MỤC LỤC
Trang
A. ĐẶT VẤN ĐỀ 2
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 2
II. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ 4
1. Mục đích 4
2. Nhiệm vụ 4
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 5
I. CÁC DẠNG MỐI LIÊN HỆ NHÂN QUẢ THƯỜNG GẶP TRONG CHƯƠNG
TRÌNH ĐỊA LÍ THCS 5
1. Khái niệm mối liên hệ và mối liên hệ nhân quả 5
2. Bản chất của mối quan hệ nhân quả 6
3. Cơ sở phân loại các mối liên hệ nhân quả 7
II. CÁC BƯỚC HƯỚNG DẪN HS THIẾT LẬP MỐI LIÊN HỆ NHÂN QUẢ 13
II. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY MỐI LIÊN HỆ ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THCS 16
1.Phương pháp sơ đồ 16
2.Phương pháp giảng giải 21
3. Phương pháp đàm thoại gởi mở 26
4. Phương pháp khai thác tri thức từ bản đồ 30
5. Phương pháp nêu vấn đề 34
C. KẾT LUẬN 40
I.NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 40
II. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 40
III. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môn Địa lí nghiên cứu chủ yếu các mối liên hệ giữa các sự vật và hiện tượng Địa lí
về mặt không gian, vì vậy hầu hết các kiến thức Địa lí chính là các mối liên hệ Địa lí.
giữa các hiện tượng của quá trình tự nhiên và kinh tế- xã hội trên lãnh thổ còn là con
đường để phát triển tư duy Địa lí cho học sinh.
Việc dạy học sinh xác lập các mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa to lớn đối với thực
tiễn dạy học hiện nay ở trường THCS:
- Giúp hình thành những kiến thức Địa lí cho học sinh (các khái niệm, biểu tượng,
mối quan hệ nhân quả ) trong đó khái niệm là kiến thức cơ sở.
- Thông qua việc hình thành mối quan hệ nhân quả làm cho năng lực học tập nói
chung và năng lực tự học Địa lí nói riêng của học sinh có điều kiện phát triển. Đây là
mục tiêu quan trọng của cải cách giáo dục môn Địa lí. Những kiến thức Địa lí ngày
càng nhiều khi khoa học ngày càng phát triển. Thời gian dành cho môn Địa lí có hạn
nên việc phát triển năng lực tự học của học sinh được đặc biệt quan tâm.
- Việc hình thành mối quan hệ nhân quả còn là mục tiêu của dạy học Địa lí. Khả
năng xác định được các mối quan hệ nhân quả là thước đo trình độ phát triển tư duy
của học sinh.
Thiết lập mối quan hệ nhân quả trong SGK cho học sinh là một biện pháp hết sức
quan trọng để phát triển tính tích cực, tính logic và tính khái quát cao trong học tập địa
lí của học sinh. Phương pháp này đòi hỏi học sinh phải biết khai thác tất cả các nguồn
kiến thức từ kênh chữ đến kênh hình để tự học, tự rèn luyện nâng cao trình độ kiến
thức, kĩ năng kĩ xảo nhằm trau dồi thế giới quan khoa học và phẩm chất đạo đức vốn
đã được thấm sâu vào trong nội dung kiến thức khoa học.
Tuy nhiên, khác với biểu tượng địa lí và khái niệm địa lí, mối liên hệ địa lí không
được trình bày rõ ràng, cụ thể trong sách giáo khoa. Việc giảng dạy mối liên hệ nhân
quả đòi hỏi giáo viên phải phát hiện, tổng hợp, xâu chuỗi kiến thức đồng thời phải kết
hợp sử dụng các phương tiện dạy học hỗ trợ khác. Các kiến thức được sử dụng nhiều
khi lại không nằm ngay trong nội dung một bài giảng mà phải huy động kiến thức cũ,
đặc biệt là những kiến thức mang tính khái quát, lí luận và cả thực tiễn cuộc sống.
Công việc này đòi hỏi giáo viên phải có một vốn kiến thức nhất định về mối quan hệ
3
nhân quả trong Địa lí và phải có một số kĩ năng cơ bản để nhận biết và giảng dạy mối
quan hệ nhân quả.
Theo quan niệm của các nhà triết học thì mối liên hệ được hiểu là “Sự tác động và
sự ràng buộc lẫn nhau, quy định sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố, các
bộ phận trong sự vật hoặc giữa các sự vật và hiện tượng với nhau”. Song dựa vào tính
chất, phạm vi, trình độ, vai trò của các mối liên hệ mà chúng được phân chia thành:
- Mối liên hệ bên trong- mối liên hệ bên ngoài: Mối liên hệ bên trong biểu hiện
mối liên hệ giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng. Mối liên hệ bên ngoài là liên hệ
giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
- Mối liên hệ bản chất và không bản chất: Mối liên hệ bản chất là mối liên hệ có
tính chất quyết định sự vận động và phát triển của sự vật – hiện tượng. Mối liên hệ
không bản chất là mối liên hệ phụ thuộc thứ yếu, đôi lúc nó đóng vai trò như là điều
kiện không quyết định đến đến sự chuyển hóa của sự vật, hiện tượng.
- Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp: Mối liên hệ trực tiếp là mối liên
hệ gần gũi tác động trực tiếp làm chuyển hóa, thay đổi các sự vật, hiện tượng. Mối liên
hệ này dễ nhận biết và là mối liên hệ chủ yếu. Mối liên hệ gián tiếp phải thông qua
điều kiện trung gian hoặc mối liên hệ trung gian. (Ví dụ mối liên hệ giữa khí hậu và sự
hình thành thổ nhưỡng.) Song tùy thuộc vào vai trò, vị trí của các thành phần trong
mối liên hệ đó mà có thể phân ra:
+ Mối liên hệ tương hỗ: Hai hoặc nhiều thành phần có tác dụng qua lại với nhau.
Ví dụ: Mối liên hệ giữa xã hội và môi trường.
+ Mối liên hệ nhân quả: Có thành phần là nguyên nhân sinh ra kết quả.
b. Mối liên hệ nhân quả
Mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ trong đó có sự tương quan, phụ thuộc một
chiều giữa các sự vật và hiện tượng. Chỉ có nguyên nhân mới sinh ra kết quả, không có
kết quả nào lại không bắt đầu từ nguyên nhân trước đó, trong khi đó kết quả không thể
sinh ra nguyên nhân ban đầu sinh ra nó, mà kết quả chỉ có thể trở thành nguyên nhân
khác của một kết quả khác.
5
Ví dụ:
+ Gió mùa Đông Bắc ở Việt Nam làm giảm nhiệt độ ở các vùng có gió đi qua.
+ Các dòng biển lạnh chạy ven bờ lục địa đã làm cho các vùng này trở thành hoang
biệt nguyên nhân cơ bản và nguyên nhân thứ yếu.
Ví dụ:
Việt Nam có thể phát triển các tuyến giao thông biển giữa các địa phương trong
nước và giữa nước ta với các nước khác trên thế giới là do:
+ Nước ta có đường bờ biển dài, ven biển có nhiều vụng, vịnh thuận lợi cho việc
xây dựng cảng nước sâu, nhiều cửa sông xây dựng cảng (nguyên nhân chủ yếu).
+ Nước ta nằm gần nhiều tuyến đường biển quốc tế quan trọng (nguyên nhân thứ
yếu)
Như vậy, việc xác định nguyên nhân chủ yếu là vấn đề hết sức quan trọng trong
việc khám phá bản chất, nguồn gốc của sự chuyển hóa nhân quả của sự vật, hiện
tượng.
- Nguyên nhân khác với điều kiện hay nguyên do.
Nguyên do là một sự kiện nào đó trực tiếp xảy ra trước kết quả, có liên hệ với kết
quả nhưng là sự liên hệ bên ngoài, không bản chất.
Nguyên nhân và điều kiện lại là hai khái niệm khác nhau có vai trò không giống
nhau trong quá trình sinh ra kết quả. Đièu kiện là tổng hợp những hiện tượng, không
phụ thuộc vào nguyên nhân, nhưng lại có khả năng sinh ra kết quả được chứa đựng
trong nguyên nhân để trở thành hiện thực. Điều kiện không tham gia vào bản thân kết
quả nhưng lại tham gia một cách tất yếu vào quá trình sinh ra kết quả. Điều kiện
thường hướng đến nguyên nhân, đến quá trình nhân quả, quy định cả nguyên nhân dẫn
đến kết quả.
Tóm lại, trong quá trình dạy học mối quan hệ nhân quả, cần nắm vững bản
chất mối quan hệ nhân quả để nhận rõ được vấn đề và có cách thức dạy học hợp lí.
3. Cơ sở phân loại các mối liên hệ nhân quả.
a. Dựa vào tính chất đơn giản hay phức tạp của mối liên hệ nhân quả.
Các mối liên hệ nhân quả được phân thành 2 loại:
- Mối liên hệ nhân quả đơn giản: Một nguyên nhân sinh ra một kết quả.
Ví dụ: Do nhận được phù sa của sông Mê Kông (nguyên nhân) nên đồng bằng
sông Cửu Long hằng năm được bồi đắp thêm (kết quả).
7
học Địa lí chính là học những vấn đề tác động qua lại giữa tự nhiên với tự nhiên; giữa
8
tự nhiên với kinh tế; giữa tự nhiên với dân cư; giữa tự nhiên – dân cư – kinh tế. Xuất
phát từ những mối quan hệ tác động qua lại giữa tự nhiên – kinh tế - xã hội, có thể
phân các mối quan hệ nhân quả ra làm nhiều loại:
- Mối liên hệ nhân quả giữa tự nhiên với tự nhiên
Mối liên hệ nhân quả giữa tự nhiên với tự nhiên là mối liên hệ giữa các thành phần
tự nhiên. Mối liên hệ này xảy ra trong thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên, trong đó các
thành phần, các yếu tố tự nhiên này ở một hoàn cảnh, một điều kiện cụ thể là nguyên
nhân. Nguyên nhân đó sinh ra một kết quả tự nhiên tương ứng thông qua một loạt mối
liên hệ nhân quả. Thường trong lĩnh vực tự nhiên nguyên hân sinh ra kết quả, thông
qua sự tác động tương hỗ, nhân quả về mặt vật lí, hóa học hoặc sinh học. Những mối
liên hệ nhân – quả đó biểu thị dưới dạng một chuỗi liên tục, bao trùm toàn bộ cơ chế
tác động qua lại của một hay nhiều nhân tố để tạo ra một kết quả hay nhiều kết quả.
Ví dụ: Sự thất thường của thời tiết ở vùng nội địa Bắc Mĩ là do địa hình Bắc Mĩ
chạy theo hướng kinh tuyến là chính. Học sính sẽ thấy dãy Cooc-đi-e và dãy A-pa-lat
như là hai bức tường thành hai bên đón gió lạnh từ phương Bắc xuống bổ sung lạnh
đến tận phía Nam Hoa Kì đồng thời tạo điều kiện cho không khí nóng ẩm xâm nhập
đến Ngũ Hồ trong mùa hè. Do đó tính chất cận nhiệt đới ở phía Nam trong mùa đông
bị xóa nhòa hoặc tính ôn đới hải dương phía Bắc bị thay đổi. Ở đây “nhân” chủ yếu là
địa hình và các khối khí (tự nhiên), “quả” là thời tiết thất thường (hiện tượng tự nhiên).
Các mối liên hệ giữa tự nhiên và tự nhiên thường gặp:
+ Các mối liên hệ trong một tổng thể của thể tổng hợp tự nhiên
Ví dụ: Khi học về khí hậu, các nhân tố nhiệt độ, độ ẩm, độ bốc hơi, lượng mưa,
hướng gió có mối liên hệ với nhau hay mối liên hệ giữa sự hình thành lớp vỏ Trái
Đất với nguồn tài nguyên khoáng sản
Dưới ảnh hưởng của gió phơn (gió Lào), miền Bắc Trung Bộ (Việt Nam) vào thời
kì đầu mùa hạ nhiệt độ không khí thường cao, độ ẩm hạ thấp.
+ Các mối liên hệ giữa hai hợp phần của tổng thể tự nhiên
Ví dụ: Giữa địa hình với khí hậu, giữa khí hậu với sông ngòi, giữa đất với thực vật.
thải của hoạt động sản xuất công nghiệp.
+ Quá trình phát triển của hệ thống giao thông vận tải đã làm cho tự nhiên bị biến
đổi.
- Mối liên hệ giữa tự nhiên – xã hội và ngược lại
10
Mối liên hệ giữa tự nhiên – xã hội được thể hiện qua vai trò của tự nhiên đối với sự
phát triển của xã hội như ảnh hưởng của tự nhiên đến sự phân bố dân cư, tự nhiên là cơ
sở vật chất của sự sống và sự tồn tại xã hội. Môi trường tự nhiên thuận lợi giúp cho xã
hội phát triển nhanh. Ngược lại, môi trường tự nhiên không thuận lợi sẽ giới hạn sự
phát triển của xã hội. Việc dạy học phân tích mối liên hệ giữa hiện tượng tự nhiên và
hiện tượng xã hội cần chỉ rõ những tác hại hay hỗ trợ của tự nhiên đối với sự phát triển
của xã hội, để từ đó học sinh có thể vận dụng cải tạo tự nhiên một cách có hiệu quả.
Mối liên hệ nhân quả giũa xã hội – tự nhiên là mối liên hệ giữa các yếu tố xã hội
như dân cư, chế độ xã hội, chính sách, chủ trương của một nước, kết cấu về tôn giáo
đến tự nhiên, làm cho tự nhiên có sự thay đổi.
Ví dụ:
+ Các nước nghèo nàn (nguyên nhân) dẫn đến nạn phá rừng một cách nghiêm
trọng (kết quả).
+ Sự cạn kiệt tài nguyên rừng ở Đông Nam Á xuất phát từ nguyên nhân ý thức bảo
vệ rừng của người dân chưa tốt và sự tiếp tay của chủ nghĩa tư bản nước ngoài.
- Mối liên hệ nhân quả giữa xã hội với xã hội
Trong Địa lí kinh tế - xã hội mối quan hệ này được thể hiện khá đậm nét, đặc biệt
mối liên hệ giữa dân cư với chất lượng cuộc sống, với trình độ học vấn, với điều kiện
sinh hoạt ở từng bài Địa lí các nước, các khu vực.
Ví dụ:
+ Tình trạng nghèo đói của nhiều nước châu Phi có nhiều nguyên nhân. Trong
những nguyên nhân đó có nguyên nhân dân số phát triển quá nhanh.
+ Dân số phát triển chậm gây ra tình trạng thiếu lao động trong hoạt động kinh tế ở
các nước châu Âu.
- Mối liên hệ nhân quả giữa hiện tượng xã hội với kinh tế
tổng hợp thể lãnh thổ sản xuất bao giờ cũng dựa vào sự gần gũi nhau về điều kiện tự
nhiên, xã hội để hình thành trên đó một số ngành chuyên môn hóa. Mối liên hệ giữa
yếu tố tự nhiên và xã hội là nguyên nhân để chuyên môn hóa sản xuất, trong đó yếu tố
tự nhiên là điều kiện không thể thiếu được.
Mỏ khoáng sản là một yếu tố có liên hệ đến sự phát triển và bố trí của các ngành
công nghiệp. Việc có đầy đủ nguyên liệu cho công nghiệp hay không góp phần thúc
đẩy hoặc hạn chế phần nào sự phát triển của công nghiệp. Dân cư, trình độ phát triển,
12
chế độ chính trị lại là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến sản xuất, sự phát triển của sản
xuất lại là nguyên nhân dẫn đến sự tập trung dân cư.
Việc phân loại mối liên hệ nhân quả giữa ba thành phần tự nhiên – kinh tế- xã hội
chính là thể hiện kiến thức trọn vẹn của bài Địa lí một nước, một khu vực. Tuy nhiên,
sự phối hợp tác động của ba thành phần này diễn ra ở mỗi nơi, mỗi lúc, trong từng khu
vực, từng quốc gia luôn có sự khác nhau. Phân tích chính xác sự khác nhau đó chính là
tăng giá trị kiến thức Địa lí, phát triển được tư duy lãnh thổ, tư duy logic ở học sinh.
II. CÁC BƯỚC HƯỚNG DẪN HỌC SINH THIẾT LẬP MỐI LIÊN HỆ NHÂN
QUẢ
Trong việc dạy học mối quan hệ nhân quả, bên cạnh việc xác định các mối quan hệ
nhân quả thì cách thức hướng dẫn học sinh hình thành các mối quan hệ nhân quả là
cần thiết và quan trọng.
Các mối quan hệ hân quả được phân làm nhiều loại, có loại đơn giản, loại phức
tạp. Mặt khác không phải bao giờ chúng cũng được thể hiện rõ ràng, có nhiều mối
quan hệ nhân quả ở dạng tiểm ẩn, có thể tiềm ẩn về nguyên nhân, có thể tiềm ẩn về kết
quả. Do đó, cách hình thành mỗi loại, mỗi dạng cũng có sự biến đổi linh hoạt.
Tuy nhiên, cách chung nhất cho việc hình thành mối quan hệ nhân quả Địa lí cho
học sinh nên đi theo trình tự các bước sau:
Bước 1. Định hướng cho học sinh mục đích tìm các nguyên nhân
Từ bài học đầu tiên của lớp 6, giáo viên giới thiệu cho học sinh nhiệm vụ của khoa
học Địa lí và nhấn mạnh rằng: Địa lí hiện đại không chỉ mô tả tự nhiên mà chính là
giải thích vì sao tự nhiên không giống nhau ở các vị trí khác nhau trên Địa Cầu.Vậy
- Bài tập xác định mối liên hệ nhân quả theo mẫu. Ví dụ: Hãy giải thích vì sao ở
hoang mạc Xahara mưa lại ít, còn ở bồn địa Cônggô mưa nhiều (học sinh đã biết sự
phụ thuộc của lượng mưa vào dải áp suất khí quyển). Trong bài tập này đỏi hỏi đặt nó
vào một lãnh thổ cụ thể của lục địa.
- Bài tập có tính chất sáng tạo:
Các bài tập sáng tạo đòi hỏi phải tìm kiếm các nguyên nhân mới bên cạnh các
nguyên nhân đã biết.
Ví dụ: Vì sao trên sơn nguyên Êtiôpy lượng mưa lại lớn hơn bán đảo Xômali? (Do
bán đảo Xômali song song với hướng gió thổi, còn sơn nguyên Etiôpy nằm ở vị trí đón
gió.)
14
Tính phức tạp của bài tập là ở chỗ: So sánh hai lãnh thổ mà từ trước đến nay học
sinh chưa thiết lập mối liên hệ giữa hướng gió và lượng mưa rơi.
Bước 4. Dạy học sinh tự lực tìm ra các nguyên nhân cần thiết.
Có thể theo quy trình sau:
a. Mối đối tượng hay hiện tượng có một loạt các dấu hiệu nhận biết. Hãy phân tích
dấu hiệu đầu tiên cần giải thích.
b. Hãy chỉ ra những đặc điểm của nó.
c. Hãy nhớ lại hay phát hiện ra các nguyên nhân mà những nguyên nhân đó có thể
giải thích các đặc điểm của dấu hiệu.
d. Hợp nhất dấu hiệu cần giải thích với những nguyên nhân cần thiết.
Vận dụng:
a.Giáo viên chỉ ra rằng: Khi nghiên cứu các đối tượng và hiện tượng, trước tiên cần
chú ý đến các dấu hiệu như: kích thước, hình dạng, màu sắc, vị trí của chúng trên bề
mặt đất.
Một trong những dấu hiệu của núi là độ cao. Vì vậy khi hoc sinh học về núi chúng
ta hãy tìm trên bản đồ xem chúng cao bao nhiêu.
b. Tìm đặc điểm của dấu hiệu cần giải thích, dấu hiệu nào để phân biệt các đối
tượng với nhau.
Ví dụ: Dựa vào độ cao người ta phân biệt núi thấp, núi cao và núi trung bình.
ảnh trực quan.
Bên cạnh đó việc giảng dạy bằng phương pháp sơ đồ sẽ đem lại cho học sinh một
cách học mới mẻ, khác với cách học truyền thống trước đây. Xa hơn, nếu học sinh
từng bước lập sơ đồ của bài học thì tính tích cực, sáng tạo của học sinh sẽ phát triển.
Như vậy phương pháp sơ đồ không những giúp học sinh lĩnh hội kiến thức mà còn
giúp phát triển tư duy.
Phương pháp này hỗ trợ được tất cả các khâu của quá trình dạy học (đặc biệt là
khâu hình thành kiến thức mới, ôn tập, củng cố.
b. Cách thiết kế
Giáo viên có thể sử dụng sơ đồ thiết lập mối quan hệ nhân quả theo các cách
sau đây:
16
- Cách 1: Sau khi trình bày xong nội dung mối quan hệ nhân quả, giáo viên đưa ra
sơ đồ nhằm hệ thống hóa và giúp cho học sinh nắm vững nội dung kiến thức. Cách này
thích hợp với đại đa số học sinh trung bình.
- Cách 2: Sử dụng sơ đồ để trình bày nội dung mối quan hệ nhân quả. Cách này
thích hợp với học sinh khá, giỏi. Giáo viên nên bắt đầu bằng việc đưa ra khung sơ đồ,
sau đó vừa trình bày nội dung mối quan hệ nhân quả vừa hoàn chỉnh sơ đồ.
c. Mẫu bài áp dụng
- Phương pháp sơ đồ hiệu quả nhất khi biểu hiện các mối liên hệ nhân quả phức
tạp, tổng quát như:
+ Mối liên hệ giữa các nhân tố tự nhiên
+ Mối liên hệ giữa các nhân tố tự nhiên với đặc điểm kinh tế
+ Mối liên hệ giữa các nhân tố xã hội với các nhân tố kinh tế
- Những bài học thích hợp nhất để sử dụng phương pháp này:
+ Thiên nhiên các châu lục, các khu vực của châu lục
+ Ôn tập khái quát đặc điểm tự nhiên- xã hội- kinh tế một châu lục.
d. Các bài dạy minh họa
Ví dụ 1:
Tiết 7 Bài 7: Sự vận động tự quay quanh trục của Trái đất và các hệ quả ( lớp 6)
- Hải lưu
- Địa hình
Khí hậu
- Khô nóng
- Phân bố mưa
không đồng
đều
Cảnh quan
- Đa dạng
- Chủ yếu là
xavan và
hoang mạc
Môi trường tự nhiên đa
dạng
Cận nhiệt
ĐTH
Hoang mạc
Nhiệt đới
Xích
đạo ẩm
Môi trường tự nhiên đa
dạng
Nhân tố hình
thành khí hậu
Khí hậu
Cảnh quan
- Đối với học sinh khá, giỏi giáo viên có thể từng bước thiết lập sơ đồ này ngay
trong bài dạy. Bằng các phương pháp khác nhau, giáo viên lần lượt hình thành đặc
điểm của từng nhân tố tự nhiên và sắp xếp chúng một cách có chủ định trên bảng. Ở
bước tiếp theo, giáo viên đóng khung nội dung kiến thức và yêu cầu học sinh lên bảng
Đài
nguyên
Rừng: Tai ga, hỗn hợp, lá
rộng, cây bụi lá cứng ĐTH,
rừng cận nhiệt, nhiệt đới ẩm.
Hoang mạc và
bán hoang mạc
Cảnh quan núi
cao
Vị trí lãnh thổ
- Giáp 3 Đại dương lớn
- Rộng lớn nhất thế giới
Địa hình
- Nhiều núi, sơn nguyên
cao đồ sộ tập trung ở trung
tâm lục địa
Khí hậu
- Phân hóa đa dạng
- Có nhiều đới và nhiều
kiểu khí hậu
Cảnh quan
- Đa dạng: có nhiều đới và kiểu cảnh quan khác nhau
Để hình thành sơ đồ này, giáo viên có thể ra các bài tập:
- Trình bày bằng sơ đồ đặc điểm vị trí, hình dạng lãnh thổ, địa hình và ảnh hưởng
của chúng tới khí hậu cảnh quan Châu Á.
- Trình bày bằng sơ đồ đặc điểm vị trí địa lí, hình dạng lãnh thổ, đia hình, khí hậu
và ảnh hưởng của chúng tới sông ngòi châu Á.
Giáo viên có thể cho trước khung sơ đồ, yêu cầu học sinh điền nội dung và đánh
mũi tên chỉ mối quan hệ để hoàn chỉnh sơ đồ. Hoặc cho các mảnh ghép kiến thức với
các mũi tên, yêu cầu học sinh hình thành sơ đồ dựa vào những kiến thức đã được học.
kiện, hiện tượng địa lí. Ví dụ như giải thích nguyên nhân sinh ra thủy triều, nguyên
nhân gây nên sự đình đốn của một ngành sản xuất
Đây là phương pháp truyền thống nhưng lại hỗ trợ đắc lực cho phương pháp sơ đồ
trong những trường hợp sơ đồ chưa làm rõ mối liên quan giữa các kiến thức, không
làm rõ ý nghĩa, bản chất của mối quan hệ đó. Bằng các dẫn chứng và ví dụ minh họa,
phương pháp giảng giải sẽ đem lại hiệu quả cao trong việc cụ thể hóa mối quan hệ
nhân quả, giúp học sinh khắc sâu kiến thức.
b. Cách thiết kế
Phương pháp giảng giải thường kết hợp với các phương tiện trực quan (tranh ảnh,
số liệu, bản đồ, biểu đồ ) để minh họa cho lời giải thích. Trong khi giải thích, giáo
viên có thể dùng biện pháp quy nạp, trước tiên đưa ra các số liệu, sự kiện, hiện tượng
địa lí cụ thể rồi sau đó mới đi tìm nguyên nhân, rút ra kết luận hoặc ngược lại cũng có
thể dùng biện pháp diễn dịch, đưa ra các kết luận trước rồi sau đó mới trình bày
nguyên nhân.
Với xu hướng tăng cường phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, phương
pháp giảng giải thường kết hợp với phương pháp đàm thoại để trở thành một biện pháp
yêu cầu học sinh tìm và phát biểu về mối quan hệ nhân quả. Việc giải thích trước đây
thường do giáo viên chủ động thực hiện, nay được chuyển thành các câu hỏi để cho
học sinh trả lời.
c. Mẫu bài áp dụng
Phương pháp giảng giải tương đối thông dụng. Nó được sử dụng trong việc lí giải
mọi mối liên hệ nhân quả. Trong một bài dạy, giáo viên có thể sử dụng phương pháp
này nhiều lần.
d. Bài dạy minh họa
Ví dụ 1:
Tiết 23: Bài 18: Thời tiết, khí hậu và nhiệt độ không khí ( lớp 6 )
Sơ đồ sau đây được sử dụng để biểu hiện mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí với
các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến nó trong một lãnh thổ:
21
Sơ đồ này giúp cho học sinh biết các nhân tố ảnh hưởng tới nhiệt độ không khí.
hay xa biển
- Phía trên dòng biển lạnh nhiệt độ không khí thấp, hình thành áp cao, ngăn không
cho hơi nước từ biển vào nên vùng ven bờ khô hạn. Ví dụ: hoang mạc Atacama (phía
tây Nam Mĩ) có dòng biển lạnh Peru chạy ven bờ; hoang mạc Namip (phía tây khu vực
Nam Phi) có dòng biển lạnh Ben-gê-la chạy qua
- Dọc theo đường Chí tuyến là một dải áp cao có tính chất ổn định quanh năm. Dải
áp cao này ngăn không cho hơi nước bốc lên để ngưng tụ thành mây đồng thời ở đây
chỉ có gió thổi đi, không có gió thổi đến nên cũng khô hạn, ít mưa. Ví dụ: hoang mạc
Xahara ở Bắc Phi, hoang mạc Thar ở tây bắc khu vực Nam Á
Ví dụ 3
Tiết 49: Bài 41: Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ ( lớp 8)
Ở bài học này, đặc điểm khí hậu: “Tính chất nhiệt đới bị giảm sút, có một mùa
đông lạnh nhất cả nước ta” có thể được giải thích bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ này giúp cho học sinh hiểu rõ mối quan hệ giữa nguyên nhân là “vị trí và
đặc điểm địa hình của miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ” dẫn tới kết quả “Miền Bắc có
mùa đông lạnh”. Nhưng còn để học sinh hiểu: “Tại sao vị trí địa lí và đặc điểm địa
hình của miền Bắc và Đông Bắc làm cho miền này có mùa đông lạnh (miền Nam
không có) ?”, phương pháp giảng giải sẽ giải quyết vấn đề này.
Sở dĩ miền này có mùa đông lạnh nhất Việt Nam vì nằm ngay ở vị trí đón gió mùa
mùa Đông, loại gió thổi vào nước ta theo hướng Đông Bắc và đặc điểm của nó là lạnh
và khô, địa hình của miền này lại thấp và có các cánh cung mở rộng đón gió cho nên
gió mùa Đông Bắc dễ đi sâu vào bên trong. Bằng phương pháp này chúng ta có thể
minh họa những ví dụ cụ thể. Ví dụ: Ở miền Bắc vào mùa Đông nhiệt độ có lúc xuống
tới 6 - 9
0
C còn cùng lúc đó ở miền Nam nhiệt độ vẫn là 30-35
0
C, chứng tỏ miền Bắc và
Đông Bắc có một mùa đông lạnh.
Ví dụ 4:
số. Mật độ dân số trung bình 50 người/km
2
.Những vùng mật độ dân số thấp: Tây Bắc:
69 người/km
2.
( trong đó Lai Châu: 29 người/km
2.
), Tây Nguyên : 89 người/km
2.
(số liệu
2006)
- Do đặc điểm kinh tế kĩ thuật của từng ngành nghề. Có những ngành sản xuất đòi
hỏi phải có nhiều lao động như trồng lúa nước, trồng cây công nghiệp lâu năm, sản
xuất hàng tiêu dùng, chế biến lương thực, thực phẩm Những vùng nào gắn với các
ngành nghề đó sẽ đông dân. VD: Đồng bằng sông Hồng đông dân do có nghề trồng lúa
nước thâm canh.
- Do trình độ phát triển kinh tế và mật độ đô thị khác nhau giữa các vùng. Những
vùng kinh tế phát triển, mật độ đô thị cao thường có sức hút dân cư do khả năng tạo
việc làm và sức hấp dẫn của lối sống. Ví dụ: Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ.
- Do chính sách dân số: Chính sách khuyến khích di dân phát triển vùng kinh tế
mới cũn tác động không nhỏ đến bức tranh phân bố dân cư. Tây Nguyên hiện nay
đông hơn Tây Bắc do di dân từ Đồng bằng sông Hồng , Bắc Trung Bộ.
24
Ví dụ 5:
Tiết 14: Bài 12: Sự phát triển và phân bố công nghiệp ( lớp 9)
Khi dạy mục “Các ngành công nghiệp trọng điểm của Việt Nam”, sự phát triển
ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm có thể lí giải bằng sơ đồ:
Sơ đồ này giúp học sinh thấy mối quan hệ giữa nguyên nhân là “ nguyên liệu
phong phú, lao động đông, rẻ; thị trường rộng lớn” với kết quả là “Công nghiệp chế
biến lương thực thực phẩm phát triển mạnh”. Tuy nhiên để học sinh có thể thấy rõ