ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_____________________
NGUYỄN NGỌC VŨ
THÀNH NGỮ TIẾNG ANH VÀ THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT
CÓ YẾU TỐ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƢỜI
DƢỚI GÓC NHÌN CỦA NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_____________________
NGUYỄN NGỌC VŨ
THÀNH NGỮ TIẾNG ANH VÀ THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT
CÓ YẾU TỐ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƢỜI
DƢỚI GÓC NHÌN CỦA NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 62.22.01.10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
Thành ngữ, nhận diện và phân loại....................................................... 15
1.2
Quan điểm ngôn ngữ học tri nhận về thành ngữ .................................... 18
1.3
Các quá trình tri nhận cơ bản trong bộ não người .................................. 22
1.4
Hoạt động tổ chức và phân loại tri thức trong bộ não người.................... 26
1.4.1
Hoạt động ý niệm hóa................................................................... 26
1.4.2
Dữ liệu cảm nhận vận động và các cấu trúc tiền ý niệm ................... 26
1.4.3
Mô hình tri nhận lí tưởng hóa ........................................................ 29
1.5
Miền ý niệm ...................................................................................... 31
2.2.1
Hoán dụ ý niệm tuyến tính ............................................................ 57
2.2.2
Hoán dụ ý niệm tiếp hợp ............................................................... 58
2.2.3
Hoán dụ ý niệm bao gộp ............................................................... 61
2.3
Ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm: hai chiến lược tri nhận khác nhau ....... 65
2.3.1
Ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm trên cấu trúc hai trục của ngôn ngữ 65
2.3.2
Quan hệ tương đồng và quan hệ tương cận ..................................... 66
2.3.3
Hiện tượng chiếu xạ miền ý niệm và làm nổi miền ý niệm ............... 69
2.4 Thành ngữ chứa yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người từ góc nhìn ẩn dụ ý niệm
và hoán dụ ý niệm ....................................................................................... 73
3.2
Bộ phận cơ thể người với quyền lực và sự kính trọng ........................... 89
3.2.1
Nắm cái gì đó trong tay là có quyền kiểm soát ................................ 89
3.2.2
Khuôn mặt là danh dự của con người ............................................. 92
3.2.3
Giương mũi lên là thể hiện niềm tự hào .......................................... 95
3.3
Bộ phận cơ thể người và tính cách con người ........................................ 96
3.3.1
Đôi tay sạch hay bẩn là biểu hiện của tính cách ............................... 96
3.3.2
Tính cách là chất liệu.................................................................... 98
3.3.3
Bộ phận cơ thể biểu trưng cho con người và đặc điểm tính cách ........... 112
4.1.1
Hoán dụ ý niệm về cái đầu .......................................................... 112
4.1.2
Hoán dụ ý niệm về đôi mắt ......................................................... 114
4.1.3
Hoán dụ ý niệm về khuôn mặt ..................................................... 117
4.1.4
Hoán dụ ý niệm về cái mũi ......................................................... 120
4.1.5
Hoán dụ ý niệm về đôi tay .......................................................... 121
4.2
Bộ phận cơ thể người biểu trưng cho kĩ năng ...................................... 125
4.2.1
Mắt biểu trưng cho kĩ năng ......................................................... 125
Bộ phận cơ thể người biểu trưng cho tâm trạng, tình cảm..................... 139
4.4.1
Cái đầu biểu trưng cho tình cảm, thái độ ...................................... 139
4.4.2
Khuôn mặt biểu trưng cho tâm trạng con người ............................ 141
4.4.3
Mắt biểu trưng cho tình cảm ....................................................... 144
4.5
Các loại hoán dụ ý niệm khác ............................................................ 149
4.5.1
Cái đầu biểu trưng cho sự thông minh .......................................... 149
4.5.2
Cái đầu biểu trưng cho sự sống.................................................... 152
4.5.3
Cái đầu biểu trưng cho trật tự trên dưới ........................................ 154
Một vài giải pháp giảng dạy ngữ pháp theo hướng tri nhận ................. 175
KẾT LUẬN .................................................................................................. 186
KIẾN NGHỊ VỀ NHỮNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO ........................ 188
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ......................................... 189
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 191
PHỤ LỤC 1: DANH MỤC THUẬT NGỮ VIỆT – ANH ........................ 208
PHỤ LỤC 2: DANH MỤC THUẬT NGỮ ANH – VIỆT ........................ 210
PHỤ LỤC 3: THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT CÓ YẾU TỐ CHỈ BỘ PHẬN
CƠ THỂ NGƢỜI......................................................................................... 212
PHỤ LỤC 4: THÀNH NGỮ TIẾNG ANH CÓ YẾU TỐ CHỈ BỘ PHẬN
CƠ THỂ NGƢỜI......................................................................................... 223
1
DẪN NHẬP
Lí do chọn đề tài
Thành ngữ là bộ phận quan trọng trong bất kì ngôn ngữ của dân tộc nào trên thế
giới. Chính vì vậy, việc nghiên cứu thành ngữ được xem là một trong những chìa
khóa để đi vào kho tàng ngôn ngữ và văn hóa của một cộng đồng. Trên thế giới
cũng như ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu thành ngữ luôn thu hút sự quan
tâm của các nhà ngôn ngữ học và chiếm số lượng đáng kể. Tuy nhiên, phần lớn các
công trình nghiên cứu thành ngữ đến nay chủ yếu tập trung vào việc tìm hiểu cấu
trúc hay khía cạnh văn hóa của thành ngữ. Số lượng các công trình nghiên cứu
thành ngữ theo hướng tri nhận vẫn còn ít, đặc biệt là lớp thành ngữ có chứa yếu tố
chỉ bộ phận cơ thể người. Với đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các quá trình ý niệm
hóa thế giới khách quan trong tư duy của con người, ngôn ngữ học tri nhận đang hé
nhận đã làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề ngôn ngữ học đặc biệt là trong lĩnh vực
thành ngữ học. Ngoài ra, do nhu cầu học tập và giao lưu văn hóa với khối các nước
có nói tiếng Anh đang phát triển mạnh ở Việt Nam, ngành ngôn ngữ học so sánh
đối chiếu đang thu hút sự quan tâm ngày càng nhiều trong giới nghiên cứu. Việc bắt
buộc giảng dạy bộ môn ngôn ngữ học so sánh đối chiếu cho tất cả sinh viên chuyên
ngữ ở các trường đại học từ năm 2007 cho thấy vai trò quan trọng của ngành học
này trong tình hình mới. Bên cạnh đó, bộ môn ngôn ngữ học tri nhận cũng đang
được đưa vào giảng dạy cho sinh viên ngữ văn của các trường đại học. Tuy nhiên,
các tài liệu phục vụ việc nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận bằng tiếng Việt hiện nay
còn rất thiếu. Giáo trình phục vụ việc nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận của sinh
viên Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ có nguồn từ tiếng Anh hoặc tài liệu dịch. Đến giữa
năm 2008, ở Việt Nam mới chỉ có hai quyển sách bàn về ngôn ngữ học tri nhận là
“Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt” của tác giả
Lý Toàn Thắng (2005) [70] và “Ngôn ngữ học tri nhận: ghi chép và suy ngẫm” của
tác giả Trần Văn Cơ (2007) [7]. Như vậy, về mặt khoa học, luận án không chỉ đóng
góp vào vốn hiểu biết về thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt mà còn làm phong phú
3
thêm kho tàng lí luận ngôn ngữ học so sánh đối chiếu nói chung và bổ sung thêm tư
liệu cho việc nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận nói riêng.
Lịch sử vấn đề
Do có vị trí quan trọng trong kho tàng ngôn ngữ của các dân tộc, thành ngữ đã thu
hút sự quan tâm và chú ý rất lớn của các nhà nghiên cứu không chỉ trong lĩnh vực
ngôn ngữ học mà còn ở các lĩnh vực khác như văn học, dân tộc học, văn hóa dân
gian v.v... Số lượng các ẩn phẩm về thành ngữ trên thế giới cũng như ở Việt Nam là
rất lớn. Theo Cowie (1998) [98], thành ngữ học đã được giới nghiên cứu của Liên
Xô và Đông Âu khám phá mạnh mẽ từ thập niên 50 của thế kỉ trước. Trong hơn ba
nhiều bằng chứng cho thấy nghĩa của các đơn vị cấu thành có đóng góp một cách hệ
thống vào nghĩa của thành ngữ. Chẳng hạn như trong trường hợp của thành ngữ
“take the bull by the horn” (giải quyết vấn đề tận gốc) người ta có thể phần nào suy
được nghĩa của thành ngữ từ các đơn vị như “bull‟ và “horn”. Nếu đưa thành ngữ
tiếng Pháp “le ceour du pays” cho một người Việt Nam không hề biết tiếng Pháp và
giải thích nghĩa “coeur” là “tim” và “pays” là “đất nước” thì gần như ai cũng suy
được nghĩa của thành ngữ này là “trung tâm của đất nước”. Điều đó cho thấy là
trong tư duy có một hoạt động giải mã mà trong chừng mực nào đó có thể nói là
giống nhau giữa các dân tộc; nó giúp chúng ta thực hiện được việc suy nghĩa trên.
Ngôn ngữ học tri nhận ra đời chủ yếu là để khám phá hoạt động tư duy ấy. Một loạt
các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận nổi tiếng như George Lakoff, Mark
Johnson và Raymond Gibbs đã đánh giá lại quan điểm truyền thống về bản chất của
ngữ nghĩa, vai trò của ẩn dụ cũng như hoán dụ, vấn đề phạm trù hóa ngôn ngữ và
các mối quan hệ giữa cấu trúc với ngữ nghĩa. Từ những công trình nghiên cứu này
một bộ khung lí thuyết phong phú về cách thức con người cảm nhận, ý niệm hóa và
phạm trù hóa thế giới đã được xây dựng. Trong một chuyên khảo mang tên “Thành
ngữ: Một cách nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận”, Kovecses và Szabo (1996)
[129] đã so sánh cách nhìn thành ngữ từ quan điểm truyền thống và quan điểm của
ngôn ngữ học tri nhận. Theo các tác giả này, quan điểm truyền thống cho rằng
thành ngữ là hiện tượng ngôn ngữ đặc biệt không liên quan đến hệ thống ý niệm của
con người và nghĩa của thành ngữ không thể suy ra được từ các đơn vị cấu thành.
5
Tuy nhiên, theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận thì hầu hết thành ngữ là sản
phẩm của hệ thống ý niệm. Thành ngữ không chỉ đơn thuần là vấn đề của ngôn ngữ
mà còn là vấn đề của tư duy. Nghĩa của thành ngữ có mối liên hệ với các đơn vị cấu
thành và có nguồn gốc từ quá trình ý niệm hóa thế giới của con người. Cùng quan
điểm với Kovecses và Szabo, Lakoff (1987) [135] cho rằng trong bộ não của mỗi
ngữ. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu thành ngữ ở Việt Nam cho đến nay vẫn
chủ yếu đi theo hướng ngôn ngữ học chức năng hoặc ngôn ngữ học cấu trúc. Đi
theo hướng miêu tả cấu trúc hình thái và đặc điểm ngữ nghĩa của một số loại thành
ngữ riêng biệt như thành ngữ đối, thành ngữ so sánh có Bùi Khắc Việt (1981),
Trương Đông San (1974), Hoàng Văn Hành (1976), Chu Bích Thu (1994), Phan
Văn Quế (1995) (dẫn theo Đào Thị Dung, 2004 [20]). Theo hướng nghiên cứu
thành ngữ trong khuôn khổ phân định ranh giới với các đơn vị khác như từ ghép,
quán ngữ, tục ngữ có các công trình của Nguyễn Văn Tu (1960, 1968, 1976), Đỗ
Hữu Châu (1962, 1981, 1986), Nguyễn Kim Thản (1963), Cù Đình Tú (1973,
1982), Nguyễn Văn Mệnh (1972, 1986), Nguyễn Thiện Giáp (1975, 1985), Hồ Lê
(1976), Trương Đông San (1976) (dẫn theo Hoàng Quốc, 2003 [61]). Các công
trình nghiên cứu thành ngữ từ góc độ tri nhận đã bắt đầu xuất hiện trong thời gian
gần đây nhưng vẫn chủ yếu ở dạng các bài báo đăng trên tạp chí. Theo khảo sát của
chúng tôi, đến thời điểm đầu năm 2008, ở Việt Nam vẫn chưa có luận án hay công
trình khoa học nào nghiên cứu đối chiếu một cách toàn diện hệ thống thành ngữ
chứa yếu tố bộ phận cơ thể người tiếng Anh và tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học
tri nhận.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của luận án là nghiên cứu khả năng suy nghĩa thành ngữ và các tổ
hợp ngữ cố định từ những đơn vị cấu thành của chúng. Do thành ngữ là một bộ
phận của từ vựng có số lượng rất lớn trong các ngôn ngữ, nên trong khuôn khổ luận
án này của chúng tôi, sẽ chỉ có những thành ngữ (của tiếng Anh và tiếng Việt) có
chứa yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người được tập trung nghiên cứu.
7
Để phục vụ việc nghiên cứu khả năng suy nghĩa của thành ngữ và các tổ hợp ngữ cố
định từ những đơn vị cấu thành của chúng, chúng tôi dựa vào bộ khung lí thuyết của
hoán dụ ý niệm bởi vì đây là hai công cụ quan trọng nhất của ngôn ngữ học tri nhận
được dùng trong việc khảo sát các tổ hợp ngữ cố định, nhất là thành ngữ.
Đối tượng nghiên cứu quan trọng của luận án là lớp thành ngữ chứa yếu tố chỉ bộ
phận cơ thể người trong tiếng Anh và tiếng Việt. Trong khuôn khổ của luận án,
chúng tôi tập trung phân tích sâu vai trò các ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm trong
việc tạo nghĩa cho lớp thành ngữ này. Để đảm bảo được mục tiêu này, luận án cũng
không khảo sát toàn bộ các ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm có liên quan mà tập
trung khảo sát những bộ phận quan trọng, xuất hiện thường xuyên trong lớp thành
ngữ được khảo sát. Các thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt có chứa yếu tố chỉ bộ
phận cơ thể người được thống kê đầy đủ nhưng trong phần phân tích và khảo sát
chúng tôi cũng chỉ tập trung vào những phần quan trọng của lớp thành ngữ này như
thành ngữ có chứa yếu tố “đầu”, “mắt”, “mặt”, “tay”, “tim” v.v..
Để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu của luận án, chúng tôi tổng hợp tư liệu nghiên cứu
từ nhiều nguồn khác nhau. Thành ngữ tiếng Việt có chứa yếu tố chỉ bộ phận cơ thể
người được thống kê và tổng hợp từ các nguồn sau:
-
Thành ngữ tiếng Việt năm 1978 của Nguyễn Lực, Lương Văn Đang và
Nguyễn Đăng Châu [43].
-
Từ điển thành ngữ - Tục ngữ Việt Nam năm 2000 của Vũ Dung, Vũ Thúy
Anh và Vũ Quang Hào [22].
-
Từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam năm 2003 của Việt Chương
[5], [6].
Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của luận án là xác định vai trò của
ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm trong việc tạo ra nghĩa hàm ẩn của thành ngữ. Để
thực hiện nhiệm vụ này, chúng tôi sử dụng các thao tác phân tích ngôn ngữ học
thông thường áp dụng cho những nhóm thành ngữ khác nhau. Đối với mỗi ẩn dụ ý
niệm hay hoán dụ ý niệm được đưa ra để khảo sát, chúng tôi phân tích miền ý niệm
nguồn và miền ý niệm đích để chỉ ra mối liên hệ giữa miền ý niệm đích với nghĩa
hàm ẩn. Đối với mỗi nhóm thành ngữ cùng có nguồn gốc từ một ẩn dụ hay hoán dụ
ý niệm, chúng tôi tập trung phân tích một vài thành ngữ tiêu biểu để làm nổi bật vai
trò của ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm trong việc suy nghĩa của thành ngữ. Sau
mỗi phần phân tích, chúng tôi sẽ tổng kết lại vai trò của ẩn dụ và hoán dụ ý niệm
đối với từng nhóm thành ngữ được khảo sát.
Xuyên suốt luận án, phương pháp so sánh – đối chiếu có vai trò nổi bật và đặc biệt
quan trọng. Trên cơ sở phân tích các thành ngữ được khảo sát, phương pháp so sánh
– đối chiếu cho phép xác định những điểm tương đồng và dị biệt trong cách tư duy,
phương phức ý niệm hóa thế giới và cả cấu trúc ngôn ngữ của người Anh và người
10
Việt. Việc xác định được những tương đồng và dị biệt giữa thành ngữ của hai ngôn
ngữ về phương diện này sẽ giúp ích nhiều cho công tác giảng dạy và dịch thuật.
Những kết luận rút ra được từ việc so sánh – đối chiếu cũng là tiền đề cho việc ứng
dụng ngôn ngữ học tri nhận vào giảng dạy tiếng Anh được trình bày ở chương cuối
cùng của luận án.
Ý nghĩa khoa học của nội dung nghiên cứu
Về mặt lí luận
Việc tập hợp và hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu lí luận của ngôn ngữ học tri
nhận, đặc biệt là quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận đối với các tổ hợp ngữ cố
định sẽ góp phần bổ sung thêm lí luận và tư liệu cho việc nghiên cứu ngôn ngữ học
với người Việt. Một khi có được kiến thức văn hóa vững chắc về ngoại ngữ mình
đang học tập thì khả năng phạm lỗi sẽ ít hơn và học viên cũng có khả năng phân
tích, xử lí các vấn đề ngôn ngữ hiệu quả hơn. Luận án có những đóng góp mang
tính thực tiễn đối với công tác giảng dạy và biên soạn giáo trình tiếng Anh ở Việt
Nam. Các khung lí luận của ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm
còn có ý nghĩa thực tiễn đối với việc nghiên cứu dịch thuật và biên soạn từ điển.
Luận án cũng cung cấp một kho tư liệu phong phú cho việc nghiên cứu thành ngữ
có chứa yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người. Trong tiếng Anh, lớp thành ngữ này xuất
hiện thường xuyên và được sử dụng phổ biến. Hai bảng danh sách thành ngữ trong
luận án sẽ hỗ trợ đáng kể cho việc học và giảng dạy lớp thành ngữ có chứa yếu tố
chỉ bộ phận cơ thể người.
Một trong những trở ngại cho việc nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam
hiện nay là chưa có được hệ thống thuật ngữ thống nhất tương đương với hệ thống
thuật ngữ tiếng Anh. Những thuật ngữ như “mô hình tri nhận lí tưởng hóa”, “hoán
dụ ý niệm tiếp hợp”, “hoán dụ ý niệm bao gộp”, “miền ý niệm”, “cấu trúc tiền ý
niệm” v.v... được chúng tôi mạnh dạn đưa ra trên cơ sở nghiên cứu cách sử dụng
12
trong những tài liệu khác nhau để dịch các thuật ngữ tương ứng trong tiếng Anh.
Trước khi có được một hệ thống thuật ngữ và tên gọi thống nhất, việc đưa ra các
thuật ngữ này sẽ phần nào giải quyết những khó khăn trong việc dịch thuật tài liệu
ngôn ngữ học tri nhận sang tiếng Việt.
Bố cục của luận án
Phần chính văn của luận án được chia thành năm chương.
Chương một “Một số vấn đề lí luận”
Nội dung chương một trình bày những vấn đề lí luận cơ bản nhất của ngôn ngữ học
tri nhận có liên quan trực tiếp đến việc khảo sát thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt ở
“Bộ phận cơ thể người biểu trưng cho kĩ năng”
“Bộ phận cơ thể người biểu trưng cho sự nhận thức”
“Bộ phận cơ thể người biểu trưng cho tâm trạng, tình cảm”
Các hoán dụ ý niệm quan trọng khác cũng được khảo sát để làm rõ vai trò của hoán
dụ ý niệm đối với việc tạo nghĩa hàm ẩn của thành ngữ.
Chương năm “Ứng dụng ngôn ngữ học tri nhận trong giảng dạy tiếng Anh”
Chương này trình bày những tiềm năng ứng dụng của ngôn ngữ học tri nhận trong
các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là lĩnh vực phương pháp giảng dạy tiếng Anh. Dựa
trên cơ sở lí luận được trình bày trong bốn chương trước của luận án, chương này
trình bày những ứng dụng thực tiễn của ngôn ngữ học tri nhận vào việc giảng dạy
tiếng Anh, cụ thể là dạy thành ngữ, đọc hiểu và ngữ pháp.
Ngoài phần chính văn, luận án có 4 phụ lục. Hai phụ lục đầu tiên trình bày các thuật
ngữ Anh-Việt và Việt-Anh được sử dụng trong luận án. Do hệ thống thuật ngữ dùng
trong ngôn ngữ học tri nhận hiện nay chưa thống nhất và còn thiếu nhiều nên chúng
14
tôi đưa phụ lục này vào để tiện việc đối chiếu của người đọc. Phụ lục thứ ba là bảng
danh sách các thành ngữ tiếng Việt có chứa yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người. Phụ
lục thứ tư là bảng danh sách các thành ngữ tiếng Anh chứa yếu tố chỉ bộ phận cơ
thể người. Để tiện cho việc học tập và nghiên cứu thành ngữ tiếng Anh, chúng tôi
đưa luôn cả nghĩa và ví dụ cho từng thành ngữ trong bảng danh sách này.
15
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
Trong chương 1, chúng tôi trình bày những vấn đề lí luận chính của ngôn ngữ học
tri nhận có liên quan trực tiếp đến nội dung khảo sát của luận án. Các vấn đề trọng
16
-
Chức năng tương đương với từ về phương diện định danh, về sự biểu thị khái
niệm của thành ngữ được đề cập trong phát biểu của các nhà nghiên cứu như
Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Hữu Quỳnh, Nguyễn Công Đức, Vũ Đức
Nghiệu v.v...
Nếu nhìn một cách khái quát, những đặc điểm căn bản của thành ngữ được hầu hết
các nhà nghiên cứu nhất trí bao gồm:
1. Thành ngữ là một cụm từ (ngữ) cố định, là đơn vị ngôn ngữ được làm sẵn và
có khả năng tham gia cấu tạo câu như từ.
2. Có kết cấu hình thức vững chắc, ổn định.
3. Có chức năng định danh.
4. Có ý nghĩa hòan chỉnh, mang tính hình tượng cao.
Tuy nhiên, thực tiễn ngôn ngữ cho thấy việc nhận diện, phân biệt thành ngữ với các
đơn vị lân cận như: quán ngữ, tục ngữ, những đơn vị mà trước nay vẫn được gọi là
từ ghép ... không phải lúc nào cũng đạt được sự nhất trí hoặc không có những
trường hợp ngoại lệ rất khó quyết đáp.
Đối với sự phân biệt thành ngữ và quán ngữ, vấn đề hình như có vẻ khá rõ ràng.
Thành ngữ có chức năng định danh, gọi tên sư vật một cách gợi cảm, bóng bẩy, có
tính hình tượng; còn quán ngữ là những cụm từ cố định được dùng trong các loại
văn bản để thực hiện các chức năng liên kết, tạo lập văn bản, các chức năng ngữ
nghĩa, dụng học của câu (nhấn mạnh, lịch sự, phủ định, bác bỏ, nói dỗi, mỉa mai ...).
Ví dụ: chẳng có lí do gì, của đáng tội, tóm lại, thiết nghĩ, đáng chú ý là v.v...
Tuy nhiên, sự phân biệt thành ngữ với từ ghép và tục ngữ thì tình hình phức tạp hơn
và hiện nay vẫn chưa hết tranh luận (Xem Nguyễn Văn Tu, 1976; Hồ Lê, 1976; Đái
Xuân Ninh, 1976; Trương Đông San, 1976; Cù Đình Tú, 1982; Nguyễn Thiện Giáp,
1985; Đỗ Hữu Châu, 1986; Nguyễn Văn Mệnh, 1986; Vũ Đức Nghiệu, 1991, 2008
hơn, chúng tôi vẫn đưa vào khối ngữ liệu khảo sát. Nói chung là những đơn vị ứng
với thuật ngữ thành ngữ và idiom.