LUẬN VĂN TIẾN SĨ
ĐỀ TÀI:
Định vị thời gian trong tiếng Việt dưới góc nhìn của
ngôn ngữ học tri nhận (So sánh với tiếng Anh)1
DẪN NHẬP
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, quan hệ giữa con người
với thời gian có một ý nghĩa đặc biệt. Có thể nói, quá trình phát triển của nhân loại
gắn liền với thời gian lịch sử. Con người nhận thức thời gian và sự nhận thức này
được phản ánh theo những hình thức biểu hiện riêng biệt của từng ngôn ngữ. Và
như vậy, ngôn ngữ là một trong những công cụ tri nhận về thời gian của loài người.
Trong ngôn ngữ học, vấn đề thời gian, định vị thời gian trong các câu phát
ngôn của một số ngôn ngữ đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm và nghiên
cứu từ lâu.
Đối với tiếng Việt, có thể nói rằng từ cuối thế kỷ XIX trở về trước, vấn đề
này chưa thật sự trở thành một đối tượng nghiên cứu có tính chất hệ thống. Chỉ bắt
đầu từ năm 1883 - năm cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (Grammaire de la language
Anammite) của Trương Vĩnh Ký ra đời - trở về sau, mới có khá nhiều công trình
lập bức tranh thời gian trong tiếng Việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận cũng là
điều cần thiết.
Cho đến nay, đề tài nghiên cứu về thời gian, về vấn đề định vị thời gian trong
tiếng Việt theo góc độ tri nhận vẫn còn là đề tài hấp dẫn, thú vị, có sức mời gọi
người nghiên cứu.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề thời gian trong tiếng Việt. Chính sự
khác biệt trong quan điểm và phương pháp nghiên cứu khác nhau của các tác giả đã
dẫn đến sự nhận thức khác nhau, thậm chí là đối lập nhau. Có lẽ nên có thêm nhiều
sự đóng góp nữa về vấn đề thời gian, định vị thời gian, cũng như xác lập bức tranh
ngôn ngữ thời gian trong tiếng Việt dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận; để từ
đó, có thể tổng hợp lại các công trình nghiên cứu và đi đến một sự thống nhất về
quan điểm, về phương pháp nghiên cứu, đồng thời triển khai, xây dựng và thống
nhất vấn đề một cách có hệ thống.
Trong lĩnh vực ý nghĩa của ngôn ngữ và tương ứng với nó là lĩnh vực khái
niệm, ý niệm việc xác lập một số phạm trù ngữ nghĩa cơ bản dưới góc nhìn của
ngôn ngữ học tri nhận là một điều hết sức cần thiết để có thể xây dựng được một hệ
thống ngữ nghĩa có tính chất đầy đủ và khoa học. Cũng như các phạm trù khác
chẳng hạn như “không gian”, “tư duy”, “vật chất” v.v…, phạm trù thời gian trong
tiếng Việt cần được ngữ nghĩa hoá một cách có hệ thống dựa trên cơ sở phân tích ý
nghĩa và phân loại các thành tố ngôn ngữ nằm trong phạm trù này. Bên cạnh việc
xác lập ngữ nghĩa thời gian, việc nghiên cứu thời gian và ngôn ngữ thời gian trong
tiếng Việt có thể được xem xét từ nhiều góc độ (ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng, tri
nhận, văn hóa,v.v…) , từ nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng xét cho cùng, cần dựa
vào đặc trưng riêng của bản ngữ trong sự miêu tả, sự nhận diện thời gian chứ
không nên dựa vào một định kiến có sẵn, một sự áp đặt khiên cưỡng nào. Và nếu có
được như thế thì mới có thể thấy được cái tâm hồn, cái văn hóa dân tộc ẩn chứa
trong cách biểu hiện thời gian của người Việt bằng chính ngôn ngữ dân tộc.
2. NHIỆM VỤ, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
2.1. Với những lí do và mục đích đã trình bày ở trên, nhiệm vụ cơ bản của luận án
3. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
3.1. Đã có khá nhiều công trình ngôn ngữ học ít nhiều đề cập đến vấn đề định vị,
nhận diện thời gian trong tiếng Việt với nhiều góc độ khác nhau theo quan điểm
truyền thống hoặc theo quan điểm tri nhận. Một số các nhà ngôn ngữ học Việt Nam
(và người nước ngoài) theo khuynh hướng truyền thống cho rằng sự định vị thời
gian trong tiếng Việt có liên quan đến thì của một số loại hình ngôn ngữ ở một số
các nước Ấn Âu.Và vì vậy, họ cho rằng tiếng Việt có phạm trù thì hiểu như một
phạm trù ngữ pháp. Lại có một số nhà ngôn ngữ học khác phủ nhận về một phạm
trù thì trong tiếng Việt. Với sự ra đời của ngành ngôn ngữ học tri nhận, việc định vị,
nhận diện thời gian trong tiếng Việt được nghiên cứu theo hướng đi mới. Điều cần
thấy là, bên cạnh các ý kiến tương đối đối lập nhau, phần lớn các tác giả đều có một
hướng đi chung: tìm ra những đặc điểm riêng về ý niệm thời gian, về sự định vị thời
gian ở tiếng Việt trong sự so sánh đối chiếu với một hay nhiều ngôn ngữ khác.
3.2. Dựa trên quan điểm truyền thống và quan điểm tri nhận, phần lịch sử vấn đề
trong luận án này sẽ được trình bày có tính chất tổng thuật theo hai nhóm ý kiến:
3.2.1. Theo quan điểm truyền thống:
3.2.1.1. Đại biểu các nhà ngôn ngữ học cho rằng tiếng Việt có phạm trù thời gian
hiểu như một phạm trù ngữ pháp kiểu châu Âu:
a) Có lẽ Trương Vĩnh Ký là người tiên phong trong việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng
Việt. Tuy chịu ảnh hưởng nhiều của ngữ pháp các tiếng châu Âu trong quá trình 4
soạn thảo ngữ pháp tiếng Việt nhưng tác giả có chú ý đến những điểm riêng biệt của
tiếng Việt trong việc định vị thời gian. Ông nhấn mạnh đến vai trò của hư từ và các
phụ tố trong việc định vị thời gian; đồng thời trong việc lấy cách nói thường ngày
của người Việt (trong sự so sánh đối chiếu giữa các câu tiếng Việt và câu tiếng
Pháp), chẳng hạn như các câu sau:
(1) Hôm qua trời mưa.
(2) Bây giờ trời nắng.
5
sắp v.v… [42, tr. 111-114]
c) Lê Văn Lý cho rằng để diễn đạt các ý nghĩa về thời gian trong tiếng Việt, người
ta dùng các ngữ vị chỉ thì. Các ngữ vị chỉ thì này được thể hiện bằng các từ chứng
như đã, đang, sẽ v.v… và được chia làm ba loại:
- Ngữ vị chỉ kỳ gian: bao gồm những ngữ vị như đang (chỉ kỳ gian trong quá
khứ cũng như trong tương lai), vẫn (chỉ kỳ gian trong hiện tại, quá khứ, tương lai),
vốn (chỉ kỳ gian trong quá khứ).
- Ngữ vị chỉ thì quá khứ: bao gồm các từ ngữ như đã, rồi, đoạn, vừa mới (những
ngữ vị chỉ thì này có thể đứng trước hoặc sau động từ).
- Ngữ vị chỉ thì tương lai: bao gồm các từ ngữ như sẽ, sắp, gần.
Tiếng Việt không có ngữ vị riêng để chỉ thì hiện tại. [53, tr.72-77]
d) Phan Khôi, tác giả của “Việt ngữ nghiên cứu”, khi so sánh đối chiếu giữa yếu tố
không gian và thời gian, đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của thời gian trong ngôn
ngữ của loài người nói chung và trong tiếng Việt nói riêng: “bất luận tiếng nói nước
nào, thời gian được coi là quan trọng hơn không gian bội phần”, “tiếng ta cũng
vậy, cũng coi trọng thời gian hơn không gian.”.
Tác giả cho rằng động từ tiếng Việt cũng chia thì: “ … phải nói rằng tiếng
Việt chia thì của động từ” nhưng “bằng một cách khác với mấy thứ tiếng Âu châu”.
Tiếng Việt chia thì của động từ “bằng cách dùng một số phó từ chỉ thời gian và phó
từ đặc biệt chẳng hạn như: bây giờ, hôm qua, mai…, đà, đã, đã rồi, đang, hiện
đang, đang còn, sẽ, rồi sẽ, từng, vốn, vẫn, vừa, vừa mới, bưa vừa, sắp, rắp, chưa,
còn chưa, để rồi, v.v….” .Và theo ông thì “Những chữ như đã, đang, sẽ mới thật là
biểu diễn cái hồn của thì” [41, tr.114].
Tuy nhiên, bằng trực giác bản ngữ, tác giả cũng đã thấy được tính tương đối
trong việc định thì của các từ đang, đã, sẽ. Một phó từ (trong nhóm phó từ đặc biệt
này) có thể khi thì biểu thị thời hiện tại, khi thì biểu thị thời quá khứ, khi thì biểu thị
thời tương lai, ví dụ:
ngữ cảnh cụ thể. Thời gian cơ bản là cái mốc và như thế chỉ tố đã xác định một
hành động diễn ra trước thời gian cơ bản, còn chỉ tố sẽ xác định một hành động xảy
ra sau thời gian cơ bản.
Hành động xảy ra trước TGCB Hành động xảy ra sau
x
X x
(đã) (sẽ)
Trong những câu phức, việc xác định thời gian của mệnh đề phụ luôn phải
được đặt trong mối tương quan với thời gian trong mệnh đề chính. Nói cách khác,
thì trong mệnh đề phụ phải được đặt trong mối tương quan với thì của mệnh đề
chính. [149, tr.209-220]
g) Trần Ngọc Ninh, tác giả của “Cơ cấu Việt ngữ”, thông qua việc so sánh đối chiếu
với hệ thống các phạm trù thời gian Ấn-Âu, trên cơ sở phân tích “dạng vị”, đã cố
tìm ra những đặc trưng riêng biệt trong cách thể hiện phạm trù thời gian của tiếng
Việt. Theo ông, thời gian ở tiếng Việt được phân định theo phép lưỡng nguyên
(khác với đặc trưng tam phân: hiện tại, quá khứ và tương lai của các ngôn ngữ Ấn
Âu). Trần Ngọc Ninh dựa trên bốn từ: đang, đã, sắp, sẽ để định ra phép lưỡng
phân. Phép lưỡng phân cho ta hai dạng vị: quá khứ và hiện tại hợp nhất, tương lai.
Dạng vị quá khứ và hiện tại hợp nhất (/đ-/ : đã và đang) chỉ rằng sự diễn tiến của sự
trạng là một thực tế vì sự trạng ấy xảy ra ở một thời đã tới. Còn dạng vị tương lai
(/s-/: sắp và sẽ) thì chỉ ra rằng sự trạng chỉ mới tồn tại trong quan niệm chứ chưa
được tồn tại trong hiện thực. Phép lưỡng phân đưa đến những cặp phạm trù thời
gian đối lập: cặp thực hiện / chưa thực hiện tương ứng với cặp không vị lai / vị lai.
[57, tr.115-123] 7
3.2.1.2. Đại biểu các nhà ngôn ngữ học cho rằng tiếng Việt không có phạm trù
thời gian hiểu như một phạm trù ngữ pháp kiểu châu Âu. Phạm trù thời gian trong
tiếng Việt được nhận thức theo cách riêng, chủ yếu là trên phương diện từ vựng,
ngữ pháp biểu thị phạm trù thời của động từ tiếng Việt.
- Trường hợp nhất định phải sử dụng và trường hợp không thể sử dụng phó từ
chỉ thể - thời.
Tác giả đã đi đến kết luận: “phạm trù thời không phải là phạm trù ngữ pháp
đặc biệt của động từ tiếng Việt. Đã, đang, sẽ, vừa, mới… là những từ chỉ thể - thời 8
tức là chỉ sự tiến hành hay hoàn thành trong thời gian và việc sử dụng những phó từ
biểu thị thể - thời ở bộ phận vị ngữ thuộc về phạm vi cấu trúc của câu.” [75, tr.187 ]
Nguyễn Kim Thản cũng đã phản bác quan niệm của Trương Vĩnh Ký khi
ông Trương Vĩnh Ký cho rằng: “khi thời đã được biểu thị bằng một phó từ (chỉ thời
gian) hay bằng một mệnh đề phụ thuộc thì không cần dùng đến tiểu từ chỉ thời
nữa.”. Ông đã đưa ra các ví dụ sau [75 ,tr. 193] để minh họa cho điều phản bác nói
trên:
(1) Bây giờ phải đem con đi bán, u đã chết từng khúc ruột rồi đấy, con ạ.
(Ngô Tất Tố)
(2) Cuộc sống như cuộc sống của chúng ta đang sống bây giờ đã thật có gì
đáng cho ta thấy vui chưa? ( Nam Cao)
(3) Bây giờ tôi sẽ dẫn đồng chí đến khách sạn. (Trần Dân Tiên- những mẩu
chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Hà Nội, 1955)
Tác giả đã đề cập về việc sử dụng phó từ có tính bắt buộc trong câu giả
thiết:“Khi có vế câu giả thiết về một sự việc trong quá khứ, thì vế chỉ kết quả phải
được phó từ chỉ hoàn thành - quá khứ xác định.”
Ông cũng là người đầu tiên đã thống kê tần số sử dụng của những phó từ
thể- thời này trong các phong cách ngôn ngữ và các văn bản khác nhau. [75, tr.183-
193]
c) Nguyễn Tài Cẩn, trong phần trình bày động ngữ [6, tr.246-302], đã khảo sát và
phân tích một số các từ như từng, đã, vừa, mới, đang, sẽ,…, hãy, đừng, chớ nằm ở
ứng hoặc mối quan hệ chặt chẽ với những đơn vị từ vựng biểu thị không gian. Sự
mở rộng từ nghĩa không gian đến nghĩa thời gian thường diễn ra một chiều và
không bao giờ có chiều ngược lại.
- Mối quan hệ giữa nghĩa không gian và thời gian là một đặc trưng có tính chất
phổ quát của nhiều ngôn ngữ khác nhau, trong đó có tiếng Việt. Cứ liệu về mối
quan hệ giữa không gian và thời gian trong tiếng Việt cũng đặc biệt phong phú và
đa dạng.
- Không gian và thời gian là thống nhất cả trong nhận thức và trong quan niệm
của người Việt Nam.
- Từ hiện tượng thống nhất này có thể rút ra một hệ quả có ý nghĩa thực tiễn đối
với công việc biên soạn tự điển. [71, tr.39-47]
f) Hai tác giả F.E Huffman và Trần Trọng Hai [119] nhấn mạnh vai trò của ngữ
cảnh trong việc xác định thì của một phát ngôn. Trong tiếng Việt, thì (hoặc thời gian
tương đối) của vị từ phần lớn do ngữ cảnh quy định. Do ngữ cảnh mà một câu có
cùng một ý nghĩa mà có thể được viết ở nhiều thì khác nhau.Ví dụ trong câu “Tôi
làm điều đó”, tùy theo ngữ cảnh mà có thể được viết như sau:
I do that. (thì hiện tại). I’m doing that. (thì hiện tại diễn tiến)
(Tôi làm điều đó.) (Tôi đang làm điều đó.)
I did that (thì quá khứ). I’ve done that (thì hiện tại hoàn thành)
(Tôi đã làm điều đó.) (Tôi đã làm điều đó.)
I’ll do that (thì tương lai)
(Tôi sẽ làm điều đó.)
Tuy nhiên ở tiếng Việt, khi ngữ cảnh không có khả năng xác định thời gian
hoặc khi nhấn mạnh vào mối quan hệ thời gian của các sự kiện thì cần sử dụng các
chỉ tố thì như đang, đã, sẽ….Những chỉ tố này không có tính chất thuần túy ngữ 10
pháp như trong ngôn ngữ Ấn Âu mà trong một số trường hợp chúng kiêm nhiệm
thêm một số chức năng ngữ nghĩa.[119, tr.261]
- Xét về mặt ngữ pháp, thời gian là một phạm trù ngữ pháp được biểu hiện qua
động từ; xét về mặt ngữ nghĩa, thời gian biểu hiện trong các tình huống cụ thể của
các trạng thái, sự kiện, hành động, phát ngôn….Thời gian là một phạm trù phổ quát
trong ngôn ngữ. Hầu hết các ngôn ngữ đều có các phương thức thể hiện và nhận
diện thời gian, trong đó có tiếng Việt.
- Trong tiếng Việt, không có một lớp từ riêng biệt chuyên thể hiện thời gian như
một phạm trù ngữ pháp. Nói cách khác, tiếng Việt không có phạm trù thì (tense). 11
- Các cấu trúc câu thể hiện ý nghĩa tuyệt đối gắn liền với hành động đã xảy ra
hoặc chưa từng xảy ra. Cấu trúc bị động gắn liền với sự kiện xảy ra ở quá khứ. Các
kiểu câu ghép (nguyên nhân - kết quả: chỉ sự kiện đã xảy ra, điều kiện - kết quả: chỉ
sự kiện chưa xảy ra v.v…). Thứ tự (vị trí) của các đại từ nghi vấn: hoặc là chỉ sự
kiện đã xảy ra hoặc chưa xảy ra (chẳng hạn như: Anh về bao giờ?: chỉ hành động đã
xảy ra. Bao giờ anh về?: chỉ hành động chưa xảy ra).
- Trong một số trường hợp, thời gian có thể được nhận diện thông qua sự suy
luận logic chứ không căn cứ trực tiếp vào các yếu tố ngôn ngữ. Ngoài ra, những cơ
chế ngôn ngữ tạo thành ý nghĩa thời gian logic có thể bị khác đi do chịu sự tác động
của một số hiện tượng ngôn ngữ khác chẳng hạn như các từ tính thái (các từ có ý
nghĩa phỏng đoán, các từ có ý nghĩa khả năng v.v…)
- Trong bài viết, tác giả còn lưu ý đến những trường hợp bắt buộc, tùy ý, và
không thể sử dụng các từ đã, đang, sẽ trong câu. Đồng thời, còn có những lưu ý
đến việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. [17, tr.115-132]
k) Cao Xuân Hạo có thể được xem là một trong những người có những phát hiện
mới mẻ góp phần quan trọng trong việc định hướng cho việc nghiên cứu vấn đề
định vị thời gian trong tiếng Việt. Trong công trình nghiên cứu về thời gian trong
ngôn ngữ, tác giả đã đi sâu vào việc tìm hiểu về cách diễn đạt ý nghĩa “thời gian”
trong tiếng Việt.
-Về mặt quan điểm nghiên cứu, tác giả cho rằng bất kỳ một sự nhận định hoặc miêu
dân tộc học và tri nhận học, tác giả đã đi sâu vào việc việc phác thảo ngành Ngôn
ngữ học tri nhận, vào việc nghiên cứu bức tranh ngôn ngữ về thế giới để từ đó, khảo
sát mặt ngữ nghĩa các từ chỉ không gian trong tiếng Việt, và cho rằng đi theo huớng
này chắc hẳn sẽ có những đóng góp không nhỏ đối với các ngành ngôn ngữ học tri
nhận, dân tộc ngôn ngữ học, tâm lý ngôn ngữ học và đặc biệt là loại hình học ngữ
nghĩa, để từ đó có cơ sở tìm đến cái “đặc thù tâm linh” của ngôn ngữ. Khi đề cập
đến vấn đề ý niệm, ông cho rằng tri thức ngôn ngữ (tức là tri thức ý nghĩa và hình
thức) về cơ bản là cấu trúc ý niệm và biểu hiện ngữ nghĩa về cơ bản là biểu hiện ý
niệm … các biểu hiện về cú pháp, từ pháp và âm vị học về cơ bản cũng mang tính ý
niệm - một tiền đề quan trọng của ngôn ngữ học [78],[80].
b) Trần Văn Cơ, trong Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ), đã đưa ra
nhiều vấn đề, chẳng hạn như tìm hiểu về sự hình thành của ngành khoa học mới:
khoa học tri nhận, các vấn đề tri nhận và hoạt động tri nhận của con người, ý niệm
và ý niệm hóa thế giới (bức tranh ngôn ngữ về thế giới), phạm trù và phạm trù hóa
thế giới, ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận .Ngôn ngữ học tri nhận đặc biệt lưu ý đến hai
thuộc tính của thời gian – đó là tính tuyến tính và tính không thể quay ngược trở lại
[13, tr.64]. Khi trình bày những ý niệm về thời gian, ông đã đưa ra hai mô hình thời
gian: mô hình thời gian hình tròn và mô hình thời gian tuyến tính. Ông cũng đề cập
đến vấn đề “cảm nhận thời gian” và hai loại thời gian: thời gian chủ quan và thời
gian khách quan [13, tr.153-158].
c) Nguyễn Đức Tồn, trong “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư
duy ở người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác)” [89], thừa nhận ẩn dụ
không chỉ xảy ra trong phạm vi ngôn ngữ mà còn được coi là phương thức tư duy
của con người. Và ông đưa ra khái niệm ẩn dụ ý niệm (ẩn dụ tri nhận). Ông phân
loại ẩn dụ ra thành ẩn dụ sự vật, ẩn dụ hoạt động, ẩn dụ tính chất và ẩn dụ sự tình
[89].
e) George Lakoff và Mark Johnson trong quyển Metaphor we live by [126] đã đưa
ra lý thuyết ẩn dụ ý niệm theo phương pháp nghiên cứu của Ngôn ngữ học tri nhận
(Cognitive linguistics). Theo các ông, ẩn dụ được xem là công cụ tạo nghĩa cho
những phạm vi khái niệm mới gần với trải nghiệm sống trực tiếp của con người.
ngữ hoạt động giống như một đường dẫn (conduit). Khi chúng ta truyền ý nghĩ hay
tình cảm vào từ ngữ và “từ ngữ chúng ta sử dụng hoàn tất quá trình dịch chuyển
bằng cách lưu giữ ý nghĩ và tình cảm rồi chuyển chúng cho người khác. Trong khi
chúng ta nghe người khác nói, chúng ta chiết xuất ý nghĩ, tình cảm từ từ ngữ của
người nói.”. Ông cho rằng kiểu ẩn dụ này có ảnh hưởng và tác động vào quá trình
tư duy của chúng ta.
h) Trần Đình Sử, trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, chỉ ra
rằng có hai loại thời gian trong thơ ca. Đó là thời gian vũ trụ bất biến và thời gian
con người. Ông cho rằng: “cảm nhận thời gian con người ngắn ngủi, chóng tàn với
thời gian vũ trụ tĩnh tại, bất biến là hai chủ đề thời gian tiêu biểu trong thơ ca Trung
quốc” và cũng là chủ đề thường gặp trong thơ ca trung đại Việt Nam. Đặc biệt trong
thời gian vũ trụ tĩnh tại, bất biến, tác giả nhấn mạnh tính chất vô thời gian trong thơ
thiền Việt Nam. Ngoài ra, trong thơ, còn có “thời gian lịch sử, thời gian siêu nhiên,
tiên cảnh, thời gian sinh hoạt ”. Do còn chịu sự quy định của quy luật cảm thụ toàn
vẹn, thơ ca trung đại Việt Nam thường“ nhìn mọi sự với toàn bộ quá trình: hình
thức tuần hoàn của thời gian thiên nhiên như ngày đêm, bốn mùa, sống chết; ý
niệm lý tưởng hoá thời cổ xưa, một thời hoàn kim trong quá khứ; sự chuyển hoá
qua lại của cảm nhận không gian và thời gian v.v… ” [68, tr.228].
i) Trong quyển Tâm lý học (bản dịch Việt ngữ của Nguyễn Văn Hiếu), ở phần phân
loại các tri giác, Ruđích P.A đã đề cập đến ba loại tri giác: tri giác không gian, tri 14
giác thời gian và tri giác vận động: “Cơ sở để phân loại tri giác là các hình thức tồn
tại của vật chất - không gian, thời gian và vận động. Tương ứng với các hình thức
đó, người ta phân biệt các tri giác không gian, thời gian, vận động.”[62, tr.162].
Ông đưa ra khái niệm tri giác thời gian như sau: “Tri giác thời gian - đó là sự phản
ánh độ dài thời gian khách quan, tốc độ và tuần tự của các hiện tượng thực tế.”[62,
tr.167] và ở phần “Tri giác tính liên tục của các hiện tượng”, ông cho rằng: “Tri giác
tính liên tục của các hiện tượng là có liên quan đến các biểu tượng về hiện tại, quá
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Phạm trù thời gian (time category), sự định vị thời gian (location of time)
trong tiếng Việt là những vấn đề phức tạp, đụng chạm đến nhiều vấn đề lí luận ngôn
ngữ học. Luận án này không có tham vọng giải quyết những vấn đề phức tạp ấy. Ở
đây với sự nỗ lực của cá nhân, luận án sẽ có những đóng góp sau đây: 15
5.1.Về mặt lý thuyết
- Qua việc vận dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, luận án góp phần tìm hiểu
về ý niệm, ẩn dụ ý niệm, đặc biệt là ẩn dụ ý niệm thời gian trong ngôn ngữ đời
thường và văn chương, xác lập bức tranh ngữ nghĩa về thời gian trong tâm thức
người Việt, cũng như góp phần tìm hiểu việc định vị thời gian trong tiếng Việt dưới
góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận.
- Góp phần về mặt phương pháp nghiên cứu vấn đề thời gian trong tiếng Việt, cụ
thể như ngoài việc nghiên cứu về cấu trúc ngôn ngữ, luận án còn nghiên cứu các
yếu tố phi ngôn ngữ, bao gồm: con người nhận thức, ngữ cảnh, tâm lý, văn hóa,
logic, v.v… dưới góc độ tri nhận để từ đó, có thể nhận thức đầy đủ hơn, khoa học
hơn về vấn đề này.
- Góp phần tìm hiểu về các cách thức tri nhận thời gian của cộng đồng bản ngữ
dựa trên ngữ liệu tiếng Việt để từ đó nhận thức rõ hơn về “bức tranh thời gian” có
tính chất qui ước xã hội, có tính chất văn hóa, có tính chất mô - típ của cộng đồng
người Việt.
5.2.Về mặt thực tiễn:
- Ngôn ngữ phản ánh tư duy. Con người với tư cách là chủ thể nhận thức thế giới
xung quanh sẽ phản ánh tư duy của mình về thế giới đó qua ngôn ngữ. Dưới góc độ
ngôn ngữ học tri nhận, nghiên cứu việc định vị thời gian trong tiếng Việt giúp ta
phần nào nhận diện được tư duy của dân tộc.
- Góp phần tìm hiểu vấn đề tri nhận thời gian trong tiếng Việt trên cơ sở lý
thuyết tri nhận, đồng thời góp phần tìm hiểu qui luật sử dụng ngôn ngữ trong việc
Ở chương này, trên cơ sở lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận về vấn đề định
vị thời gian, luận án bước đầu tìm hiểu về mối quan hệ nghĩa giữa không gian và
thời gian trên cơ sở ý niệm, xác lập bức tranh ngữ nghĩa thời gian với các loại thời
gian cụ thể, khái niệm về thuật ngữ “định vị thời gian”; từ đó, tìm hiểu và xác định
những cách thức định vị thời gian trong tiếng Việt, bao gồm: 1) Định vị thời gian
theo mức độ chuyển dịch gần – xa với ẩn dụ THỜI GIAN ĐANG CHUYỂN
ĐỘNG và ẩn dụ NGƯỜI QUAN SÁT ĐANG DI CHUYỂN. 2) Định vị trước – sau
/ tới - lúc này trong thời gian với ẩn dụ THỜI GIAN ĐANG CHUYỂN ĐỘNG. 3)
Định vị thời gian trong chuỗi sự kiện không có chủ thể (người quan sát) tham gia.
4) Định vị thời gian TRÊN –DƯỚI theo chiều đứng của chủ thể. 5) Định vị thời
gian qua từ vựng có ý nghĩa thời gian.
Chương ba: Ẩn dụ thời gian trong thơ văn
Tư duy ẩn dụ thời gian trong văn chương là một thứ tư duy có tính chất phổ
quát cho nhiều cộng đồng ngôn ngữ khác nhau. Do ẩn dụ là công cụ để hiểu được
thế giới của chúng ta và chính bản thân mỗi người cho nên nó cũng gắn kết với
những ẩn dụ thơ ca tạo thành cách thức quan trọng mà qua đó chúng ta hiểu được ý
nghĩa cuộc sống của con người, đặc biệt là mối quan hệ giữa thời gian với con
người. Trong chương này, luận án tìm hiểu về ẩn dụ hình ảnh, ẩn dụ mở rộng -
những vấn đề có liên quan với việc tìm hiểu ẩn dụ trong văn chương và tập trung
tìm hiểu về ẩn dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ CON NGƯỜI trên cơ sở những ẩn dụ cơ
sở như ẩn dụ THỜI GIAN LÀ KẺ CẮP, THỜI GIAN LÀ KẺ RƯỢT ĐUỔI, THỜI
GIAN LÀ BẠN ĐỒNG HÀNH, THỜI GIAN LÀ KẺ HỦY DIỆT v.v ; phân tích
những ẩn dụ này trong sự đối chiếu ở thơ ca tiếng Việt và thơ ca tiếng Anh.
17
Vào năm 1989, Hội nghị quốc tế về ngôn ngữ học tri nhận được tổ chức ở
Duisburg, nước Đức. Ở hội nghị này, Hiệp hội ngôn ngữ học tri nhận (International
Cognitive Linguistics Association, gọi tắt là ICLA) được sáng lập và tờ báo ngôn
ngữ học tri nhận (do Dirk Geeraerts làm chủ biên vào năm 1990) cũng ra đời từ đó.
Đến nay có nhiều hiệp hội ngôn ngữ học tri nhận được hình thành ở các quốc gia
khác nhau trên toàn thế giới.Con đường tìm hiểu về ngôn ngữ của lý thuyết ngôn ngữ tạo sinh – cải biến
và của lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận có hướng đi khác nhau. Trong khi các đại
biểu của lý thuyết ngôn ngữ tạo sinh – cải biến quan tâm đến sự hiểu biết về ngôn
ngữ thì các đại biểu của lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận quan tâm đến sự hiểu biết
của chúng ta về thế giới và nghiên cứu vấn đề ngôn ngữ tự nhiên đã đóng góp như
thế nào đối với sự hiểu biết đó. Nếu như các đại biểu của học thuyết ngôn ngữ cải
biến – tạo sinh chủ trương đi vào tìm hiểu chiều sâu của cấu trúc ngôn ngữ trên cơ
sở những dữ kiện ngôn ngữ có thể quan sát trực tiếp được và cố gắng mô hình hóa
chúng như những công thức toán học cụ thể thì các đại biểu của học thuyết ngôn
ngữ học tri nhận chủ trương nghiên cứu ngôn ngữ thường nhật của con người trên
cơ sở những dữ kiện ngôn ngữ có thể quan sát trực tiếp được và cả những dữ kiện
không quan sát được như ý niệm, tâm lý, cảm xúc, đặc thù văn hóa dân tộc,v.v .
Tuy nhiên, các đại biểu của hai trường phái ngôn ngữ này có một hướng đi chung là
cả hai đều quan tâm về những cấu trúc tinh thần cấu thành kiến thức và mục đích
cuối cùng của họ là đi đến sự nhận thức về bản chất ngôn ngữ của loài người. Dirk
Geeraerts và Hubert Cuyckens cho rằng ngôn ngữ học tri nhận là sự nghiên cứu 18
ngôn ngữ trong chức năng tri nhận của nó nơi mà sự tri nhận đề cập tới vai trò
quan trọng của cấu trúc thông tin trung gian trong sự tiếp xúc của chúng ta với thế
ngữ là một cơ chế tự trị, và khẳng định rằng không thể miêu tả ngôn ngữ nếu không
dựa vào quá trình tri nhận. Nguyên lý này đối lập với giả thuyết của ngữ pháp tạo
sinh khi cho rằng ngôn ngữ là một khả năng tri nhận tự trị. Thứ hai, ngữ nghĩa, ngữ
pháp là sự ý niệm hóa. Nguyên lý này cũng đối lập với ngữ nghĩa điều kiện chân -
ngụy. Ngôn ngữ học tri nhận cho rằng không thể quy cấu trúc ý niệm vào sự tương
ứng đơn giản về điều kiện chân - ngụy với thế giới. Phương diện chủ yếu của khả
năng tri nhận của con người là sự ý niệm hóa kinh nghiệm để giao tiếp và sự ý niệm
hóa các tri thức ngôn ngữ mà chúng ta có được. Thứ ba, đối với ngôn ngữ học tri
nhận, tri thức ngôn ngữ nảy sinh từ sự sử dụng ngôn ngữ. Nguyên lý này cho rằng
các phạm trù và các cấu trúc trong ngữ nghĩa, ngữ pháp, từ pháp và âm vị đều được
xây dựng trên cơ sở sự tri nhận của chúng ta về các phát ngôn riêng biệt trong khi
sử dụng chúng. 19
2.2. Có ba xu hướng tiếp cận khi nghiên cứu ngôn ngữ dưới góc độ ngôn ngữ học
tri nhận:
2.2.1. Sự tiếp cận có tính chất kinh nghiệm (experiential): theo hướng nghiên cứu
này, người ta nhận thấy rằng những thuộc tính của sự vật khách quan được con
người miêu tả dường như có phản ánh cái cách thức mà con người tri nhận về thế
giới và tương tác với thế giới ấy, những kinh nghiệm tích lũy được của chúng ta về
thế giới cũng được tàng trữ trong ngôn ngữ hàng ngày và do vậy những kinh
nghiệm ấy có thể có thể thu lượm được từ cái cách thức mà chúng ta diễn đạt các tư
tưởng. Với cách tiếp cận này, những vấn đề như các phạm trù tri nhận, các sơ đồ
hình ảnh, các mô hình điển dạng khi phạm trù hóa sự vật, ẩn dụ và hoán dụ ý niệm
(nội dung, cấu trúc,…) được đặt ra trong quá trình nghiên cứu ngôn ngữ.
2.2.2. Sự tiếp cận có tính chất chọn lựa – tức tính nổi trội (prominence): theo
hướng nghiên cứu này, người ta nghiên cứu về việc các thông tin được lựa chọn và
sắp xếp trong câu như thế nào hay nói khác đi là sự lựa chọn về hình (figure) và nền
(ground), ví dụ như trong câu “Chiếc xe đâm vào cột điện ven đường.” thì trong
niệm về thế giới (dẫn theo Trần Văn Cơ, Lý Toàn Thắng [13],[80]). Như vậy, trong
ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ, cách nhìn thế giới của người bản ngữ được thể hiện
tập trung một hệ quan điểm có hệ thống và có thể mô tả chúng dựa vào ý nghĩa từ
vựng và ý nghĩa ngữ pháp.
2.5. Ngôn ngữ là sự phản ánh hoạt động tri nhận của con người. Theo Lý Toàn
Thắng, “Ngôn ngữ vừa là sản phẩm của hoạt động tri nhận vừa là công cụ của hoạt
động tri nhận của con người. Cấu trúc và chức năng của ngôn ngữ có thể coi là kết
quả và sự phản ánh của hoạt động tri nhận của con người.” [80, tr. 20]
Các luận điểm trên nhấn mạnh rằng “bức tranh thế giới” là hạt nhân của thế
giới quan của con người, “bức tranh ngôn ngữ về thế giới ” là hiện thân trong ngữ
nghĩa (từ vựng và ngữ pháp) của “bức tranh ý niệm về thế giới”; rằng trong các
ngôn ngữ, mỗi “bức tranh thế giới” có sự biến đổi do vì bức tranh ấy liên quan đến
“cách nhìn thế giới” của mỗi một dân tộc hay nói cách khác, liên quan đến sự tri
giác và nhận thức về thế giới của người bản ngữ nói chung và, trong đó, liên quan
đến sự tri giác và nhận thức về thời gian của người bản ngữ nói riêng. Do vậy,
thông qua “bức tranh ngôn ngữ về thế giới”, trong đó có “bức tranh thời gian”, mà
chúng ta có thể nhận ra được những con đường khác nhau trong cách nhìn về thế
giới bằng ngôn ngữ của chính họ.
Trong phạm vi giới hạn, luận án không thể giới thiệu, trình bày tất cả những
vấn đề có tính lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận mà chỉ lựa chọn một số vấn đề có
giá trị lý thuyết và ứng dụng phù hợp với đề tài mà luận án đặt ra.
3. TRI NHẬN VÀ QUÁ TRÌNH TRI NHẬN
Theo ngữ nghĩa học tri nhận, quá trình tri nhận (còn gọi là hoạt động tri
nhận) là một quá trình xác lập giá trị nghĩa của biểu thức ngôn ngữ. Quá trình tri
nhận tạo ra cho con người khả năng đi đến một quyết định và sự hiểu biết nhất định.
Nói cách khác, đó là quá trình hoạt động của tư duy dẫn đến chỗ thông hiểu hay
thuyết giải một vấn đề gì đó của thế giới khách quan. Kết quả của quá trình tri nhận
là việc tạo ra một hệ thống những ý niệm giúp con người hiểu biết, giả định, suy
nghĩ, hoặc tưởng tượng về các đối tượng của thế giới. Do chỗ quá trình tri nhận của
con người có quan hệ trực tiếp đến môi trường sống của một cộng đồng văn hóa
- Ý niệm không tồn tại riêng lẻ mà chúng liên kết với nhau tạo thành một hệ
thống ý niệm. Mỗi một hệ thống ý niệm có những ý niệm cơ sở (ý niệm xuất phát)
và ý niệm thứ cấp (ý niệm phái sinh)
- Các ý niệm trong hệ thống ý niệm không có ranh giới rõ rệt, tức có hiện tượng
ranh giới mờ, thậm chí một số ý niệm trong hệ thống ý niệm này lại nằm trong hệ
thống ý niệm khác.
Cần phân biệt giữa ý niệm và khái niệm. Từ “concept” ban đầu có ý nghĩa là
khái niệm, về sau các nhà tri nhận luận, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận
dùng từ này với nghĩa khác rộng hơn khái niệm, đó là ý niệm. Khái niệm về ý niệm
đã có từ rất lâu, theo Abelard Pierre (1079-1142), ý niệm là “một tập hợp những
khái niệm nằm sâu kín trong tâm hồn và sẵn sàng được biểu hiện thành lời, nó liên
kết các phát ngôn thành cách nhìn sự vật này khác với vai trò của trí tuệ, nó biến
phát ngôn thành tư tưởng gắn liền với thượng đế.” (dẫn theo Trần Văn Cơ [13,
tr.126]). Trong khi đó, khái niệm gắn liền với tư tưởng phản ánh dưới dạng khái
quát một hiện thực khách quan bằng cách cố định những thuộc tính và quan hệ của
chúng. Như vậy có thể nói sự khác biệt giữa ý niệm và khái niệm là ở chỗ: ý niệm là
sự kiện của lời nói, đó là lời nói được phát ngôn ra, thường mang tính chủ quan và
do vậy nó không đồng nhất với khái niệm. Một số các học giả tri nhận cho rằng ý
niệm mang dấu ấn văn hóa riêng của mỗi một dân tộc, trong khi đó khái niệm thì
mang tính phổ quát; ví dụ như khi nói về từ “nhà” (ngôi nhà) chẳng hạn, theo từ
điển tiếng Anh, “nhà” là công trình xây dựng cho người ở, thường cho một gia đình,
hoặc một gia đình và những người ở thuê (khái niệm mang tính phổ quát); ở tiếng
Việt, nhà, theo Tự điển tiếng Việt của Hoàng Phê (1998), là công trình xây dựng có 22
tường vách để ở hay để dùng vào một việc nào đó, ngoài ý nghĩa trên, nó còn là cái
chứa đựng sự che chở, đùm bọc, niềm tin, niềm hi vọng, sự đợi chờ (dấu ấn văn hóa
riêng của dân tộc Việt); do vậy, người Việt thường gọi chồng mình hay vợ mình là
nhà tôi, trong khi đó tiếng Anh chỉ dùng những từ ngữ như “my darling”, “my
Núi không đè nổi vai vươn tới,
Lá ngụy trang reo với gió đèo.”
(Tố Hữu) 23
Ngoài ra còn có những định nghĩa khác về ý niệm như ý niệm là đơn vị của
tư duy, là yếu tố của ý thức, v.v
Trần Trương Mỹ Dung đề xuất sự khác biệt giữa ý niệm và khái niệm như
sau:
- Ý niệm là sự kiện của lời nói, đó là lời nói được phát ngôn ra. Do đó nó khác
với khái niệm.
- Ý niệm gắn chặt với người nói và luôn định hướng đến người nghe. Người nói
và người nghe là hai bộ phận cấu thành ý niệm.
- Ý niệm mang tính chủ quan với nghĩa nó là một mảng của “bức tranh thế giới”,
nó phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính của ý thức dân tộc. Do đó, ý niệm
mang tính dân tộc sâu sắc.
- Ý niệm là đơn vị của tư duy (ý thức) của con người. Hai thuộc tính không thể
tách rời nhau là trí nhớ và trí tưởng tượng. Ý niệm là một hành động đa chiều: nếu
là hành động của trí nhớ thì nó hướng về quá khứ, nếu là hành động của trí tưởng
tượng thì nó hướng tới tương lai, còn nếu là hành động phán đoán thì nó hướng đến
hiện tại (dẫn theo Trần Văn Cơ [13, tr.137])
Giữa ý niệm và các đơn vị ngôn ngữ có mối quan hệ đặc biệt, R.W.
Langacker [132] cho rằng mỗi ý niệm là một miền ngữ nghĩa; nói cách khác, nghĩa
của từ liên quan đến một miền nhất định. Ông cũng cho rằng cho rằng các đơn vị
ngôn ngữ (từ, ngữ, kết cấu) đều biểu đạt những ý niệm và những ý niệm này đều
tương ứng với các ý nghĩa của những đơn vị ngôn ngữ đó. Theo một số học giả
khác, những ý niệm đơn giản nhất được biểu hiện bằng một từ và những ý niệm
phức tạp hơn được biểu hiện trong các cụm từ hoặc các câu. Anna Wierzbicka [152]
Thursday
Thứ sáu
Friday
Thứ bảy
Saturday
weekend
(ngày cuối
tuần)
weekend
(ngày
cuối tuần) Do vậy, ý nghĩa của đơn vị ngôn ngữ phải được xác định có tính đến cả hình
bóng lẫn hình nền ý niệm.
Điều cần thấy là trong ngôn ngữ, có những ý niệm dường như là cùng biểu
đạt một sự vật của thế giới khách quan nhưng thực ra là chúng thuộc “khung” khác
nhau (“khung”: frame – cách gọi của Charles J. Fillmore thay cho hình nền ý niệm.
Lý thuyết “khung” do Fillmore đề xướng trong bài viết “Ngữ nghĩa học khung -
Frame semantics – xuất bản năm 1982” và “Lịch sử riêng về khái niệm khung -A
private history of the concept ‘Frame’- xuất bản năm 1987”, được dùng trong nhiều
lĩnh vực không chỉ trong ngôn ngữ học mà còn ở cả tâm lý học và ngành học Trí tuệ
nhân tạo), chẳng hạn như trường hợp của flesh và meat. Tuy cả hai đều có nghĩa là
“thịt” nhưng “flesh” được phóng chiếu trên khung cơ thể học hoặc giải phẫu học,
còn “meat” được phóng chiếu trên khung thực phẩm.
David Lee [135, tr.58-59] cũng đưa ra hai trường hợp khung khác nhau của
từ “strong”: i) a strong man, a strong horse (một người đàn ông khỏe, một con ngựa
khỏe), ii) a strong cup of tea (một tách trà đậm). Strong trong “strong man, strong
horse” đuợc phóng chiếu trên khung vật lý học (physics), còn strong trong “a strong
cup of tea” đuợc phóng chiếu trên khung nếm (taste).