Nhóm phụ từ chỉ thời gian trong tiếng việt xét trên ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**********

NGUYỄN THỊ QUỲNH

NHÓM PHỤ TỪ CHỈ THỜI GIAN
TRONG TIẾNG VIỆT XÉT TRÊN BA
BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA
VÀ NGỮ DỤNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI – 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**********

NGUYỄN THỊ QUỲNH

NHÓM PHỤ TỪ CHỈ THỜI GIAN
TRONG TIẾNG VIỆT XÉT TRÊN BA
BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA
VÀ NGỮ DỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Quỳnh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài
.........................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu
.....................................................................................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên
cứu............................................................................8
4. Đối tượng nghiên
cứu.................................................................................................9
5. Phạm vi nghiên
cứu....................................................................................................9
6. Phương pháp nghiên cứu
...........................................................................................9
7. Bố cục của khóa
luận................................................................................................10
NỘI DUNG..................................................................................................................12
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
...................................................................................12
1.1. Khái quát ba bình diện trong ngôn ngữ
học.........................................................12
1.1.1. Bình diện kết
học................................................................................................12
1.1.2. Bình diện nghĩa
học............................................................................................14

gian.............................................................................................28
Chương 2: CHỨC NĂNG NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG
CỦA NHÓM PHỤ TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG TIẾNG
VIỆT............................30
2.1. Phụ từ chỉ thời gian xét trên bình diện ngữ
pháp.................................................33
2.1.1. Bổ sung ý nghĩa thời gian cho thực từ
..............................................................33
2.1.2. Đánh dấu chức năng cú pháp và đặc điểm từ loại của từ
................................41
2.2. Phụ từ chỉ thời gian xét trên bình diện ngữ
nghĩa................................................45
2.2.1. Biểu thị ý nghĩa miêu tả
.....................................................................................46
2.2.2. Biểu thị ý nghĩa tình
thái....................................................................................48
2.3. Phụ từ chỉ thời gian xét trên bình diện ngữ dụng
................................................50
2.3.1. Vai trò trong cấu trúc tin
....................................................................................51
2.3.2. Vai trò chỉ báo hành động ngôn
ngữ.................................................................53
2.3.3. Vai trò làm dấu hiệu cho nghĩa hàm ẩn
............................................................54
KẾT LUẬN .................................................................................................................58
TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

2. Lịch sử nghiên cứu
Nghiên cứu về phạm trù thời – thể đã là một vấn đề xa xưa bậc nhất, có
một lịch sử lâu dài trong ngành ngôn ngữ học. Ngay từ thời Arixtot, ông đã
cho rằng: “Động từ phải có đặc điểm thời gian”. [26, tr. 174 – 175] Nhà ngôn
ngữ học A. Mây - ê cho rằng: “Sự tiến bộ của nền văn minh nêu bật phạm trù
thời và hướng về chỗ xóa bỏ những phạm trù có giá trị cụ thể và gợi cảm dành
cho những phạm trù trừu tượng một tầm quan trọng ngày càng to lớn”. [26, tr.
174 – 175]
Việc nghiên cứu phạm trù thời trong tiếng Việt cũng được bắt đầu từ
năm 1651 khi cuốn từ điển đầu tiên ở Việt Nam ra đời có tên là Từ điển An
Nam - Lusitan – La-tin của Alexandre de Rhodes, đã có nhiều công trình
nghiên cứu về vấn đề này nhưng vẫn chưa có một ý kiến thống nhất. Mọi
tranh luận về cơ bản xoay quanh hai luồng ý kiến: một là khẳng định tiếng
Việt có phạm trù thời, hai là phủ định sự tồn tại của phạm trù ngữ pháp trên
trong tiếng Việt.
2.1. Quan niệm khẳng định sự tồn tại của phạm trù thời trong tiếng
Việt
Ban đầu, do không xuất phát từ đặc trưng của ngôn ngữ tiếng Việt mà
mô phỏng theo ngôn ngữ Ấn – Âu nên một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã
khẳng định sự tồn tại của thời và thể trong tiếng Việt. Nhưng ý kiến khẳng
định này cũng có sự khác nhau.
* Các quan niệm cho rằng tiếng Việt có 3 thời: quá khứ, hiện tại và
tương lai

2


Theo G. Aubaret (1864) đưa ra ý kiến: “Động từ tiếng Việt không có
hình thức biến ngôi […]. Song một số từ hay hư từ đặt trước động từ dùng để
xác định thời quá khứ, tương lai và mệnh lệnh”. Thời hiện tại không được

quan điểm đã, đang, sẽ không phải là các trạng từ và tác giả tách riêng chúng
ra thành một loại từ gọi là thời – thể từ. Tác giả quan niệm: Các từ đã, đang,
sẽ, xong, được, hết, nổi là những từ trợ nghĩa ngữ pháp. Và nếu căn cứ vào
một hệ thống các ý nghĩa ngữ pháp đối lập mà các từ này cùng động từ
thường xuyên diễn đạt, thì có thể xác định một phạm trù ngữ pháp về thời –
thể của động từ theo một kiểu riêng của ngôn ngữ đơn lập. Trong khi kết hợp
với động từ, các thời – thể từ có thể độc lập diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp
như: ý nghĩa thời quá khứ, thời hiện tại, thời tương lai. Đồng thời, tác giả
nhấn mạnh các từ đã, đang, sẽ, xong, được, hết, nổi để diễn đạt một hệ thống
các ý nghĩa ngữ pháp đối lập tạo thành một nội dung thông báo nhất quán và
thường xuyên ở cả ba bình diện thời gian (quá khứ, hiện tại, tương lai), đó là
các ý nghĩa thời gian và thể cách của động từ, gọi tắt là các ý nghĩa ngữ pháp
về thời – thể của động từ. [20, tr.39]
* Các quan niệm cho rằng tiếng Việt có hai thời: tương lai và phi tương
lai
Về quan niệm này, tiêu biểu phải kể đến V. Panfilov – nhà Việt ngữ
học người Nga trong một số công trình và bài nghiên cứu về phạm trù thời –
thể trong tiếng Việt. Sớm nhất là bài viết Các cấp thể và các chỉ tố tình thái –
thể trong tiếng Việt (Tạp chí Ngôn ngữ số 2, 1979). Đặc biệt, trong bài viết
Một lần nữa về phạm trù thì trong tiếng Việt đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ, số
7, năm 2002, tác giả đã khẳng định: “Tiếng Việt có phạm trù thì, các từ đã,
đang, sẽ là ba chỉ tố thì”. Panfilov đã khảo sát về ý nghĩa của các từ đã, đang,
sẽ trong các kết hợp với các tiểu loại vị từ và tác giả nhận xét: thời tương lai
có ở tất cả các tiểu loại vị từ - động từ có giới hạn, động từ không có giới hạn,


động từ không hành động, tính từ và điều này đủ để bác bỏ hoài nghi đối với
phạm trù thì trong tiếng Việt, bởi vì ít nhất thì sự đối lập giữa thời tương lai
và phi thực tương lai ở ngôn ngữ này cũng hoàn toàn rõ ràng” [40]. Ông còn
nói thêm rằng: “Tiếng Việt có phạm trù thời bởi tiếng Việt có sự đối lập giữa

Nguyễn Đức Dân (1996) và đặc biệt phải kể đến Cao Xuân Hạo (1998), hay
như Nguyễn Ngọc Thanh (2000), Phan Thị Minh Thúy (2002), Phạm Quang
Trường (2003)… trên cơ sở căn cứ vào những đặc điểm riêng của tiếng Việt,
các tác giả này đi tới xu hướng khẳng định: động từ trong tiếng Việt không có
phạm trù thời. Chính sự bất đồng ý kiến này đã dẫn đến cuộc bút chiến căng
thẳng giữa Cao Xuân Hạo và Panfilov trên tạp chí Ngôn ngữ.
Theo Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ, Phạm Duy Khiêm (1940), tiếng động tự
cũng như các tự loại khác không biến đổi hình. Bởi vậy, khi dùng một mình
thì nó chỉ biểu diễn cái ý nói về cái dụng mà thôi. Trong tiếng Việt, vì vậy
không có phạm trù thời. Khi muốn diễn đạt một sự việc đã hoàn thành, người
ta dùng đã trước động từ và rồi, xong sau động từ. Khi muốn diễn đạt một sự
việc đang tiếp diễn (kể cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai), thì người ta
dùng các phó từ đang hay đương đặt trước động từ. Các tác giả không công
nhận tác dụng của những từ đã, đang, sẽ trong việc biểu thị ý nghĩa thời. [20,
tr.34]
R. B. Rones & Huỳnh Sanh Thông (1960) trong cuốn sách Introduction
to Spoken Vietnamese khẳng định: “Phần lớn động từ tiếng Việt không có
phạm trù thời, nhưng có hai cách thể hiện thời khi cần thiết là: 1) Sử dụng trật
tự các mệnh đề; và (2) Sử dụng các trợ động từ như sẽ chỉ thời gian tương lai
và có để chỉ thời quá khứ”. [20, tr.35]
Nguyễn Kim Thản thì lại khẳng định: “Động từ tiếng Việt không có
phạm trù thời, không nên cho rằng các phó từ đã, đang, sẽ…biểu thị phạm trù
thời của


động từ và phạm trù thời không phải là phạm trù ngữ pháp đặc biệt của động
từ tiếng Việt. Đã, đang, vừa, mới, từng, sắp, sẽ… là những từ chỉ thể - thời, tức
chỉ sự tiến hành hay hoàn thành trong thời gian và việc sử dụng những phó từ
chỉ thể
- thời ở bộ phận vị ngữ thuộc phạm vi cấu trúc của câu”

nghiên cứu đã chứng minh rằng đã, đang, sẽ, đứng độc lập với nhau thì chúng
không có ý nghĩa thời nhưng khi chúng kết hợp với nhau thì chúng lại biểu thị
ý nghĩa thời gian thuần túy. Quan niệm của Cao Xuân Hạo như trên cũng là
quan niệm thời theo nghĩa hẹp.
Tóm lại, khi nghiên cứu về phạm trù thời trong tiếng Việt và ý nghĩa
các phụ từ thời gian như: đã, sẽ, đang, vừa, mới, từng, sắp…có hai xu hướng
đối lập nhau. Sở dĩ có những quan điểm khác nhau như trên là do các nhà
nghiên cứu đã dựa trên các căn cứ khác nhau (quan niệm thời theo nghĩa hẹp
và quan niệm thời theo nghĩa rộng; hoặc chỉ chấp nhận thời tuyệt đối hoặc
chấp nhận có cả thời tuyệt đối và thời tương đối) và từ đó đưa ra những ý kiến
khác nhau để khẳng định cho quan điểm của mình.
Song chúng ta cần thấy rằng, tiếng Việt là loại ngôn ngữ không biến
đổi hình thái, nó khác với ngôn ngữ Ấn – Âu. Việc xem xét sự tồn tại của một
phạm trù ngữ pháp nào đó phải căn cứ vào đặc điểm riêng của ngôn ngữ tiếng
Việt.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhóm phụ từ chỉ thời gian trong tiếng Việt xét trên ba bình
diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng nhằm cung cấp một cái nhìn vừa tổng
thể vừa chi tiết về đặc điểm, chức năng của nhóm từ này trên từng bình diện
cụ thể. Từ đó, ta có thể phân biệt được nhóm phụ từ chỉ thời gian với các từ
đồng âm của chúng và đặc biệt là thấy được vai trò quan trọng của nhóm phụ
từ chỉ thời gian ở các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng khi đặt
trong câu.


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lí thuyết chung nhất về phạm trù ngữ pháp,
phạm trù thời và ý nghĩa thời gian, vấn đề “thời” trong tiếng Việt, hư từ,
nhóm phụ từ; đặc biệt là đi sâu nghiên cứu nhóm phụ từ chỉ thời gian trong

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số thủ pháp như sau:
- Thủ pháp thống kê, phân loại: thống kê các ngữ liệu có sử dụng phụ
từ chỉ thời gian: sắp, sẽ, đang, vừa, mới, từng, đã,…, sau đó chúng tôi tiến
hành xử lí, phân loại các phụ từ này theo những dạng thức khác nhau.
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: so sánh, đối chiếu cách biểu thị thời gian
trong ngôn ngữ có thời (tiếng Anh) với cách biểu thị ý nghĩa thời gian của
tiếng Việt.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nguồn ngữ liệu, nội
dung chính của khóa luận được trình bày trong hai chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Ở chương này, chúng tôi trình bày về những vấn đề lí thuyết chung
nhất về phạm trù ngữ pháp, phạm trù thời và ý nghĩa thời gian, vấn đề “thời”
trong tiếng Việt, hư từ, nhóm phụ từ, phụ từ chỉ thời gian; lí thuyết ba bình
diện.
Đó là tiền đề, cơ sở lí luận để chúng tôi khảo sát, phân loại đưa ra kết
quả ở chương 2.
Chương 2: Chức năng ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của nhóm
phụ từ chỉ thời gian trong tiếng Việt
Trong phần này, chúng tôi đưa ra bảng khảo sát nhóm phụ từ chỉ thời
gian xuất hiện trong Tuyển tập Nam Cao, tập 1 (2005), Nxb Văn học; những


dẫn chứng, ví dụ cụ thể; sau đó sẽ đi vào phân tích nhằm chứng minh chức
năng của nhóm phụ từ chỉ thời gian trong tiếng Việt xét trên ba bình diện ngữ
pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Từ đó, chúng tôi đưa ra kết luận về vấn đề này
để có thể thuyết phục tối đa độc giả.


NỘI DUNG

của các quy tắc hình thức kết hợp với tín hiệu thành một thông điệp (có thể là
quy tắc tuyến tính hay quy tắc đồng thời tùy theo thể chất của từng hệ thống
tín hiệu). Như vậy, kết học là lĩnh vực nghiên cứu quan hệ giữa tín hiệu với
tín hiệu trong thông điệp. Ngoài ra, kết học còn nghiên cứu quan hệ giữa tín
hiệu với tín hiệu trong cấu tạo của tín hiệu phức tạp (ví dụ: quan hệ giữa các
hoạt động trong một buổi lễ bế giảng, lễ tốt nghiệp, lễ cưới, lễ đính hôn…)
Theo Charles William Morris, cấu trúc kết học tổ chức ba loại tín hiệu
phân loại theo sự tương ứng của chúng với sự vật đó là:
+ Các chỉ hiệu quy chiếu (sở chỉ) một sự vật duy nhất.
+ Các định hiệu chỉ đa số các sự vật và có thể kết hợp với các tín hiệu
có dụng tường minh hóa hoặc hạn chế cách sử dụng chúng.
+ Các tín hiệu phổ quát, đây là những tín hiệu chỉ tất cả mọi thứ và có
thể đi vào quan hệ với tất cả các tín hiệu khác. Đây là các từ chỉ các phạm trù,
quan hệ khái quát, thuộc logic, thường dùng để giải nghĩa các từ, câu… Ví dụ:
sự vật, tính chất, trạng thái, vận động, tập hợp, quan hệ… Những từ này tuy
hình thức ngữ âm khác nhau trong ngôn ngữ nhưng cái được biểu thị thì đồng
nhất với mọi ngôn ngữ. [1, tr 52]
Morris đã dành khá nhiều trang cho sự phân tích chiều kết học của
ngôn ngữ xét theo quan niệm tín hiệu học. Theo quan điểm này thì các câu
đều gồm một tín hiệu chế ngự và những tín hiệu loại biệt hóa. Mọi sự trình
bày lại một sự vật hay một sự kiện đều đòi hỏi hai việc: thứ nhất là sự định vị,
thứ hai là việc dẫn ra các đặc tính quan yếu của chúng. Hai việc này phải
được thực hiện song song, cùng lúc với nhau. Ta có thể nhận thấy rằng,
những kết hợp đi sau là một lời tuyên bố hay một niềm tin ở những mức độ
vững chắc khác nhau.


Trong ngôn ngữ nói, ngữ điệu, chỗ ngừng, trọng âm đảm nhiệm chức
năng này và chỉ ra cách xác định quan hệ giữa các tín hiệu là quan hệ gì.
Morris bước đầu đã nhận ra các yếu tố có tính ngữ dụng ngay trong lĩnh vực

hiệu đó biểu thị. Quy tắc nghĩa học có dạng tổng quát như sau: “x” biểu thị
những điều kiện a, b, c, theo những điều kiện đó, nó có thể được vận dụng.
Nêu ra các điều kiện cho ta quy tắc nghĩa học của “x”. Tất cả các sự vật hay
tình huống thỏa mãn các điều kiện đó đều được sở chỉ bởi “x”. Thí dụ: điều
kiện a, b, c lần lượt là “vận động”, “tác động đến sự vật nặng”, “làm cho nó
dời chỗ theo đường thẳng trên mặt nền”, “bằng cách đặt tay vào vật và dùng
sức của bản thân chủ thể vận động tác động vào vật theo phương nằm ngang
song song với mặt nền” [1, tr. 54]. Chúng ta nhận ngay ra rằng đó là nghĩa
của tín hiệu “đẩy” trong tiếng Việt.
1.1.3. Bình diện dụng học
Theo Morris định nghĩa thì dụng học (pragmatics) nghiên cứu mối quan
hệ giữa tín hiệu với người dùng, người lí giải chúng. Nhà ngôn ngữ chỉ ra
rằng cần phải biết quan hệ giữa tín hiệu với tín hiệu và quan hệ giữa tín hiệu
với sự vật thì mới có thể xem xét quan hệ giữa tín hiệu với người lí giải được.
Quan niệm đó được hiểu là kết học, nghĩa học và dụng học là ba lĩnh vực tách
rời nhau, dụng học chỉ bước cuối cùng sau khi đã có kết quả của kết học và
nghĩa học. Hơn thế nữa, ông cũng phân biệt dụng học thuần túy và dụng học
miêu tả; trong đó dụng học thuần túy hướng đến xây dựng một “ngôn ngữ” có
thể dùng để nói về chiều dụng học của tín hiệu hóa. Những khái niệm cơ bản
mà dụng học thuần túy phải bàn đến là các khái niệm như: người lí giải, cái lí
giải, quy ước, đảm nhiệm, kiểm chứng, hiểu.
Ta cần làm rõ hơn khái niệm “người dùng”. Đó là thuật ngữ không chỉ
một con người trừu tượng, cô lập. Trong một hoạt động giao tiếp, “người


dùng” vừa là “người phát” vừa là người nhận tín hiệu, chúng có quan hệ với
nhau, thường xuyên tác động qua lại với nhau trong một ngữ cảnh nhất định.
Những điều này khiến cho khái niệm “người dùng” trở nên phức tạp; vì vậy
định nghĩa “dụng học nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với người dùng”
trở nên chưa đầy đủ. Sau đó, chính Morris đã sửa lại định nghĩa trở nên toàn

đối lập nhưng lại thống nhất với nhau. Loại ý nghĩa ngữ pháp chung bao trùm
lên ít nhất hai ý nghĩa ngữ pháp bộ phận đối lập nhau, như vậy chính là phạm
trù ngữ pháp.
V. B. Kasevich (1977) quan niệm: “Phạm trù ngữ pháp kể cả phạm trù
phân loại lẫn phạm trù cấu tạo hình thái – đều là thể thống nhất của nội dung
ngữ pháp và sự biểu hiện ngữ pháp”. [20, tr.10]
Theo Bùi Minh Toán: “Phạm trù ngữ pháp là một thể thống nhất giữa ý
nghĩa ngữ pháp và các hình thức biểu hiện nó”. [2, tr.75]
Còn theo Nguyễn Thiện Giáp: “Phạm trù ngữ pháp là lớp của những ý
nghĩa ngữ pháp liên hợp lại với nhau trong hệ thống những vế đối lập. Lớp
của những ý nghĩa này bao gồm những đơn vị hình thức khác nhau hoặc về
mặt phương thức ngữ pháp, hoặc về mặt khả năng kết hợp có tác dụng phân
loại”. [9]
Mỗi ý nghĩa ngữ pháp tạo cơ sở cho việc hình thành một phạm trù ngữ
pháp. Tất nhiên những ý nghĩa ngữ pháp này phải được biểu hiện bằng hình
thức ngữ pháp thuộc về những phương thức ngữ pháp nhất định.
Ví dụ:
Trong tiếng Việt, tất cả các từ chỉ người, sự vật, hiện tượng, khái
niệm… tạo thành phạm trù danh từ trên cơ sở có cùng một ý nghĩa ngữ pháp
(ý nghĩa sự vật và hình thức ngữ pháp thống nhất ở khả năng kết hợp với các
từ mang ý nghĩa chỉ số lượng và khả năng làm vị ngữ với từ là).



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status