ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN VĂN HÁN
ĐỊNH VỊ THỜI GIAN TRONG TIẾNG VIỆT
DƯỚI GÓC NHÌN CỦA NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
(SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU
MÃ SỐ: 62 .22 .01 .10
Người hướng dẫn khoa học :
TS. NGUYỄN NGỌC THANH
TS. NGUYỄN KIÊN TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2011
1
DẪN NHẬP
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, quan hệ giữa con người
với thời gian có một ý nghĩa đặc biệt. Có thể nói, quá trình phát triển của nhân loại
gắn liền với thời gian lịch sử. Con người nhận thức thời gian và sự nhận thức này
được phản ánh theo những hình thức biểu hiện riêng biệt của từng ngôn ngữ. Và
như vậy, ngôn ngữ là một trong những công cụ tri nhận về thời gian của loài người.
Trong ngôn ngữ học, vấn đề thời gian, định vị thời gian trong các câu phát
ngôn của một số ngôn ngữ đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm và nghiên
2
nhận về thời gian. Ngoài ra, như đã biết, ngôn ngữ không chỉ là công cụ tư duy,
công cụ giao tiếp mà nó còn là một “sản phẩm” tinh thần của con người, mang
những nét văn hóa riêng của mỗi dân tộc. Bên cạnh việc xác lập bức tranh chung về
thời gian trong tiếng Việt trước đây theo lý thuyết ngôn ngữ truyền thống, việc xác
lập bức tranh thời gian trong tiếng Việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận cũng là
điều cần thiết.
Cho đến nay, đề tài nghiên cứu về thời gian, về vấn đề định vị thời gian trong
tiếng Việt theo góc độ tri nhận vẫn còn là đề tài hấp dẫn, thú vị, có sức mời gọi
người nghiên cứu.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề thời gian trong tiếng Việt. Chính sự
khác biệt trong quan điểm và phương pháp nghiên cứu khác nhau của các tác giả đã
dẫn đến sự nhận thức khác nhau, thậm chí là đối lập nhau. Có lẽ nên có thêm nhiều
sự đóng góp nữa về vấn đề thời gian, định vị thời gian, cũng như xác lập bức tranh
ngôn ngữ thời gian trong tiếng Việt dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận; để từ
đó, có thể tổng hợp lại các công trình nghiên cứu và đi đến một sự thống nhất về
quan điểm, về phương pháp nghiên cứu, đồng thời triển khai, xây dựng và thống
nhất vấn đề một cách có hệ thống.
Trong lĩnh vực ý nghĩa của ngôn ngữ và tương ứng với nó là lĩnh vực khái
niệm, ý niệm việc xác lập một số phạm trù ngữ nghĩa cơ bản dưới góc nhìn của
ngôn ngữ học tri nhận là một điều hết sức cần thiết để có thể xây dựng được một hệ
thống ngữ nghĩa có tính chất đầy đủ và khoa học. Cũng như các phạm trù khác
chẳng hạn như “không gian”, “tư duy”, “vật chất” v.v…, phạm trù thời gian trong
tiếng Việt cần được ngữ nghĩa hoá một cách có hệ thống dựa trên cơ sở phân tích ý
nghĩa và phân loại các thành tố ngôn ngữ nằm trong phạm trù này. Bên cạnh việc
xác lập ngữ nghĩa thời gian, việc nghiên cứu thời gian và ngôn ngữ thời gian trong
tiếng Việt có thể được xem xét từ nhiều góc độ (ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng, tri
nhận, văn hóa,v.v…) , từ nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng xét cho cùng, cần dựa
luận án chủ yếu là trích từ các văn bản nghệ thuật, văn bản chính luận của các nhà
văn, nhà thơ Việt Nam và nước ngoài, các tình huống giao tiếp trong đời thường.
2.3. Lĩnh vực và phạm vi nghiên cứu của luận án này là tìm hiểu ý niệm thời gian
trên cơ sở lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, để từ đó, tìm hiểu về sự định vị thời gian
sự kiện trong câu phát ngôn tiếng Việt. Đồng thời, cũng từ đây, luận án bước đầu đi
vào nghiên cứu vấn đề ẩn dụ ý niệm thời gian trong tác phẩm văn chương Việt Nam
trong sự đối chiếu với văn thơ nước ngoài.
3. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
3.1. Đã có khá nhiều công trình ngôn ngữ học ít nhiều đề cập đến vấn đề định vị,
nhận diện thời gian trong tiếng Việt với nhiều góc độ khác nhau theo quan điểm
truyền thống hoặc theo quan điểm tri nhận. Một số các nhà ngôn ngữ học Việt Nam
(và người nước ngoài) theo khuynh hướng truyền thống cho rằng sự định vị thời
gian trong tiếng Việt có liên quan đến thì của một số loại hình ngôn ngữ ở một số
các nước Ấn Âu.Và vì vậy, họ cho rằng tiếng Việt có phạm trù thì hiểu như một
phạm trù ngữ pháp. Lại có một số nhà ngôn ngữ học khác phủ nhận về một phạm
trù thì trong tiếng Việt. Với sự ra đời của ngành ngôn ngữ học tri nhận, việc định vị,
nhận diện thời gian trong tiếng Việt được nghiên cứu theo hướng đi mới. Điều cần
thấy là, bên cạnh các ý kiến tương đối đối lập nhau, phần lớn các tác giả đều có một
hướng đi chung: tìm ra những đặc điểm riêng về ý niệm thời gian, về sự định vị thời
gian ở tiếng Việt trong sự so sánh đối chiếu với một hay nhiều ngôn ngữ khác.
3.2. Dựa trên quan điểm truyền thống và quan điểm tri nhận, phần lịch sử vấn đề
trong luận án này sẽ được trình bày có tính chất tổng thuật theo hai nhóm ý kiến:
3.2.1. Theo quan điểm truyền thống:
3.2.1.1. Đại biểu các nhà ngôn ngữ học cho rằng tiếng Việt có phạm trù thời gian
hiểu như một phạm trù ngữ pháp kiểu châu Âu:
a) Có lẽ Trương Vĩnh Ký là người tiên phong trong việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng
Việt. Tuy chịu ảnh hưởng nhiều của ngữ pháp các tiếng châu Âu trong quá trình
4
(1)
Bây giờ tôi viết.
(2)
Hôm qua nó đến nhà anh.
(3)
Mai nó về quê anh.
Các tác giả “Việt Nam văn phạm” nhấn mạnh vai trò của trạng từ chỉ thời
gian trong việc định vị thời gian của sự tình trong câu tiếng Việt: “Khi người ta
muốn biểu diễn một việc đang làm trong thời hiện tại, quá khứ hay tương lai thì
người ta dùng tiếng trạng từ…”.Theo các ông, trạng từ chỉ thời gian được chia làm
ba loại:
- Trạng từ chỉ thời hiện tại: thể hiện bằng các từ ngữ chỉ thời gian như nay, rày, bây
giờ, hôm nay, v.v…
- Trạng từ chỉ thời quá khứ: thể hiện bằng các từ ngữ chỉ thời gian như khi nãy,
lúc nãy, hôm qua, hôm trước, hôm kia, năm ngoái, năm trước v.v…
- Trạng từ chỉ thời tương lai: thể hiện bằng các từ ngữ chỉ thời gian như lát nữa,
chốc nữa, ngày mai, năm sau, từ nay về sau, v.v…
Bên cạnh trạng từ chỉ thời gian, còn có trạng từ chỉ cục diện. Trạng từ này
dùng để “chỉ về sự việc xảy ra của mọi việc hoặc có rồi hoặc đang có, hoặc sắp có”
và được thể hiện bằng các từ, ngữ như đang, hãy còn, rồi, mới, vừa, vừa mới, sẽ,
5
(thực hữu của quá khứ)
(3) Rày về sau, khi tôi đang đọc sách thì các anh đừng hỏi gì tôi.
(thực hữu của vị lai)
Ngoài ra, tác giả còn dành một số trang viết để phản bác những quan điểm
mâu thuẩn của Trần Trọng Kim khi ông này trình bày về vấn đề thời gian trong
tiếng Việt. [41, tr.109-117]
e) Hai tác giả Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê phân chia từ loại tiếng Việt
6
bằng cách dựa vào tác dụng của chúng. Mỗi từ loại khi sử dụng trong câu đều có hai
tác dụng: ý nghĩa và cú pháp. Dựa vào tác dụng ý nghĩa, ta có loại từ tính (bao gồm:
thể từ, trạng từ và trợ từ); dựa vào chức năng cú pháp, ta có loại từ vụ. Trên cơ sở
phân định từ loại như trên và quan niệm của mình về thời gian, hai ông đã đưa ra
những khái niệm về thời tuyệt đối - tương đối, thời điểm - thời hạn, thời gian hữu
định - thời gian phỏng chừng. Qua việc khảo sát những tiếng có ý nghĩa thời gian,
hai ông đã chia chúng thành ba loại: Bổ từ thời gian: năm, tháng, ngày, giờ, thời,
mùa, lúc, chốc, lát, v.v…, Phó từ thời gian: bao gồm: đang, đã, sẽ, mới và một số
từ khác như rồi, chưa, vừa, mới, bèn, liền, hãy và bắt đầu, sắp, gần, còn, vẫn, cứ,
càng v.v.. Phó từ thời gian và bổ từ có thể được sử dụng trong cùng một câu. Phó từ
cho động từ, tính từ cũng có thể làm phó từ cho danh từ, ví dụ: “ Mai đã Chủ nhật
rồi.”, Hình dung từ bao gồm: trạng từ (luôn, thường hay, chậm, lâu, mãi, bất thình
lình, bỗng, vụt, …), thể từ (lần, lượt…). [11, tr.237-393]
f) Laurence C. Thompson [149] đã nghiên cứu thời gian trong tiếng Việt với hai
phạm trù khác nhau: phạm trù ngữ pháp và phạm trù từ vựng.
Xét về mặt phạm trù ngữ pháp, khi xác định các chỉ tố về thì trong tiếng
Việt, cần phải dựa vào “thời gian cơ bản”. Đó là thời gian được xác định trong một
ngữ cảnh cụ thể. Thời gian cơ bản là cái mốc và như thế chỉ tố đã xác định một
hành động diễn ra trước thời gian cơ bản, còn chỉ tố sẽ xác định một hành động xảy
7
3.2.1.2. Đại biểu các nhà ngôn ngữ học cho rằng tiếng Việt không có phạm trù
thời gian hiểu như một phạm trù ngữ pháp kiểu châu Âu. Phạm trù thời gian trong
tiếng Việt được nhận thức theo cách riêng, chủ yếu là trên phương diện từ vựng,
ngữ cảnh, ngữ dụng.
a) Bùi Đức Tịnh cho rằng động từ tiếng Việt không có những hình thức nhất định
để chỉ các thời: hiện tại, quá khứ hoặc tương lai. Người phát ngôn khi nào cần thể
hiện thời gian của sự kiện thì mới sử dụng trạng từ chỉ thời gian. Ông đưa các từ
như đang, đã, sẽ, còn, vừa, vừa mới, v.v… vào lớp trạng từ đặc biệt. Ông cho rằng
tiếng Việt có ba thời: thời hiện tại, thời quá khứ, thời vị lai.
- Thời hiện tại: thể hiện bằng các từ ngữ như đang, còn, hãy còn.
- Thời quá khứ: thể hiện bằng các từ ngữ như đã, vừa, mới, có, rồi, xong, xong
rồi.
- Thời vị lai: thể hiện bằng các từ ngữ như sắp, sẽ.
Và theo ông, các thời trên chỉ có tính chất tương đối. Cũng từ đó lại có thêm
những khái niệm như: “hiện tại trong dĩ vãng”, “dĩ vãng trong tương lai” v.v…
Trong bài viết của mình, Bùi Đức Tịnh cũng nhấn mạnh đến vai trò của ngữ
cảnh trong việc định vị thời gian ở tiếng Việt. [88, tr.53]
b) Nguyễn Kim Thản, trong “Động từ trong tiếng Việt”, đã đưa ra một số nhận xét
khá quan trọng về vấn đề thời, đánh dấu một bước tiến mới về quan điểm thời gian
trong tiếng Việt, về vấn đề có thì hay không có thì trong tiếng Việt giữa quan điểm
cũ và quan điểm mới. Tác giả có nhận xét như sau:
- Việc nghiên cứu và xác định phạm trù thời đã có một lịch sử lâu dài: Arixtôt
cho rằng động từ phải có đặc điểm là có “thời gian”; nhà ngôn ngữ học A.Mâyê cho
rằng:“sự tiến bộ của nền văn minh nêu bật phạm trù thời và hướng về chỗ xoá bỏ
những phạm trù có giá trị cụ thể và gợi cảm và dành cho những phạm trù trừu tượng
một tầm quan trọng ngày càng to lớn….”.
- Không nên đồng nhất phạm trù ngữ pháp với phạm trù logic mặc dù trong thực
được phó từ chỉ hoàn thành - quá khứ xác định.”
Ông cũng là người đầu tiên đã thống kê tần số sử dụng của những phó từ
thể- thời này trong các phong cách ngôn ngữ và các văn bản khác nhau. [75, tr.183193]
c) Nguyễn Tài Cẩn, trong phần trình bày động ngữ [6, tr.246-302], đã khảo sát và
phân tích một số các từ như từng, đã, vừa, mới, đang, sẽ,…, hãy, đừng, chớ nằm ở
phần đầu của động ngữ, đồng thời so sánh chúng với những thành tố phụ khác của
động ngữ để từ đó có những nhận xét (về mặt ngữ nghĩa và về mặt ngữ pháp) như
sau:
- Nhóm từng, đã, vừa, mới, đang, sẽ…với ý nghĩa khái quát là chỉ thời gian của
hành động.[6, tr.266]
- Nhóm hãy, đừng, chớ là một nhóm có ý nghĩa thiên về ngữ pháp: ý nghĩa mệnh
lệnh. Ý nghĩa mệnh lệnh, ngoài ý nghĩa chỉ liên quan đến hành động, là ý nghĩa liên
quan đến tương lai.[6, tr.273]
- Đã, đang, sẽ…là những từ có thể đi kèm với bất kỳ từ loại nào (danh từ, danh
ngữ cũng như động từ, động ngữ, tính từ, tính ngữ,), ví dụ:
(1) Mai đã chủ nhật rồi.
(đã xuất hiện trước vị tố “chủ nhật”)
(2) Đã ba năm nay nó không về quê.
(đã xuất hiện trước trạng tố “ba năm nay”)
9
(3) Cái cụ già đã 80 tuổi đó, hiện vẫn còn rất khỏe mạnh.
(đã xuất hiện trước định tố “80 tuổi”) [6, tr.263-264]
d) Đào Thản, trong phần “Các từ biểu thị quan hệ không gian-thời gian” [71, tr.3948], thông qua việc so sánh đối chiếu một số từ có cùng ý nghĩa không gian và thời
gian chẳng hạn như các giới từ: từ, trong, ngoài , trước, đầu, giữa, cuối; một số tính
từ: dài - ngắn, gần - xa, thiếu - đủ …tròn - méo, đầy - vơi… ; các đại từ: đây, kia…
; các động từ chuyển động như: vào - ra, qua, sang…; các phó từ: ngay, liền, mãi,
kịp,… ; các danh từ: bình minh, sáng, trưa, chiều, đêm, tối,… Tác giả của “Từ ngôn
I’ve done that (thì hiện tại hoàn thành)
(Tôi đã làm điều đó.)
(Tôi đã làm điều đó.)
I’ll do that (thì tương lai)
(Tôi sẽ làm điều đó.)
Tuy nhiên ở tiếng Việt, khi ngữ cảnh không có khả năng xác định thời gian
hoặc khi nhấn mạnh vào mối quan hệ thời gian của các sự kiện thì cần sử dụng các
chỉ tố thì như đang, đã, sẽ….Những chỉ tố này không có tính chất thuần túy ngữ
10
pháp như trong ngôn ngữ Ấn Âu mà trong một số trường hợp chúng kiêm nhiệm
thêm một số chức năng ngữ nghĩa.[119, tr.261]
g) Hồ Lê, khi đề cập đến phạm trù thời trong tiếng Việt, cho rằng ngoài phương tiện
từ vựng để biểu thị thời gian (chẳng hạn như hôm qua, hôm nay, ngày mai,v.v…,
đang, đã, sẽ,v.v…), tiếng Việt còn có những kiểu liên hội để biểu hiện phạm trù
thời.
Theo tác giả, phạm trù liên hội là một trong hai nội dung tạo thành phạm trù
ngữ nghĩa - cú pháp siêu tuyến (phạm trù còn lại là phạm trù tình thái). Phạm trù
này không được đánh dấu bằng hình thức trong câu mà thông qua sự liên hội, có
nghĩa là phải thông qua việc so sánh nhiều đơn vị ngôn ngữ mới rút ra được phạm
trù hiện thực này. Phạm trù thời ở đây không phải là phạm trù ngữ pháp như trong
các ngôn ngữ biến hình mà là phạm trù hiện thực và việc biểu đạt cũng như việc
nhận diện nó phải thông qua phép liên hội cho nên gọi là “phạm trù liên hội hiện
thực”. Có nhiều kiểu liên hội:
- Trật tự trước sau của các từ ngữ có ý nghĩa thời gian: tùy theo vị trí của đại từ
kiểu câu ghép (nguyên nhân - kết quả: chỉ sự kiện đã xảy ra, điều kiện - kết quả: chỉ
sự kiện chưa xảy ra v.v…). Thứ tự (vị trí) của các đại từ nghi vấn: hoặc là chỉ sự
kiện đã xảy ra hoặc chưa xảy ra (chẳng hạn như: Anh về bao giờ?: chỉ hành động đã
xảy ra. Bao giờ anh về?: chỉ hành động chưa xảy ra).
- Trong một số trường hợp, thời gian có thể được nhận diện thông qua sự suy
luận logic chứ không căn cứ trực tiếp vào các yếu tố ngôn ngữ. Ngoài ra, những cơ
chế ngôn ngữ tạo thành ý nghĩa thời gian logic có thể bị khác đi do chịu sự tác động
của một số hiện tượng ngôn ngữ khác chẳng hạn như các từ tính thái (các từ có ý
nghĩa phỏng đoán, các từ có ý nghĩa khả năng v.v…)
- Trong bài viết, tác giả còn lưu ý đến những trường hợp bắt buộc, tùy ý, và
không thể sử dụng các từ đã, đang, sẽ trong câu. Đồng thời, còn có những lưu ý
đến việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. [17, tr.115-132]
k) Cao Xuân Hạo có thể được xem là một trong những người có những phát hiện
mới mẻ góp phần quan trọng trong việc định hướng cho việc nghiên cứu vấn đề
định vị thời gian trong tiếng Việt. Trong công trình nghiên cứu về thời gian trong
ngôn ngữ, tác giả đã đi sâu vào việc tìm hiểu về cách diễn đạt ý nghĩa “thời gian”
trong tiếng Việt.
-Về mặt quan điểm nghiên cứu, tác giả cho rằng bất kỳ một sự nhận định hoặc miêu
tả nào về tiếng (ở đây là tiếng Việt) đều cũng phải dựa vào bản ngữ (ở đây là tiếng
Việt) làm gốc, không thể áp đặt máy móc từ một định kiến nào khi nhận định hoặc
miêu tả nó. Ông phủ nhận cái gọi là thì trong tiếng Việt mà trước đây một số các
nhà ngôn ngữ học đã từng gọi nó, nghiên cứu nó, coi nó như là một phạm trù ngữ
pháp.Và ông chỉ rõ rằng nếu như tất cả các ngôn ngữ đều có nhiều cách định vị các
sự tình được nói đến trong thời gian thì không phải ngôn ngữ nào cũng ngữ pháp
hóa cách định vị đó như cách làm của một số thứ tiếng châu Âu.
- Tác giả nhấn mạnh đến vai trò của các từ ngữ chỉ thời gian trong việc xác định ý
nghĩa thời gian của phát ngôn khi mà ngôn cảnh không cho biết gì về sự định vị
thời gian đó. Nói cách khác, yếu tố từ vựng cũng là một trong những yếu tố xác
định ý nghĩa thời gian trong câu. Nói về quá khứ, ông cho rằng: “Trong những
trường hợp nhất thiết phải định vị sự tình trong thời gian quá khứ mà ngôn cảnh
nhiều vấn đề, chẳng hạn như tìm hiểu về sự hình thành của ngành khoa học mới:
khoa học tri nhận, các vấn đề tri nhận và hoạt động tri nhận của con người, ý niệm
và ý niệm hóa thế giới (bức tranh ngôn ngữ về thế giới), phạm trù và phạm trù hóa
thế giới, ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận ... .Ngôn ngữ học tri nhận đặc biệt lưu ý đến hai
thuộc tính của thời gian – đó là tính tuyến tính và tính không thể quay ngược trở lại
[13, tr.64]. Khi trình bày những ý niệm về thời gian, ông đã đưa ra hai mô hình thời
gian: mô hình thời gian hình tròn và mô hình thời gian tuyến tính. Ông cũng đề cập
đến vấn đề “cảm nhận thời gian” và hai loại thời gian: thời gian chủ quan và thời
gian khách quan [13, tr.153-158].
c) Nguyễn Đức Tồn, trong “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư
duy ở người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác)” [89], thừa nhận ẩn dụ
không chỉ xảy ra trong phạm vi ngôn ngữ mà còn được coi là phương thức tư duy
của con người. Và ông đưa ra khái niệm ẩn dụ ý niệm (ẩn dụ tri nhận). Ông phân
loại ẩn dụ ra thành ẩn dụ sự vật, ẩn dụ hoạt động, ẩn dụ tính chất và ẩn dụ sự tình
[89].
e) George Lakoff và Mark Johnson trong quyển Metaphor we live by [126] đã đưa
ra lý thuyết ẩn dụ ý niệm theo phương pháp nghiên cứu của Ngôn ngữ học tri nhận
(Cognitive linguistics). Theo các ông, ẩn dụ được xem là công cụ tạo nghĩa cho
những phạm vi khái niệm mới gần với trải nghiệm sống trực tiếp của con người.
Nghiên cứu ẩn dụ luôn phải dựa trên nền tảng trải nghiệm, không chỉ được xem xét
ở riêng phạm vi ngôn ngữ mà ở cả phạm vi tư duy và hành động. Trong quyển
Philosophy in the flesh [131], hai tác giả này đã nhấn mạnh đến vấn đề ý niệm, tính
nghiệm thân (embodiment) trong ẩn dụ, hoán dụ, đặc biệt là đề cập đến vấn đề thời
gian dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận. Hai ông cho rằng ý niệm về thời gian
13
xuất phát từ ý niệm không gian. Cũng trong Philosophy in the flesh, hai ông cho
rằng ngữ nghĩa trong lý thuyết tri nhận trên cơ sở thần kinh chỉ có thể nảy sinh
quốc” và cũng là chủ đề thường gặp trong thơ ca trung đại Việt Nam. Đặc biệt trong
thời gian vũ trụ tĩnh tại, bất biến, tác giả nhấn mạnh tính chất vô thời gian trong thơ
thiền Việt Nam. Ngoài ra, trong thơ, còn có “thời gian lịch sử, thời gian siêu nhiên,
tiên cảnh, thời gian sinh hoạt ”. Do còn chịu sự quy định của quy luật cảm thụ toàn
vẹn, thơ ca trung đại Việt Nam thường“ nhìn mọi sự với toàn bộ quá trình: hình
thức tuần hoàn của thời gian thiên nhiên như ngày đêm, bốn mùa, sống chết; ý
niệm lý tưởng hoá thời cổ xưa, một thời hoàn kim trong quá khứ; sự chuyển hoá
qua lại của cảm nhận không gian và thời gian v.v… ” [68, tr.228].
i) Trong quyển Tâm lý học (bản dịch Việt ngữ của Nguyễn Văn Hiếu), ở phần phân
loại các tri giác, Ruđích P.A đã đề cập đến ba loại tri giác: tri giác không gian, tri
14
giác thời gian và tri giác vận động: “Cơ sở để phân loại tri giác là các hình thức tồn
tại của vật chất - không gian, thời gian và vận động. Tương ứng với các hình thức
đó, người ta phân biệt các tri giác không gian, thời gian, vận động.”[62, tr.162].
Ông đưa ra khái niệm tri giác thời gian như sau: “Tri giác thời gian - đó là sự phản
ánh độ dài thời gian khách quan, tốc độ và tuần tự của các hiện tượng thực tế.”[62,
tr.167] và ở phần “Tri giác tính liên tục của các hiện tượng”, ông cho rằng: “Tri giác
tính liên tục của các hiện tượng là có liên quan đến các biểu tượng về hiện tại, quá
khứ và tương lai.” [62, tr.169]. Ông cũng chỉ ra rằng: “Khi tri giác thời gian người
ta thường gặp phải những sai lầm về đánh giá thời gian, hoặc là ảo tưởng thời gian
thể hiện là thời gian có dài hơn hoặc có ngắn hơn.” [62, tr.169]
Tóm lại , có nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về vấn đề thời gian
trong tiếng Việt. Tiêu biểu cho quan niệm tiếng Việt có thì (một phạm trù ngữ pháp
liên quan đến khái niệm “ngữ pháp hóa” của châu Âu) có thể kể đến là Trương Vĩnh
Ký, Trần Trọng Kim, Lê Văn Lý, Nguyễn Văn Thành, …, tiêu biểu cho quan niệm
tiếng Việt không có thì có thể kể ra ở đây là Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Đức Dân,
Cao Xuân Hạo, … . Và nếu xem ngôn ngữ học tri nhận là một sự tăng cường phân
- Qua việc vận dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, luận án góp phần tìm hiểu
về ý niệm, ẩn dụ ý niệm, đặc biệt là ẩn dụ ý niệm thời gian trong ngôn ngữ đời
thường và văn chương, xác lập bức tranh ngữ nghĩa về thời gian trong tâm thức
người Việt, cũng như góp phần tìm hiểu việc định vị thời gian trong tiếng Việt dưới
góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận.
- Góp phần về mặt phương pháp nghiên cứu vấn đề thời gian trong tiếng Việt, cụ
thể như ngoài việc nghiên cứu về cấu trúc ngôn ngữ, luận án còn nghiên cứu các
yếu tố phi ngôn ngữ, bao gồm: con người nhận thức, ngữ cảnh, tâm lý, văn hóa,
logic, v.v… dưới góc độ tri nhận để từ đó, có thể nhận thức đầy đủ hơn, khoa học
hơn về vấn đề này.
- Góp phần tìm hiểu về các cách thức tri nhận thời gian của cộng đồng bản ngữ
dựa trên ngữ liệu tiếng Việt để từ đó nhận thức rõ hơn về “bức tranh thời gian” có
tính chất qui ước xã hội, có tính chất văn hóa, có tính chất mô - típ của cộng đồng
người Việt.
5.2.Về mặt thực tiễn:
- Ngôn ngữ phản ánh tư duy. Con người với tư cách là chủ thể nhận thức thế giới
xung quanh sẽ phản ánh tư duy của mình về thế giới đó qua ngôn ngữ. Dưới góc độ
ngôn ngữ học tri nhận, nghiên cứu việc định vị thời gian trong tiếng Việt giúp ta
phần nào nhận diện được tư duy của dân tộc.
- Góp phần tìm hiểu vấn đề tri nhận thời gian trong tiếng Việt trên cơ sở lý
thuyết tri nhận, đồng thời góp phần tìm hiểu qui luật sử dụng ngôn ngữ trong việc
diễn đạt các ý nghĩa thời gian của người Việt.
- Ngày nay, nhu cầu giao lưu kinh tế và văn hóa giữa các nước là một xu thế
mang tính toàn cầu. Trong công cuộc giao lưu này, việc dạy và học ngoại ngữ, đặc
biệt là dạy học tiếng Việt cho người nước ngoài, đóng một vai trò quan trọng.Việc
nắm bắt được ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt sẽ là cơ sở giúp cho người nước
ngoài sử dụng chính xác tiếng Việt, nhất là những thứ tiếng mà phạm trù thời gian
được ngữ pháp hóa và ngược lại.
6. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần dẫn nhập và phần kết luận, nội dung chính của luận án bao gồm
Định vị thời gian trong chuỗi sự kiện không có chủ thể (người quan sát) tham gia.
4) Định vị thời gian TRÊN –DƯỚI theo chiều đứng của chủ thể. 5) Định vị thời
gian qua từ vựng có ý nghĩa thời gian.
Chương ba: Ẩn dụ thời gian trong thơ văn
Tư duy ẩn dụ thời gian trong văn chương là một thứ tư duy có tính chất phổ
quát cho nhiều cộng đồng ngôn ngữ khác nhau. Do ẩn dụ là công cụ để hiểu được
thế giới của chúng ta và chính bản thân mỗi người cho nên nó cũng gắn kết với
những ẩn dụ thơ ca tạo thành cách thức quan trọng mà qua đó chúng ta hiểu được ý
nghĩa cuộc sống của con người, đặc biệt là mối quan hệ giữa thời gian với con
người. Trong chương này, luận án tìm hiểu về ẩn dụ hình ảnh, ẩn dụ mở rộng những vấn đề có liên quan với việc tìm hiểu ẩn dụ trong văn chương và tập trung
tìm hiểu về ẩn dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ CON NGƯỜI trên cơ sở những ẩn dụ cơ
sở như ẩn dụ THỜI GIAN LÀ KẺ CẮP, THỜI GIAN LÀ KẺ RƯỢT ĐUỔI, THỜI
GIAN LÀ BẠN ĐỒNG HÀNH, THỜI GIAN LÀ KẺ HỦY DIỆT v.v... ; phân tích
những ẩn dụ này trong sự đối chiếu ở thơ ca tiếng Việt và thơ ca tiếng Anh.
17
Chương một
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. SƠ LƯỢC VỀ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
Khoa học tri nhận bước đầu hình thành và phát triển ở Mỹ từ những năm 60
của thế kỷ XX. Lúc này ở Mỹ, lý thuyết tạo sinh – cải biến do Noam Chomsky khởi
xướng tạo ra một hướng đi mới trong việc nghiên cứu ngôn ngữ. Thành quả của nó
là vô cùng lớn. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành tâm lý học tri nhận,
ngành ngôn ngữ học tri nhận được hình thành mà tiền đề của nó là các công trình
nghiên cứu của các học giả tên tuổi như Noam Chomsky với “Các cấu trúc ngữ
pháp”, Ronald W. Langacker với “Ngữ pháp tri nhận”, Charles J. Fillmore với
“Ngữ nghĩa học khung”, R. Jackendoff với “Ngữ nghĩa học ý niệm”, “Không gian
tâm thức”, Gilles Fauconnier với “Sự ánh xạ trong tư duy và ngôn ngữ”. Ngôn ngữ
ngôn ngữ trong chức năng tri nhận của nó nơi mà sự tri nhận đề cập tới vai trò
quan trọng của cấu trúc thông tin trung gian trong sự tiếp xúc của chúng ta với thế
giới. Ngôn ngữ học tri nhận là sự tri nhận trong cùng một cách mà Tâm lý học tri
nhận khi cho rằng sự tương tác của chúng ta với thế giới được suy nghiệm thông
qua những cấu trúc thông tin trong bộ não. Tuy nhiên, nó đặc biệt hơn Tâm lý học
tri nhận bằng cách tập trung vào ngôn ngữ tự nhiên như là một phương tiện trong
việc tổ chức, xử lý, chuyển tải thông tin đó. Vì thế ngôn ngữ được xem như là nơi
lưu giữ của sự hiểu biết thế giới, một bộ sưu tập có tính cấu trúc của các phạm trù
có ý nghĩa mà qua đó giúp chúng ta bàn tới những kinh nghiệm mới và lưu trữ
những thông tin về những kinh nghiệm và thông tin cũ; đồng thời cũng theo ông,
ngôn ngữ học tri nhận không chỉ nghiên cứu về lĩnh vực ngôn ngữ mà còn mở rộng
nghiên cứu ở lĩnh vực khác như những mô hình tri nhận của con người, giao tiếp,
và văn hóa. [111, tr.4-5]. Trong bài viết Nhân học và Ngôn ngữ học (Anthropology
and Linguistics), Roger M. Keesing cho rằng ngôn ngữ học tri nhận là một cuộc
cách mạng mới trong ngôn ngữ theo hướng trải nghiệm: “một yếu tố quan trọng
trong ngôn ngữ học mới này là sự quan trọng của tính trải nghiệm, đặc biệt là sự
trải nghiệm của cơ thể trong việc hình thành ngôn ngữ. Trước sau như một, thông
qua ngôn ngữ, chúng ta thấy một loại chủ quan có tính nghiệm thân mà trong đó
những miền nguồn giàu chất trải nghiệm được sử dụng trong việc đặc điểm hóa
những miền đích có tính chất trừu tượng hơn” [111, tr.1209].
Có thể nói rằng ngôn ngữ học tri nhận là “một trường phái mới của ngôn ngữ
học hiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm về sự cảm
thụ của con người về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người tri
giác và ý niệm hóa các sự vật và sự tình của thế giới khách quan đó.” (Lý Toàn
Thắng [80, tr.16])
2. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA NGÔN NGỮ
HỌC TRI NHẬN VỀ SỰ TRI NHẬN THẾ GIỚI BẰNG NGÔN NGỮ
Đối với ngôn ngữ học tri nhận, nhìn chung, có một số quan điểm và nguyên
lý cơ bản về sự tri nhận thế giới bằng ngôn ngữ như sau:
(ground), ví dụ như trong câu “Chiếc xe đâm vào cột điện ven đường.” thì trong
trường hợp này chiếc xe là hình và cột điện là nền bởi vì chiếc xe là yếu tố nổi trội
so với cột điện. Và vì vậy chiếc xe được chọn làm chủ thể đứng đầu câu.
2.2.3. Sự tiếp cận có tính chất thu hút sự chú ý (attentional) của các yếu tố và các
bình diện khác nhau của một sự tình: theo hướng nghiên cứu này, nhà ngôn ngữ học
tri nhận tập trung khảo sát khái niệm khung - tức là một tập hợp tri thức mà người
nói có được về một sự tình nào đó, khảo sát việc người nói lựa chọn và nhấn mạnh
những phương diện của các khung này và ứng với nó là những biểu đạt khác nhau
trong một ngôn ngữ. Ví dụ như trong câu “Chiếc xe đâm vào cột điện ven đường.”
thì trong trường hợp này, người nói chỉ tập trung miêu tả giai đoạn của của sự tình
hiện tại còn những sự tình trước khi xảy ra tai nạn thì không được nói tới.
2.3. Nguyên lý “dĩ nhân vi trung” là cơ sở phương pháp luận của ngành ngôn ngữ
học tri nhận khi nghiên cứu ngôn ngữ loài người nói chung và ngôn ngữ của mỗi
dân tộc nói riêng. Cần thấy là cụm từ “dĩ nhân” trong nguyên lý này nhấn mạnh đến
vai trò của con người bản ngữ, nói cách khác, là con người của một dân tộc nhất
định.
2.4. Các ngôn ngữ tự nhiên đều có những cách thức riêng trong việc tổ chức các tài
liệu ngữ nghĩa. Đồng thời, trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ đều có phản ánh một
cách hình dung về thực tại khách quan của cộng đồng văn hóa - bản ngữ đó, thường
được gọi là “bức tranh thế giới”. Mỗi “bức tranh thế giới” như thế, ngoài cái chung,
cái phổ quát, có cái riêng, cái đặc thù, ứng với từng ngôn ngữ và phản ánh một cách
tri giác, một cách nhận thức về thế giới của dân tộc ấy, được gọi là “cách nhìn thế
giới”.
Cần nên phân biệt “bức tranh ý niệm về thế giới” và “bức tranh ngôn ngữ về
thế giới”. “Bức tranh ý niệm về thế giới” là hình ảnh hay biểu tượng về thế giới hay
một bộ phận của nó, tồn tại trong ý thức con người, ý niệm luôn gắn liền với văn
hóa dân tộc; nó là cơ sở của “bức tranh ngôn ngữ về thế giới”. Còn bức tranh ngôn
20
nghĩ, hoặc tưởng tượng về các đối tượng của thế giới. Do chỗ quá trình tri nhận của
con người có quan hệ trực tiếp đến môi trường sống của một cộng đồng văn hóa
nhất định cho nên quá trình tri nhận mang nét đặc thù văn hóa - dân tộc. Có thể
hiểu về tri nhận như sau: tri nhận là tất cả những quá trình trong đó những dữ liệu
cảm tính được cải biến khi truyền vào trong não dưới dạng những biểu tượng tinh
thần (hình ảnh, mệnh đề, khung, cảnh, v.v …) để có thể lưu lại trong trí nhớ con
người (dẫn theo Trần Văn Cơ [13, tr.102]). Điều này cho thấy quá trình tri nhận
khác với quá trình nhận thức ở chỗ: nếu như quá trình nhận thức cho ra thành phẩm
cuối cùng là khái niệm mang tính phổ quát thì quá trình tri nhận cho ra thành phẩm
là ý niệm vừa mang tính phổ quát vừa mang tính đặc thù văn hóa dân tộc.
Cần thấy là tham gia vào hoạt động tri nhận có những hệ thống xử lý thông
tin khác nhau vì thế những cấu trúc ý thức được tạo ra không đồng nhất và phụ
21
thuộc vào những kênh theo đó thông tin được truyền đến cho con người.
4. Ý NIỆM
4.1. Khái niệm về ý niệm
Trong quyển từ điển “Longman dictionary of Language teaching and applied
linguistics”(xuất bản năm 1992, trang 74), có sự định nghĩa về ý niệm như sau: ý
niệm là ý tưởng hay ý nghĩa liên kết với một từ hay biểu tượng trong bộ não của con
người. Ý niệm là những ý nghĩa trừu tượng mà những từ và những đơn vị ngôn ngữ
khác biểu trưng. Sự hình thành ý niệm có quan hệ chặt chẽ với việc hành xử ngôn
ngữ và việc sử dụng ý niệm để hình thành những định đề là điều cơ bản đối với tư
duy và sự giao tiếp của con người.
Ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lý của ý
thức chúng ta, là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của bộ
não, của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lý con người.
Đặc điểm của ý niệm có thể tóm lược trong mấy ý chính sau:
tường vách để ở hay để dùng vào một việc nào đó, ngoài ý nghĩa trên, nó còn là cái
chứa đựng sự che chở, đùm bọc, niềm tin, niềm hi vọng, sự đợi chờ (dấu ấn văn hóa
riêng của dân tộc Việt); do vậy, người Việt thường gọi chồng mình hay vợ mình là
nhà tôi, trong khi đó tiếng Anh chỉ dùng những từ ngữ như “my darling”, “my
husband”,“my wife”, “my sweetness”, “my honey” để gọi chồng mình hay vợ mình.
Nhà còn là một vật không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt như
“nhà tổ”, “ngôi nhà tình thương”, “quê nhà” (ca dao: Anh đi anh nhớ quê nhà / Nhớ
canh rau muống nhớ cà dầm tương), không thể thiếu trong đời sống vật chất của
một con người như “Sống vô gia cư, chết vô địa táng (sống không có nhà để ở, chết
không có đất để chôn), “Sống có nhà, chết có mồ”,v.v… . Cũng vậy, thử tìm hiểu về
ý niệm “cái đẹp” của người Việt khi nói về con người qua bài ca dao cổ sau:
Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua
Năm thương cổ áo đeo bùa
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng
Bảy thương nết ở khôn ngoan
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh
Chín thương cô ở một mình
Mười thương con mắt có tình với ai.
Đây là bài ca dao nói về tình yêu nam nữ: một “chàng trai” đang chọn “mẫu”
người yêu lý tưởng của mình. Theo “chàng trai”, người yêu lý tưởng đó phải là
người có vẻ đẹp bên ngoài (ở đây là y phục và cách trang điểm cổ truyền của dân
tộc: tóc bỏ đuôi gà, răng nhánh hạt huyền, cổ áo đeo bùa, nón thượng quai tua) kết
hợp với cái đẹp thuộc về đạo đức, tính tình (ăn nói mặn mà có duyên, nết ở khôn
ngoan, đặc biệt phải là người có tình cảm với mình: con mắt có tình với ai). Như
vậy, trong cái đẹp mang tính lí tưởng thẩm mĩ của “chàng trai” (mà cũng là của
người Việt), quan điểm đạo đức chiếm một vị trí quan trọng; tất nhiên ý niệm về
“cái đẹp” có sự biến đổi theo thời gian, theo từng thời đại, chẳng hạn như trong giai
ngôn ngữ (từ, ngữ, kết cấu) đều biểu đạt những ý niệm và những ý niệm này đều
tương ứng với các ý nghĩa của những đơn vị ngôn ngữ đó. Theo một số học giả
khác, những ý niệm đơn giản nhất được biểu hiện bằng một từ và những ý niệm
phức tạp hơn được biểu hiện trong các cụm từ hoặc các câu. Anna Wierzbicka [152]
chỉ ra rằng việc phân tích các hệ thống từ vựng của các ngôn ngữ có thể giúp phát
hiện một số lượng không lớn những “phần tử sơ đẳng” kiểu ai đó, cái gì đó, vật, chỗ
v.v… , nếu đem tập họp chúng lại thì có thể miêu tả toàn bộ từ vựng của ngôn ngữ.
4.2. Cấu trúc của ý niệm
Ý niệm có cấu trúc trường - chức năng được tổ chức theo cấu tạo hai thành
phần: phần hạt nhân và phần ngoại vi. Hạt nhân của ý niệm là khái niệm, nằm ở
trung tâm của trường - chức năng. Nó có tính phổ quát. Ngoại vi của ý niệm là
những nét đặc thù văn hóa dân tộc bao gồm văn hóa dân tộc, văn hóa các tộc người,
văn hóa địa phương, văn hóa theo nhóm xã hội và văn hóa cá nhân. Như vậy, ý
niệm luôn gắn liền với một nền văn hóa dân tộc nhất định.
Cấu trúc ý niệm thường bao gồm hai thành tố: hình bóng ý niệm và hình nền
ý niệm. Hình bóng ý niệm là ý niệm được biểu đạt bởi từ đã cho. Hình nền ý niệm
được hiểu là tri thức hay cấu trúc ý niệm được tiền giả định bởi hình bóng ý niệm,
hình bóng ý niệm sẽ trở nên vô nghĩa nếu không có hình nền ý niệm.Ví dụ, với một
ý niệm như weekend (hình bóng ý niệm), chúng ta sẽ không thể hiểu được nếu
24
không có tri thức nền (hình nền ý niệm) về dương lịch (ở lịch phương Tây, một tuần
chia ra làm bảy ngày) và những quy ước văn hóa xã hội của phương Tây (một tuần
chia ra: ngày làm việc – workday và ngày nghỉ - weekend).
Chủ nhật
Thứ hai
(ngày
cuối tuần)
Do vậy, ý nghĩa của đơn vị ngôn ngữ phải được xác định có tính đến cả hình
bóng lẫn hình nền ý niệm.
Điều cần thấy là trong ngôn ngữ, có những ý niệm dường như là cùng biểu
đạt một sự vật của thế giới khách quan nhưng thực ra là chúng thuộc “khung” khác
nhau (“khung”: frame – cách gọi của Charles J. Fillmore thay cho hình nền ý niệm.
Lý thuyết “khung” do Fillmore đề xướng trong bài viết “Ngữ nghĩa học khung Frame semantics – xuất bản năm 1982” và “Lịch sử riêng về khái niệm khung -A
private history of the concept ‘Frame’- xuất bản năm 1987”, được dùng trong nhiều
lĩnh vực không chỉ trong ngôn ngữ học mà còn ở cả tâm lý học và ngành học Trí tuệ
nhân tạo), chẳng hạn như trường hợp của flesh và meat. Tuy cả hai đều có nghĩa là
“thịt” nhưng “flesh” được phóng chiếu trên khung cơ thể học hoặc giải phẫu học,
còn “meat” được phóng chiếu trên khung thực phẩm.
David Lee [135, tr.58-59] cũng đưa ra hai trường hợp khung khác nhau của
từ “strong”: i) a strong man, a strong horse (một người đàn ông khỏe, một con ngựa
khỏe), ii) a strong cup of tea (một tách trà đậm). Strong trong “strong man, strong
horse” đuợc phóng chiếu trên khung vật lý học (physics), còn strong trong “a strong
cup of tea” đuợc phóng chiếu trên khung nếm (taste).
Và như vậy, mỗi đơn vị ngôn ngữ, khi xét về nghĩa, thường liên quan đến
những thông tin trong “khung” hơn là trong cấu trúc nội tại của hình bóng ý niệm.
Tóm lại, ý niệm là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận. Nó có một cấu
tạo đa chiều. Nó không những bao hàm khái niệm mà nó còn bao quát toàn bộ nội
dung của từ. Ý niệm luôn gắn với một nền văn hóa nhất định.
4.3. Các loại ý niệm
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ có nhiều ý kiến khác nhau về việc phân loại ý
niệm, tựu trung có thể chia làm ba nhóm:
- Nhóm ý niệm thuộc phạm vi cá nhân lịch sử, những sự kiện xã hội, các tổ chức
quốc gia.