Duy Thảo)
Một hôm hợp tác xã họp cử Keng đánh một chiếc xe bò lên huyện chở
phốt phát về. (Nguyễn Kiên)
2.6. Nguyễn Kim Thản trong cuốn Động từ trong tiếng Việt, xếp làm,
khiến vào nhóm “động từ gây khiến”. Theo ông, “động từ gây khiến biểu thị
hoạt động thúc đẩy, cho phép, giúp đỡ hay cản trở sự thực hiện của những
hoạt động khác” [28]. Đặc điểm ngữ pháp của động từ gây khiến đƣợc ông
xếp vào bốn cấu trúc chính và hai cấu trúc đƣợc cải biến dƣới dạng thức rút gọn.
Những động từ gây khiến theo Nguyễn Kim Thản gồm: bảo, bắt buộc,
buộc, bắt, cản trở, cho phép, cổ vũ, cưỡng bức, cưỡng ép, dạy, dắt, dẫn dắt,
dìu dắt, đề nghị, đòi hỏi, cấm giục, gọi, giúp đỡ, hướng dẫn, hô hào, kêu gọi,
khuyên nài, ép, sai, thuyết phục, yêu cầu…
Tóm lại, qua các công trình hiện có, các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc
phân loại kho từ vựng nói chung và phân loại động từ, quan hệ từ nói riêng
thành các loại, nhóm, tiểu nhóm. Mối quan hệ nhân quả cũng đƣợc các tác giả
đề cập đến qua việc phân tích nhóm từ (ngữ) với thành tố phụ chỉ nguyên
nhân và câu ghép nhân quả. Song tính chất của mối quan hệ nhân quả và cách
biểu hiện của nó là lĩnh vực nghiên cứu mới chỉ đƣợc đề cập khái quát.
Điều đáng chú ý là phần lớn các tác giả có đề cập đến các động từ quan
hệ làm, khiến đều nhầm lẫn các động từ này với động từ cầu khiến (bắt, bảo,
cấm, mời, khuyên…)
3. Mục đích nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

bật những nét tƣơng đồng và khác biệt của các quan hệ, các hiện tƣợng ngữ
nghĩa và ngữ pháp liên quan đến cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả.
Luận văn cũng sử dụng các thủ pháp thử nghiệm nhƣ bổ sung, lƣợc
bỏ, thay thế, cải biến và mô hình hóa để hạn chế sự cảm tính, chủ quan trong
miêu tả các hiện tƣợng ngữ nghĩa, ngữ pháp và để hỗ trợ làm tăng hiệu quả
của các phƣơng pháp trên.
6. Cái mới và những đóng góp của luận văn
Với luận văn này, có thể nói lần đầu tiên, cách biểu hiện mối quan hệ
nhân quả trong câu tiếng Việt đƣợc nghiên cứu một cách có hệ thống và mang
tính chuyên sâu. Qua việc nghiên cứu đề tài này, luận văn có những đóng góp
chính sau đây:
- Tổng kết (có nhận xét, đánh giá) một cách tƣơng đối có hệ thống ý
kiến của các nhà nghiên cứu về cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả bằng
quan hệ từ và động từ quan hệ.
- Phân tích, miêu tả làm rõ phƣơng thức biểu hiện mối quan hệ nhân
quả trong câu tiếng Việt bằng quan hệ từ, đặc điểm, tính chất của mối quan hệ
cú pháp giữa bộ phận chỉ nguyên nhân và bộ phận chỉ kết quả trong câu có ý
nghĩa nhân quả đƣợc biểu hiện bằng quan hệ từ.
- Phân tích, miêu tả, làm rõ phƣơng thức biểu hiện quan hệ nhân quả
bằng động từ quan hệ, làm rõ đặc tính ý nghĩa và ngữ pháp (thuộc tính kết trị)
của các động từ quan hệ làm, khiến và tính chất ngữ pháp của kiểu câu có các
động từ này làm vị ngữ.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chƣơng này trình bày những vấn đề lý luận cơ bản làm cơ sở cho việc
nghiên cứu đề tài. Đó là những vấn đề khái quát về quan hệ ngữ nghĩa, quan
hệ cú pháp và một số khái niệm khác có liên quan đến việc nghiên cứu đề tài.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Chương 2: Cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt

bậc một. Chẳng hạn, quan hệ thứ tự đƣợc cụ thể hoá thành các quan hệ: định
vị thời gian, trình tự diễn đạt, nhân quả v.v… Quan hệ bao hàm đƣợc cụ thể
hoá thành các quan hệ: giống loài, chung riêng, sở hữu, đặc trƣng…” [44, 314].
Dƣơng Hữu Biên lại coi “quan hệ ngữ nghĩa - chức năng là một trong
hai dạng quan hệ cơ bản giữa một vị từ và các đối tố của nó”. Theo đó, tác giả
cũng xác định “quan hệ ngữ nghĩa - chức năng là quan trọng bởi nó chiếm giữ
đƣợc cấu trúc cơ bản và nền tảng về các biến cố, sự kiện; đồng thời, nó có
một sự phong phú và đa dạng về tên gọi trong nhiều lí thuyết khác nhau nhƣ
vai nghĩa, vai cách, vai ngữ nghĩa cách, quan hệ chủ đề…”
Theo tác giả, “các quan hệ chủ đề miêu tả chức năng ngữ nghĩa học của
một đối tố với việc quan tâm đến vị từ trong một câu.
Ví dụ:
(1) Mne nravitsja eta kniga. (Tôi thích cuốn sách này)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Ta thấy chủ thể (kẻ thể nghiệm) là ở trạng thái tặng cách (cách ba):
Mne; còn đối thể (vật được thể nghiệm) là ở hình thái chủ cách hay danh cách
(cách một): eta kniga. Do vậy, về mặt logic sự tình thì (1) có thể đƣợc miêu tả
nhƣ (2):
(2) (Cuốn sách này [NOM] làm tôi [DAT] thích)
Nhƣ vậy, về cơ bản, các quan hệ chủ đề hoạt động với tƣ cách là một
bề mặt chung giữa ngữ nghĩa học từ vựng và cú pháp học. Nói cách khác, các
quan hệ chủ đề là những quan hệ hai mang: Một mặt, chúng là những quan hệ
có tính ngữ nghĩa về bản chất và có quan hệ đến sự biểu hiện ngữ nghĩa từ
vựng của động từ, bởi lẽ chúng là một cách hành chức về ý nghĩa của động từ.
Trong khi đó, ở mặt khác, chúng lại có những ngụ ý đối với ngữ pháp. Các
quan hệ chủ đề này đã xác lập đƣợc một cách xác đáng vị trí đối với cơ sở
ngữ nghĩa của mình, nhƣng chúng cũng có thể là nhạy cảm đối với các yêu
cầu của ngữ pháp”. [3]
Chúng tôi tiếp thu và vận dụng ý kiến của các nhà nghiên cứu và để có
những hiểu biết cụ thể hơn về quan hệ ngữ nghĩa, chúng tôi dựa vào lí thuyết

hiểu thống nhất và chƣa đƣợc xác định rõ ràng. Trong các công trình ngữ
pháp, các kiểu nghĩa trên đƣợc đồng nhất với phạm trù nghĩa sâu đƣợc xác
định trên cơ sở cấu trúc sâu theo cách hiểu của Ch.Fillmore. Theo quan niệm
này thì những cấu trúc kiểu nhƣ: (1) Malchik bezyt (Cậu bé đang chạy) và (2)
Beg malchika (Sự chạy của cậu bé) sẽ nằm trong một lƣợc đồ ngữ nghĩa
chung, trong đó từ “machik” luôn có ý nghĩa chủ thể hoạt động. Nhƣng nếu
chỉ dựa vào nghĩa sâu để xác định, phân tích các thành phần câu thì sẽ có mâu
thuẫn nảy sinh: Hoá ra thành tố chỉ chủ thể hoạt động không chỉ đƣợc xác
định trong mối quan hệ với động từ (ở cấu trúc (1) mà còn đƣợc xác định
trong mối quan hệ với danh từ ở cấu trúc (2)). Việc xác định, phân tích mặt
nội dung của các thành phần câu chỉ dựa vào nghĩa sâu cũng sẽ gặp một số
khó khăn không thể khắc phục đƣợc. Chính S.D.Kasnelson đã chỉ ra điều này
khi nhận xét về ngữ pháp cách của Ch. Fillmore. S.D.Kasnelson cho rằng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
trong những câu nhƣ (1) Dzon otkryl dver kljuchom (Giôn mở cửa bằng chìa
khoá) và (2) Kljuch otkryl dver (Chiếc chìa khoá mở cửa), theo ngữ pháp cách
của Ch. Fillmore thì Kljuchom và kljuch (chìa khoá) đều ở cách công cụ (cách
I). Nhƣng theo ý kiến của S.D. Kasnelson thì cách phân tích nhƣ vậy sẽ mâu
thuẫn với chính điều mà Ch. Fillmore đã khẳng định và cố gắng chứng minh,
đó là: Mỗi động từ xét về mặt kết trị, đều đƣợc đặc trƣng bởi một lƣợc đồ kết
trị nhất định, chẳng hạn, lƣợc đồ kết trị của động từ otkryl (mở) là: ngƣời hành
động - đối thể tác động - công cụ. Để khắc phục mâu thuẫn này, theo
S.D.Kasnelson thì phải cho rằng chỉ trong câu (1), Kljuchom mới có ý nghĩa
công cụ thuần tuý, còn trong câu (2), kljuch có ý nghĩa hỗn hợp: chủ thể và
công cụ. [18, 111]. Cũng với quan niệm tƣơng tự, N.V.Solnesva cho rằng
trong câu Xe này chở hàng, từ xe chỉ chủ thể hoạt động mặc dù theo lý thuyết
cách của Ch. Fillmore thì xe là công cụ [43, 31]. Nghĩa chủ thể của từ xe trong
câu trên cũng nhƣ nghĩa chủ thể của từ kljuch trong câu (2) chính là nghĩa cú
pháp. Nhƣ vậy, khi xác định, phân tích mặt nội dung của các thành phần câu,
việc dựa vào nghĩa sâu là cần thiết nhƣng không đầy đủ và không cho phép

- Quan hệ hoạt động - đối tƣợng: đọc sách. đập đá…
- Quan hệ hoạt động - công cụ: ăn bằng đũa. liên lạc bằng điện thoại…
- Quan hệ sở hữu: tiền của tôi. sách của Nam…
- Quan hệ nguyên nhân - kết quả: chết vì bệnh. sống nhờ bạn…
1.2. Quan hệ cú pháp
1.2.1. Định nghĩa
Quan hệ cú pháp đƣợc hiểu là mối quan hệ giữa các thực từ trong câu
đƣợc xác định dựa vào vai trò, chức năng của các từ đối với nhau. “Cú pháp
bắt đầu ở nơi diễn ra sự kết hợp giữa các từ” [41, 28]. Theo cách hiểu này thì
quan hệ giữa một thực từ và một hƣ từ (ví dụ: đang đi, rất đẹp, bằng điện
thoại…) không phải là quan hệ cú pháp thực sự. Kiểu quan hệ này đƣợc gọi là
quan hệ cận cú pháp(kvazisintaksicheskaja svjaz).
Để có cơ sở xác định tính chất của mối quan hệ cú pháp, trƣớc hết, cần
xác định sự có mặt của mối quan hệ cú pháp giữa các từ. Hai từ (thực từ)
đƣợc coi là có quan hệ cú pháp với nhau nếu giữa chúng có thể xác định mối
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
quan hệ nhất định về mặt nội dung (ý nghĩa) và mối quan hệ về hình thức.
Mối quan hệ hình thức giữa hai từ đƣợc xác định qua thủ pháp thay thế bằng
từ nghi vấn (thủ pháp đặt câu hỏi): Hai từ đƣợc coi là có quan hệ hình thức
với nhau nếu chúng lập thành tổ hợp trong đó ít nhất có một từ có khả năng
thay thế bằng từ nghi vấn. Chẳng hạn, trong câu: Lan học toán rất giỏi, bằng
thủ pháp đặt câu hỏi kết hợp với thủ pháp phân tích ngữ nghĩa, ta có thể xác
định đƣợc các cặp thực từ có quan hệ cú pháp với nhau là: Lan học, học toán,
học rất giỏi. Trong mỗi cặp này, các thực từ đều có quan hệ với nhau cả về
nội dung (ý nghĩa) lần hình thức (Ai học? Học gì? Học thế nào?). Các từ toán
và giỏi mặc dù đứng gần nhau nhƣng không có quan hệ cú pháp với nhau
(không thể xác định mối quan hệ ý nghĩa và hình thức giữa chúng). Tổ hợp
gồm các từ có quan hệ cú pháp với nhau có thể gọi là cấu trúc cú pháp còn
các thực từ tham gia cấu trúc cú pháp có thể gọi là thành tố cú pháp.
Nhƣ vậy, để xác định quan hệ cú pháp cần dựa vào “khả năng dùng độc

phụ “đang xem ti vi” đƣợc phát âm nhẹ hơn và liền với trung tâm “cậu học
sinh”; còn trong Lúc ấy, cậu học sinh vẫn đang xem ti vi thì cậu học sinh vẫn
đang xem ti vi là cụm chủ vị với vị ngữ đang xem ti vi đƣợc phát âm nhấn
mạnh hơn và tách biệt rõ rệt khỏi chủ ngữ.
1.2.3. Cách xác định quan hệ cú pháp trong câu
Tính chất của mối quan hệ cú pháp giữa các từ (các thành tố cú pháp)
trong cấu trúc cú pháp đƣợc xác định dựa vào vai trò cú pháp của chúng. Vai
trò của mỗi thành tố trong cấu trúc đƣợc xác định dựa vào mối quan hệ nội bộ
của cấu trúc (vai trò bên trong hay vai trò “đối nội”) và mối quan hệ với các
yếu tố bên ngoài (hay vai trò “đối ngoại”).
Theo Nguyễn Văn Lộc, việc xác định tính chất của mối quan hệ cú
pháp trong cấu trúc có thể đƣợc thực hiện qua các bƣớc sau:
Bước 1: Xác định vai trò trong cấu trúc của mỗi thành tố.
Vai trò trong cấu trúc của mỗi thành tố đƣợc thể hiện ở hai khía cạnh:
vai trò của các thành tố đối với nhau và vai trò của mỗi thành tố đối với toàn
cấu trúc nói chung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Vai trò của các thành tố đối với nhau đƣợc đánh giá theo hai mặt: mặt
nội dung và mặt hình thức. Về nội dung, trong hai thành tố của cấu trúc, thành
tố nào có tác dụng bổ sung ý nghĩa cho thành tố kia sẽ là thành tố có vai trò
phụ, thành tố đƣợc bổ sung sẽ là thành tố có vai trò chính. Về hình thức, trong
hai thành tố của cấu trúc, thành tố nào có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn
sẽ là thành tố có vai trò phụ, thành tố không có khả năng thay thế bằng từ
nghi vấn sẽ là thành tố chính. Sau khi đã xem xét riêng mặt nội dung và hình
thức, cần xem xét kết hợp cả hai mặt để xác định thành tố chính của cấu trúc
xét trong quan hệ đối với nhau: Thành tố giữ vai trò chính cả về nội dung lẫn
hình thức sẽ đƣợc coi là thành tố chính.
Vai trò của mỗi yếu tố đối với toàn cấu trúc thể hiện ở khả năng chi
phối ý nghĩa và tổ chức hình thức của cấu trúc: Trong hai thành tố của cấu
trúc, thành tố nào quy định bản chất ý nghĩa (ý nghĩa chung, tính đa dạng về

Nhà gì? Đọc gì?). Các thành tố này cũng không có khả năng chi phối bản chất
ý nghĩa và tổ chức hình thức của cấu trúc.
Trong mối quan hệ với các yếu tố bên ngoài, các thành tố này hoàn
toàn không có khả năng đại diện cho cả cấu trúc. Các thành tố đứng trƣớc có
đặc điểm hoàn toàn trái ngƣợc với các thành tố vừa nhận xét là các thành tố
chính của cấu trúc. Kiểu quan hệ trong các cấu trúc này có thể gọi là quan hệ
phụ thuộc một chiều hay quan hệ chính phụ.
Ngoài hai kiểu quan hệ cú pháp cơ bản trên đây (quan hệ đẳng lập và
quan hệ chính phụ) còn một kiểu quan hệ có đặc tính không hoàn toàn rõ
ràng. Thuộc về kiểu này là:
1) Quan hệ chủ vị: Ví dụ: Mẹ về. Nó ngủ. Nó bận…
Cấu trúc kiểu này lâu nay vẫn đƣợc gọi là cấu trúc chủ vị (cụm chủ vị,
cụm từ tƣờng thuật, mệnh đề). Hầu hết các tác giả nghiên cứu về ngữ pháp
tiếng Việt coi quan hệ chủ vị là quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa hai thành tố
tạo nên cấu trúc nòng cốt của câu. Tuy nhiên, các tác giả theo quan niệm này
có cách nhìn nhận khác nhau về vai trò của chủ ngữ, vị ngữ. Có tác giả coi
chủ ngữ là thành tố có vai trò quan trọng hơn [31]; một số lại coi vị ngữ là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
thành tố có vai trò quan trọng hơn. Số còn lại cho chủ ngữ, vị ngữ là hai thành
tố có vai trò ngang nhau.
Khác với các tác giả quan niệm quan hệ chủ vị là quan hệ phụ thuộc lẫn
nhau, V.S.Panfilov cho rằng về bản chất, quan hệ chủ vị cũng chỉ là một dạng
của quan hệ chính phụ trong đó vị ngữ là thành tố chính [41, 77-78]
2) Quan hệ đối ứng: Quan hệ đối ứng lại tồn tại trong một số kiểu câu
ghép nhƣ:
Câu ghép nhân quả: Vì trời mưa nên đường trơn. v.v…
Câu ghép điều kiện - kết quả: Nếu tự vẽ mình sặc sỡ thì ta càng xám xịt. v.v…
Câu ghép nhƣợng bộ: Tuy ngủ ít nhưng ông tỉnh táo lắm. v.v…
Đối với các cấu trúc kiểu này, cũng có hai cách phân tích: a) coi đây là
cấu trúc chính phụ, trong đó, thành tố đứng sau (thành tố chỉ kết quả) là thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status