SKKN nghiên cứu, vận dụng một số phương pháp thích hợp để dạy học các mối quan hệ nhân quả trong chương trình Địa lý THCS - Pdf 26



1 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU, VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP THÍCH
HỢP ĐỂ DẠY HỌC CÁC MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ TRONG
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊA LÝ THCS”
2
A. ĐẶT VẤN ĐỀ

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môn Địa lí nghiên cứu chủ yếu các mối liên hệ giữa các sự vật và hiện tượng Địa lí về
mặt không gian, vì vậy hầu hết các kiến thức Địa lí chính là các mối liên hệ Địa lí. Hiện
nay, các mối liên hệ Địa lí có thể phân ra hai loại: các mối liên hệ Địa lí bình thường và
các mối liên hệ địa lí nhân quả.
- Mối liên hệ địa lí bình thường là những mối liên hệ vốn có giữa các yếu tố Địa lí với
nhau về một mặt nào đó, chẳng hạn như mối liên hệ về số lượng (ví dụ: nước ta có trên
2360 con sông), về cấu trúc (ví dụ: thổ nhưỡng là một thành phần tự nhiên của lãnh thổ),
hoặc về mặt so sánh (ví dụ: diện tích nước ta nhỏ hơn diện tích nước Pháp)
- Mối liên hệ nhân quả: đó là những mối liên hệ biểu hiện mối tương quan phụ thuộc
một chiều giữa các sự vật, hiện tượng Địa lí.
Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của môn Địa lí trong nhà trường là phải giải thích
các đối tượng, các hiện tượng, các quá trình tự nhiên, kinh tế - xã hội có tính không gian.

triển năng lực tự học của học sinh được đặc biệt quan tâm.
- Việc hình thành mối quan hệ nhân quả còn là mục tiêu của dạy học Địa lí. Khả năng
xác định được các mối quan hệ nhân quả là thước đo trình độ phát triển tư duy của học
sinh.
Thiết lập mối quan hệ nhân quả trong SGK cho học sinh là một biện pháp hết sức
quan trọng để phát triển tính tích cực, tính logic và tính khái quát cao trong học tập địa lí
của học sinh. Phương pháp này đòi hỏi học sinh phải biết khai thác tất cả các nguồn kiến
thức từ kênh chữ đến kênh hình để tự học, tự rèn luyện nâng cao trình độ kiến thức, kĩ
năng kĩ xảo nhằm trau dồi thế giới quan khoa học và phẩm chất đạo đức vốn đã được
thấm sâu vào trong nội dung kiến thức khoa học.
Tuy nhiên, khác với biểu tượng địa lí và khái niệm địa lí, mối liên hệ địa lí không
được trình bày rõ ràng, cụ thể trong sách giáo khoa. Việc giảng dạy mối liên hệ nhân quả
đòi hỏi giáo viên phải phát hiện, tổng hợp, xâu chuỗi kiến thức đồng thời phải kết hợp sử
dụng các phương tiện dạy học hỗ trợ khác. Các kiến thức được sử dụng nhiều khi lại
không nằm ngay trong nội dung một bài giảng mà phải huy động kiến thức cũ, đặc biệt là
những kiến thức mang tính khái quát, lí luận và cả thực tiễn cuộc sống. Công việc này đòi
hỏi giáo viên phải có một vốn kiến thức nhất định về mối quan hệ nhân quả trong Địa lí
và phải có một số kĩ năng cơ bản để nhận biết và giảng dạy mối quan hệ nhân quả.
Mặc dù là một mảng kiến thức quan trọng của Địa lí nhưng hiện nay trong các tài
liệu hướng dẫn giảng dạy, mối quan hệ nhân quả cũng như phương pháp giảng dạy mối
quan hệ nhân quả ít được đề cập một cách có hệ thống.
Qua thực tế áp dụng một số phương pháp giảng dạy mối quan hệ nhân quả, tôi nhận
thấy khả năng tìm hiểu, tiếp nhận kiến thức và kết quả học tập của học sinh được nâng
lên. Tôi xin được trình bày đề tài này và mong muốn nhận được những góp ý của đồng
nghiệp.
II. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ 4
1. Mục đích

- Mối liên hệ bản chất và không bản chất: Mối liên hệ bản chất là mối liên hệ có tính
chất quyết định sự vận động và phát triển của sự vật – hiện tượng. Mối liên hệ không bản
chất là mối liên hệ phụ thuộc thứ yếu, đôi lúc nó đóng vai trò như là điều kiện không
quyết định đến đến sự chuyển hóa của sự vật, hiện tượng.
- Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp: Mối liên hệ trực tiếp là mối liên hệ
gần gũi tác động trực tiếp làm chuyển hóa, thay đổi các sự vật, hiện tượng. Mối liên hệ
này dễ nhận biết và là mối liên hệ chủ yếu. Mối liên hệ gián tiếp phải thông qua điều
kiện trung gian hoặc mối liên hệ trung gian. (Ví dụ mối liên hệ giữa khí hậu và sự hình
thành thổ nhưỡng.) Song tùy thuộc vào vai trò, vị trí của các thành phần trong mối liên hệ
đó mà có thể phân ra:
+ Mối liên hệ tương hỗ: Hai hoặc nhiều thành phần có tác dụng qua lại với nhau. Ví
dụ: Mối liên hệ giữa xã hội và môi trường.
+ Mối liên hệ nhân quả: Có thành phần là nguyên nhân sinh ra kết quả.
b. Mối liên hệ nhân quả
Mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ trong đó có sự tương quan, phụ thuộc một chiều
giữa các sự vật và hiện tượng. Chỉ có nguyên nhân mới sinh ra kết quả, không có kết quả
nào lại không bắt đầu từ nguyên nhân trước đó, trong khi đó kết quả không thể sinh ra
nguyên nhân ban đầu sinh ra nó, mà kết quả chỉ có thể trở thành nguyên nhân khác của
một kết quả khác.
Ví dụ: 6
+ Gió mùa Đông Bắc ở Việt Nam làm giảm nhiệt độ ở các vùng có gió đi qua.
+ Các dòng biển lạnh chạy ven bờ lục địa đã làm cho các vùng này trở thành hoang
mạc, nhưng hiện tượng hoang mạc không phải là nguyên nhân sinh ra dòng biển lạnh.
+ Địa hình và các khối khí tác động lên lãnh thổ Bắc Mĩ là nguyên nhân tại nên sự
phân bố khác nhau của lượng mưa trên lãnh thổ Bắc Mĩ. Tuy nhiên không thể có mối liên
hệ ngược lại.
2. Bản chất của mối liên hệ nhân quả

+ Nước ta có đường bờ biển dài, ven biển có nhiều vụng, vịnh thuận lợi cho việc xây
dựng cảng nước sâu, nhiều cửa sông xây dựng cảng (nguyên nhân chủ yếu).
+ Nước ta nằm gần nhiều tuyến đường biển quốc tế quan trọng (nguyên nhân thứ yếu)
Như vậy, việc xác định nguyên nhân chủ yếu là vấn đề hết sức quan trọng trong việc
khám phá bản chất, nguồn gốc của sự chuyển hóa nhân quả của sự vật, hiện tượng.
- Nguyên nhân khác với điều kiện hay nguyên do.
Nguyên do là một sự kiện nào đó trực tiếp xảy ra trước kết quả, có liên hệ với kết quả
nhưng là sự liên hệ bên ngoài, không bản chất.
Nguyên nhân và điều kiện lại là hai khái niệm khác nhau có vai trò không giống nhau
trong quá trình sinh ra kết quả. Đièu kiện là tổng hợp những hiện tượng, không phụ thuộc
vào nguyên nhân, nhưng lại có khả năng sinh ra kết quả được chứa đựng trong nguyên
nhân để trở thành hiện thực. Điều kiện không tham gia vào bản thân kết quả nhưng lại
tham gia một cách tất yếu vào quá trình sinh ra kết quả. Điều kiện thường hướng đến
nguyên nhân, đến quá trình nhân quả, quy định cả nguyên nhân dẫn đến kết quả.
Tóm lại, trong quá trình dạy học mối quan hệ nhân quả, cần nắm vững bản chất
mối quan hệ nhân quả để nhận rõ được vấn đề và có cách thức dạy học hợp lí.
3. Cơ sở phân loại các mối liên hệ nhân quả.
a. Dựa vào tính chất đơn giản hay phức tạp của mối liên hệ nhân quả.
Các mối liên hệ nhân quả được phân thành 2 loại:
- Mối liên hệ nhân quả đơn giản: Một nguyên nhân sinh ra một kết quả.
Ví dụ: Do nhận được phù sa của sông Mê Kông (nguyên nhân) nên đồng bằng sông
Cửu Long hằng năm được bồi đắp thêm (kết quả).
- Mối liên hệ nhân quả phức tạp: Nhiều nguyên nhân phối hợp lại sinh ra một kết quả
hoặc ngược lại nhiều kết quả sinh ra từ một nguyên nhân.
Ví dụ: Nguyên nhân: Vùng Đông Bắc Hoa Kì có mỏ than, sắt , có khí hậu ôn đới hải
dương; định cư đầu tiên và đông dân; có hệ thống giao thông thuận lợi; có phương thức
sản xuất tư bản đều là nguyên nhân dẫn đến kết quả vùng Đông Bắc trở thành vùng kinh
tế chủ yếu của Hoa Kì.
b. Dựa vào mức độ liên hệ trực tiếp hay gián tiếp của nguyên nhân và kết quả


Mối liên hệ nhân quả giữa tự nhiên với tự nhiên là mối liên hệ giữa các thành phần tự
nhiên. Mối liên hệ này xảy ra trong thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên, trong đó các thành
phần, các yếu tố tự nhiên này ở một hoàn cảnh, một điều kiện cụ thể là nguyên nhân.
Nguyên nhân đó sinh ra một kết quả tự nhiên tương ứng thông qua một loạt mối liên hệ
nhân quả. Thường trong lĩnh vực tự nhiên nguyên hân sinh ra kết quả, thông qua sự tác
động tương hỗ, nhân quả về mặt vật lí, hóa học hoặc sinh học. Những mối liên hệ nhân – 9
quả đó biểu thị dưới dạng một chuỗi liên tục, bao trùm toàn bộ cơ chế tác động qua lại
của một hay nhiều nhân tố để tạo ra một kết quả hay nhiều kết quả.
Ví dụ: Sự thất thường của thời tiết ở vùng nội địa Bắc Mĩ là do địa hình Bắc Mĩ chạy
theo hướng kinh tuyến là chính. Học sính sẽ thấy dãy Cooc-đi-e và dãy A-pa-lat như là
hai bức tường thành hai bên đón gió lạnh từ phương Bắc xuống bổ sung lạnh đến tận phía
Nam Hoa Kì đồng thời tạo điều kiện cho không khí nóng ẩm xâm nhập đến Ngũ Hồ trong
mùa hè. Do đó tính chất cận nhiệt đới ở phía Nam trong mùa đông bị xóa nhòa hoặc tính
ôn đới hải dương phía Bắc bị thay đổi. Ở đây “nhân” chủ yếu là địa hình và các khối khí
(tự nhiên), “quả” là thời tiết thất thường (hiện tượng tự nhiên).
Các mối liên hệ giữa tự nhiên và tự nhiên thường gặp:
+ Các mối liên hệ trong một tổng thể của thể tổng hợp tự nhiên
Ví dụ: Khi học về khí hậu, các nhân tố nhiệt độ, độ ẩm, độ bốc hơi, lượng mưa,
hướng gió có mối liên hệ với nhau hay mối liên hệ giữa sự hình thành lớp vỏ Trái Đất
với nguồn tài nguyên khoáng sản
Dưới ảnh hưởng của gió phơn (gió Lào), miền Bắc Trung Bộ (Việt Nam) vào thời kì
đầu mùa hạ nhiệt độ không khí thường cao, độ ẩm hạ thấp.
+ Các mối liên hệ giữa hai hợp phần của tổng thể tự nhiên
Ví dụ: Giữa địa hình với khí hậu, giữa khí hậu với sông ngòi, giữa đất với thực vật.
Việt Nam có lượng mưa trung bình năm tương đối lớn, tập trung vào một mùamạng
lưới sông ngòi dày đặc, thủy chế sông ngòi có hai mùa lũ – cạn rõ rệt.
+ Các mối liên hệ giữa các hợp phần trong thể tổng hợp tự nhiên.

- Mối liên hệ giữa tự nhiên – xã hội và ngƣợc lại
Mối liên hệ giữa tự nhiên – xã hội được thể hiện qua vai trò của tự nhiên đối với sự
phát triển của xã hội như ảnh hưởng của tự nhiên đến sự phân bố dân cư, tự nhiên là cơ
sở vật chất của sự sống và sự tồn tại xã hội. Môi trường tự nhiên thuận lợi giúp cho xã
hội phát triển nhanh. Ngược lại, môi trường tự nhiên không thuận lợi sẽ giới hạn sự phát
triển của xã hội. Việc dạy học phân tích mối liên hệ giữa hiện tượng tự nhiên và hiện
tượng xã hội cần chỉ rõ những tác hại hay hỗ trợ của tự nhiên đối với sự phát triển của xã
hội, để từ đó học sinh có thể vận dụng cải tạo tự nhiên một cách có hiệu quả.
Mối liên hệ nhân quả giũa xã hội – tự nhiên là mối liên hệ giữa các yếu tố xã hội như
dân cư, chế độ xã hội, chính sách, chủ trương của một nước, kết cấu về tôn giáo đến tự
nhiên, làm cho tự nhiên có sự thay đổi.
Ví dụ:
+ Các nước nghèo nàn (nguyên nhân) dẫn đến nạn phá rừng một cách nghiêm trọng
(kết quả).
+ Sự cạn kiệt tài nguyên rừng ở Đông Nam Á xuất phát từ nguyên nhân ý thức bảo vệ
rừng của người dân chưa tốt và sự tiếp tay của chủ nghĩa tư bản nước ngoài.
- Mối liên hệ nhân quả giữa xã hội với xã hội 11
Trong Địa lí kinh tế - xã hội mối quan hệ này được thể hiện khá đậm nét, đặc biệt mối
liên hệ giữa dân cư với chất lượng cuộc sống, với trình độ học vấn, với điều kiện sinh
hoạt ở từng bài Địa lí các nước, các khu vực.
Ví dụ:
+ Tình trạng nghèo đói của nhiều nước châu Phi có nhiều nguyên nhân. Trong những
nguyên nhân đó có nguyên nhân dân số phát triển quá nhanh.
+ Dân số phát triển chậm gây ra tình trạng thiếu lao động trong hoạt động kinh tế ở
các nước châu Âu.
- Mối liên hệ nhân quả giữa hiện tƣợng xã hội với kinh tế
Đây là mối quan hệ giữa các tổ chức chính trị xã hội với tính chất của nền kinh tế,

làm cho tự nhiên biến đổi trong điều kiện thuận chiều hay nghịch chiều. Một tổng hợp thể
lãnh thổ sản xuất bao giờ cũng dựa vào sự gần gũi nhau về điều kiện tự nhiên, xã hội để
hình thành trên đó một số ngành chuyên môn hóa. Mối liên hệ giữa yếu tố tự nhiên và xã
hội là nguyên nhân để chuyên môn hóa sản xuất, trong đó yếu tố tự nhiên là điều kiện
không thể thiếu được.
Mỏ khoáng sản là một yếu tố có liên hệ đến sự phát triển và bố trí của các ngành công
nghiệp. Việc có đầy đủ nguyên liệu cho công nghiệp hay không góp phần thúc đẩy hoặc
hạn chế phần nào sự phát triển của công nghiệp. Dân cư, trình độ phát triển, chế độ chính
trị lại là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến sản xuất, sự phát triển của sản xuất lại là nguyên
nhân dẫn đến sự tập trung dân cư.
Việc phân loại mối liên hệ nhân quả giữa ba thành phần tự nhiên – kinh tế- xã hội
chính là thể hiện kiến thức trọn vẹn của bài Địa lí một nước, một khu vực. Tuy nhiên, sự
phối hợp tác động của ba thành phần này diễn ra ở mỗi nơi, mỗi lúc, trong từng khu vực,
từng quốc gia luôn có sự khác nhau. Phân tích chính xác sự khác nhau đó chính là tăng
giá trị kiến thức Địa lí, phát triển được tư duy lãnh thổ, tư duy logic ở học sinh.
II. CÁC BƢỚC HƢỚNG DẪN HỌC SINH THIẾT LẬP MỐI LIÊN HỆ NHÂN
QUẢ
Trong việc dạy học mối quan hệ nhân quả, bên cạnh việc xác định các mối quan hệ
nhân quả thì cách thức hướng dẫn học sinh hình thành các mối quan hệ nhân quả là cần
thiết và quan trọng.
Các mối quan hệ hân quả được phân làm nhiều loại, có loại đơn giản, loại phức tạp.
Mặt khác không phải bao giờ chúng cũng được thể hiện rõ ràng, có nhiều mối quan hệ
nhân quả ở dạng tiểm ẩn, có thể tiềm ẩn về nguyên nhân, có thể tiềm ẩn về kết quả. Do
đó, cách hình thành mỗi loại, mỗi dạng cũng có sự biến đổi linh hoạt.
Tuy nhiên, cách chung nhất cho việc hình thành mối quan hệ nhân quả Địa lí cho học
sinh nên đi theo trình tự các bước sau:
Bƣớc 1. Định hƣớng cho học sinh mục đích tìm các nguyên nhân
Từ bài học đầu tiên của lớp 6, giáo viên giới thiệu cho học sinh nhiệm vụ của khoa
học Địa lí và nhấn mạnh rằng: Địa lí hiện đại không chỉ mô tả tự nhiên mà chính là giải


và áp suất không khí có sự phụ thuộc nào không”
- Bài tập xác định mối liên hệ nhân quả theo mẫu. Ví dụ: Hãy giải thích vì sao ở
hoang mạc Xahara mưa lại ít, còn ở bồn địa Cônggô mưa nhiều (học sinh đã biết sự phụ 14
thuộc của lượng mưa vào dải áp suất khí quyển). Trong bài tập này đỏi hỏi đặt nó vào
một lãnh thổ cụ thể của lục địa.
- Bài tập có tính chất sáng tạo:
Các bài tập sáng tạo đòi hỏi phải tìm kiếm các nguyên nhân mới bên cạnh các nguyên
nhân đã biết.
Ví dụ: Vì sao trên sơn nguyên Êtiôpy lượng mưa lại lớn hơn bán đảo Xômali? (Do
bán đảo Xômali song song với hướng gió thổi, còn sơn nguyên Etiôpy nằm ở vị trí đón
gió.)
Tính phức tạp của bài tập là ở chỗ: So sánh hai lãnh thổ mà từ trước đến nay học sinh
chưa thiết lập mối liên hệ giữa hướng gió và lượng mưa rơi.
Bƣớc 4. Dạy học sinh tự lực tìm ra các nguyên nhân cần thiết.
Có thể theo quy trình sau:
a. Mối đối tượng hay hiện tượng có một loạt các dấu hiệu nhận biết. Hãy phân tích
dấu hiệu đầu tiên cần giải thích.
b. Hãy chỉ ra những đặc điểm của nó.
c. Hãy nhớ lại hay phát hiện ra các nguyên nhân mà những nguyên nhân đó có thể
giải thích các đặc điểm của dấu hiệu.
d. Hợp nhất dấu hiệu cần giải thích với những nguyên nhân cần thiết.
Vận dụng:
a.Giáo viên chỉ ra rằng: Khi nghiên cứu các đối tượng và hiện tượng, trước tiên cần
chú ý đến các dấu hiệu như: kích thước, hình dạng, màu sắc, vị trí của chúng trên bề mặt
đất.
Một trong những dấu hiệu của núi là độ cao. Vì vậy khi hoc sinh học về núi chúng ta
hãy tìm trên bản đồ xem chúng cao bao nhiêu.

Bản chất của phương pháp này là thể hiện mối liên quan giữa các kiến thức địa lí vì
vậy sử dụng sơ đồ để thiết lập mối liên hệ nhân quả là thích hợp hơn cả. Các sơ đồ sẽ
giúp cho HS nhận biết được những nét khái quát, cơ bản của mối liên quan giữa các kiến
thức với nhau; khi thể hiện thường kết hợp việc biểu hiện thức kiến thức với các hình vẽ
(mũi tên, các ô, các khung ) làm cho học sinh ghi nhớ dễ dàng hơn bằng hình ảnh trực
quan.
Bên cạnh đó việc giảng dạy bằng phương pháp sơ đồ sẽ đem lại cho học sinh một
cách học mới mẻ, khác với cách học truyền thống trước đây. Xa hơn, nếu học sinh từng
bước lập sơ đồ của bài học thì tính tích cực, sáng tạo của học sinh sẽ phát triển. Như vậy
phương pháp sơ đồ không những giúp học sinh lĩnh hội kiến thức mà còn giúp phát triển
tư duy. 16
Phương pháp này hỗ trợ được tất cả các khâu của quá trình dạy học (đặc biệt là khâu
hình thành kiến thức mới, ôn tập, củng cố.
b. Cách thiết kế
Giáo viên có thể sử dụng sơ đồ thiết lập mối quan hệ nhân quả theo các cách sau
đây:
- Cách 1: Sau khi trình bày xong nội dung mối quan hệ nhân quả, giáo viên đưa ra sơ
đồ nhằm hệ thống hóa và giúp cho học sinh nắm vững nội dung kiến thức. Cách này thích
hợp với đại đa số học sinh trung bình.
- Cách 2: Sử dụng sơ đồ để trình bày nội dung mối quan hệ nhân quả. Cách này thích
hợp với học sinh khá, giỏi. Giáo viên nên bắt đầu bằng việc đưa ra khung sơ đồ, sau đó
vừa trình bày nội dung mối quan hệ nhân quả vừa hoàn chỉnh sơ đồ.
c. Mẫu bài áp dụng
- Phương pháp sơ đồ hiệu quả nhất khi biểu hiện các mối liên hệ nhân quả phức tạp,
tổng quát như:
+ Mối liên hệ giữa các nhân tố tự nhiên
+ Mối liên hệ giữa các nhân tố tự nhiên với đặc điểm kinh tế

Nội dung bài này có liên quan chặt chẽ với Bài 26: Thiên nhiên châu Phi (tiết1). Mục
tiêu là phải thiết lập được cho học sinh mối quan hệ giữa các nhân tố hình thành nên đặc
điểm tự nhiên châu Phi. Mối quan hệ này được biểu diễn qua sơ đồ sau:
Sự luân phiên
ngày đêm
Trái đất tự quay
quanh trục
Sự lệch hướng
chuyển động
của vật thể
Giờ trên Trái
đất
Nhân tố hình
thành khí hậu
- Vị trí địa lí
- Hình dạng
lãnh thổ
- Hải lưu

sẵn, để học sinh hoàn chình sơ đồ.
- Đối với học sinh khá, giỏi giáo viên có thể từng bước thiết lập sơ đồ này ngay trong
bài dạy. Bằng các phương pháp khác nhau, giáo viên lần lượt hình thành đặc điểm của
từng nhân tố tự nhiên và sắp xếp chúng một cách có chủ định trên bảng. Ở bước tiếp
theo, giáo viên đóng khung nội dung kiến thức và yêu cầu học sinh lên bảng vẽ các mũi
tên thiết lập mối quan hệ.
Ví dụ 3:
Tiết 9: ÔN TẬP TỪ BÀI 1  BÀI 7 ( lớp 8 )
Mục tiêu của bài học này là hệ thống lại đặc điểm tự nhiên châu Á. Và cách hệ thống
hiệu quả nhất là hệ thống thông qua sơ đồ biểu diễn mối quan hệ giữa các nhân tố tự
nhiên. Tổng kết Thiên nhiên châu Á có 2 mối quan hệ nhân quả cơ bản sau:
- Mối quan hệ giữa vị trí địa lí, diện tích lãnh thổ, địa hình tới khí hậu cảnh quan
Châu Á. Sơ đồ biểu diễn mối quan hệ này:
Môi trường tự nhiên đa
dạng

Vị trí:
- Trải dài từ vùng cực Bắc
-> Xích đạo
- Giáp 3 Đại Dương lớn
Diện tich lãnh thổ
- Lớn nhất thế giới: 43,5 triệu
km
2
.
- Nhiều vùng xa biển > 2500km
Địa hình
- Phức tạp nhất
- Nhiều núi, sơn nguyên cao
đồ sộ và đồng bằng lớn
Khí hậu
- Phân hóa đa dạng, phức tạp, có đủ các đới và các
kiểu khí hậu.
- Chia 2 khu vực chính: Khí hậu gió mùa và Khí
hậu lục địa
Đài
nguyên
Rừng: Tai ga, hỗn hợp, lá
rộng, cây bụi lá cứng ĐTH,
rừng cận nhiệt, nhiệt đới ẩm.

Ví dụ 4:
Tiết 34: Bài 29: Vùng Tây Nguyên – Tiết 2 ( lớp 9 )
Mối quan hệ giữa điều kiện phát triển và thực trạng phát triển cây công nghiệp ở Tây
Nguyên có thể biểu diễn bằng sơ đồ đơn giản: Vị trí lãnh thổ
- Giáp 3 Đại dương lớn
- Rộng lớn nhất thế giới
Địa hình
- Nhiều núi, sơn nguyên
cao đồ sộ tập trung ở trung
tâm lục địa
Khí hậu
- Phân hóa đa dạng
- Có nhiều đới và nhiều
kiểu khí hậu
Nhiều sông lớn, chế độ nước
phức tạp
- Các sông lớn đều bắt nguồn từ trung
tâm lục địa đổ ra 3 đại dương lớn.
Sông ngòi Châu Á 21
Cao nguyên
xếp tầng
bằng phẳng
Khí hậu cận
xích đạo
Lao động có
kinh nghiệm
Hệ thống co
sở chế biến
phát triển
Đất bazan
màu mỡ
Phát triển vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm
(lớn thứ 2 cả nước) 22
Phương pháp giảng giải tương đối thông dụng. Nó được sử dụng trong việc lí giải mọi
mối liên hệ nhân quả. Trong một bài dạy, giáo viên có thể sử dụng phương pháp này
nhiều lần.
d. Bài dạy minh họa

Ví dụ 1:
Tiết 23: Bài 18: Thời tiết, khí hậu và nhiệt độ không khí ( lớp 6 )
Sơ đồ sau đây được sử dụng để biểu hiện mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí với các
yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến nó trong một lãnh thổ:


Tiết 22: Bài 19: Môi trƣờng hoang mạc ( lớp 7)
Nhìn vào bản đồ phân bố các hoang mạc trên Trái đất, học sinh dễ dàng nhận ra các
nguyên nhân hình thành hoang mạc như vị trí nằm sâu trong nội địa, có dòng biển lạnh
chảy ven bờ hoặc nằm hai bên đường Chí tuyến. Giáo viên cần giảng giải cho học sinh rõ
tại sao các nhân tố đó lại tham gia vào việc hình thành hoang mạc. Cụ thể:
- Những vùng nằm sâu trong nội địa ảnh hưởng của biển ít, thậm chí không có nên rất
hiếm mưa. Ví dụ như hoang mạc Gobi nằm sâu trong vùng nội địa châu Á
- Phía trên dòng biển lạnh nhiệt độ không khí thấp, hình thành áp cao, ngăn không cho
hơi nước từ biển vào nên vùng ven bờ khô hạn. Ví dụ: hoang mạc Atacama (phía tây
Nam Mĩ) có dòng biển lạnh Peru chạy ven bờ; hoang mạc Namip (phía tây khu vực Nam
Phi) có dòng biển lạnh Ben-gê-la chạy qua
- Dọc theo đường Chí tuyến là một dải áp cao có tính chất ổn định quanh năm. Dải áp
cao này ngăn không cho hơi nước bốc lên để ngưng tụ thành mây đồng thời ở đây chỉ có
gió thổi đi, không có gió thổi đến nên cũng khô hạn, ít mưa. Ví dụ: hoang mạc Xahara ở
Bắc Phi, hoang mạc Thar ở tây bắc khu vực Nam Á
Ví dụ 3
Tiết 49: Bài 41: Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ ( lớp 8)
Ở bài học này, đặc điểm khí hậu: “Tính chất nhiệt đới bị giảm sút, có một mùa đông
lạnh nhất cả nước ta” có thể được giải thích bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ này giúp cho học sinh hiểu rõ mối quan hệ giữa nguyên nhân là “vị trí và đặc
điểm địa hình của miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ” dẫn tới kết quả “Miền Bắc có mùa
đông lạnh”. Nhưng còn để học sinh hiểu: “Tại sao vị trí địa lí và đặc điểm địa hình của
miền Bắc và Đông Bắc làm cho miền này có mùa đông lạnh (miền Nam không có) ?”,
phương pháp giảng giải sẽ giải quyết vấn đề này.


- Do mức độ thuận lợi về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên. Những nơi hội
tụ được nhiều điều kiện thuận lợi về tự nhiên dân sẽ tập trung nhiều. Đồng bằng có điều
kiện sống thuận lợi hơn miền núi nên đông dân.

Ví dụ:
+ Đồng bằng Việt Nam chỉ chiếm 20% diện tích nhưng chiếm 75% dân số cả nước.
Mật độ dân số trung bình 600 người/km
2
. Những vùng mật độ dân số cao: Đồng bằng
sông Hồng 1225 người/km
2.
, Đồng bằng sông Cửu Long :429 người/km
2.
(số liệu 2006)
+ Miền núi Việt Nam ngược lại chiếm 80% diện tích nhưng chỉ chiếm 25% dân số.
Mật độ dân số trung bình 50 người/km
2
.Những vùng mật độ dân số thấp: Tây Bắc: 69
người/km
2.
( trong đó Lai Châu: 29 người/km
2.
), Tây Nguyên : 89 người/km
2.
(số liệu
2006)
- Do đặc điểm kinh tế kĩ thuật của từng ngành nghề. Có những ngành sản xuất đòi hỏi
phải có nhiều lao động như trồng lúa nước, trồng cây công nghiệp lâu năm, sản xuất hàng
tiêu dùng, chế biến lương thực, thực phẩm Những vùng nào gắn với các ngành nghề đó

nước mặn). Như vậy nguồn nguyên liệu cho ngành luôn được đảm bảo.
Việt Nam có 42,53 triệu lao động, chiếm 51,2% tổng số dân và mỗi năm được bổ
sung thêm 1 triệu lao động (số liệu 2005). Mặt khác, lao động Việt Nam giá rẻ so với lao
động các nước trong khu vựcvà trên thế giới. Đây là một nhân tố quan trọng góp phần
cung cấp lao động cho ngành chế biến lương thực thực phẩm, góp phần hạ giá thành sản
phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Ngành này còn có thị trường tiêu thụ rộng lớn: Thị trường nội địa với 84 triệu dân
(năm 2006) có sức mua lớn, thêm vào đó đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt nên nhu
cầu nâng cao chất lượng bữa ăn được chú trọng, do đó sản phẩm có thị trường tiêu thụ
Nguyên liệu
phong phú
Lao động đông,
rẻ
Thị trường tiêu
thụ lớn
Công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm phát triển mạnh

Trích đoạn Phƣơng pháp nêu vấn đề a Cơ sở lựa chọn phƣơng pháp KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status