BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC BÙI THỊ ÁNH PHƢƠNG CHỨC NĂNG NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ PHÁP CỦA CÁC YẾU TỐ
CHỈ BỘ PHẬN - CHỈNH THỂ TRONG CẤU TRÚC
CÂU TIẾNG VIỆT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Nhân dịp khóa luận được hoàn thành, em xin chân thành cảm ơn các thầy
cô trong bộ môn tiếng Việt, khoa Ngữ văn, cùng sự ủng hộ của các thầy cô trong
thư viện Trường Đại học Tây Bắc.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, ThS. Lê Thị Hà đã tận tình
giúp đỡ, chỉ bảo và động viên em trong quá trình thực hiện khóa luận!
Đồng thời, em cũng nhận được sự quan tâm động viên của các bạn trong
tập thể lớp K51 ĐHSP Văn - Giáo dục Công dân để hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, ngày 14 tháng 05 năm 2014
Tác giả
Bùi Thị Ánh Phương
MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
2.2.2.1 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong sự thể “hành động” 31
Chƣơng 3: CÁC CHỨC NĂNG NGỮ PHÁP CỦA CÁC YẾU TỐ TRONG
QUAN HỆ BỘ PHẬN – CHỈNH THỂ 41
3.1. Chỉnh thể giữ vai trò chủ ngữ 41
3.1.1. Chỉnh thể - chủ ngữ, bộ phận - bổ ngữ trực tiếp 41
3.1.2. Chỉnh thể - chủ ngữ, bộ phận - bổ ngữ gián tiếp 43
3.1.3. Chỉnh thể - chủ ngữ, bộ phận - bổ ngữ cách thức 44
3.1.4. Chỉnh thể - chủ thể (chủ hữu), bộ phận - bổ ngữ (vật sở hữu) 46
3.1.5. Chỉnh thể - chủ ngữ, bộ phận - nằm trong thành phần phụ trạng ngữ của câu 47
3.2. Bộ phận giữ vai trò chủ ngữ 51
3.2.1. Bộ phận - chủ ngữ, chỉnh thể - yếu tố phụ miêu tả của danh từ bộ phận . 51
3.2.2. Bộ phận - chủ ngữ, chỉnh thể - chủ ngữ 54
Tiểu kết 55
KẾT LUẬN 56 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt đã được rất nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm ở những lĩnh vực khác nhau và có những kết quả đáng tin cậy. Từ
những thế kỉ thứ III trước công nguyên, học phái ngữ pháp A-lech-xang-đri-a đã
nêu định nghĩa về câu: "Câu là sự tổng hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn
vẹn". Vì những lí do nhất định, mà trước hết là tính chất đơn giản, dễ hiểu và
khá hoàn chỉnh của nó, định nghĩa về câu đã được thử thách qua hàng ngàn năm
và cho đến nay vẫn được sử dụng khá phổ biến.
ngữ nghĩa còn tồn tại một loại quan hệ đặc thù, đó là quan hệ bộ phận - chỉnh
thể. Đây không phải là quan hệ giữa chỉnh thể câu (cả câu) với bộ phận nào đó
của câu mà quan hệ giữa từ chỉ bộ phận và từ chỉ chỉnh thể chứa bộ phận đó. Do
sự chi phối của quan hệ bộ phận - chỉnh thể mà câu đôi khi có những cách hiểu
khác nhau về mặt ngữ nghĩa.
Chúng tôi đưa ra những lí do trên, xuất phát từ thực tiễn của hoạt động
tiếng Việt, trên cơ sơ tiếp thu những thành tựu đã đạt được của những công trình
nghiên cứu về câu, chúng tôi mạnh dạn chọn “Chức năng ngữ nghĩa và ngữ
pháp của các yếu tố chỉ bộ phận - chỉnh thể trong cấu trúc câu tiếng Việt”
làm đề tài nghiên cứu. Với hi vọng, kết quả nghiên cứu góp một phần hữu ích
cho việc tìm hiểu về quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong cấu trúc câu tiếng Việt.
2. Lịch sử vấn đề
Trong các kiến giải về cấu trúc câu, lối phân tích câu theo thành phần là lí
thuyết lâu đời và phổ biến hơn cả. Nó đặt nền móng từ thời Aristote (384 - 322
TCN) với cách phân tích câu thành các bộ phận O'no'ma (danh từ chủ danh, chủ
ngữ) và Re'ma (động từ ở thời hiện tại, vị ngữ) (Kondrashov N.A, 1979, tr 13 -
14; Desnitskaja A.B, Nguyễn Kim Thản, 1984, tr 151 - 152) và được áp dụng
vào việc phân tích câu ở hầu hết các ngôn ngữ, nhất là trong nhà trường. Trong
khi đó, những kiến giải khác nhau về cấu trúc câu như lí thuyết thành tố trực
tiếp, ngữ pháp cải biến, ngữ pháp tạo sinh, lí thuyết phân đoạn thực tại… chỉ
mới xuất hiện vào những năm 30 - 40 của thế kỉ XX, có lúc rộ lên như thời
thượng ở một số nơi nhưng rồi lại nhanh chóng được thay thế bằng lí thuyết
mới. Có thể nói, cấu trúc câu là lĩnh vực đã được nghiên cứu từ rất lâu. 3
Nhìn lại quá trình nghiên cứu về quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong câu
tiếng Việt, mặc dù đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, xem xét nhưng mức
độ còn rất hạn chế, hay nói cách khác là sự quan tâm chưa được sâu và rộng.
Từ những năm của thập niên 80, tác giả Nguyễn Kim Thản [18,156] đã
quan hệ bộ phận chỉnh thể trong câu và những minh chứng, lí giải về chúng càng
được khẳng định.
Tài liệu của tác giả J.Lyons trong “Nguyên lí ngữ nghĩa học” (bản dịch
tiếng Pháp của J.Durand, 1918), là một tài liệu mà chúng tôi được tiếp cận cũng
có ý kiến xác đáng bàn về quan hệ bộ phận - chỉnh thể. Ngoài những tác giả kể
trên, còn những tác giả khác bàn về vấn đề này bằng cách này hay cách khác
nhưng trong chừng mực còn rất hạn chế.
Từ những điều đã nói trên đây, có thể khẳng định rằng “Các chức năng
ngữ nghĩa và ngữ pháp của các yếu tố về quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong cấu
trúc câu tiếng Việt được thể hiện trong một số truyện ngắn hay từ 1980 đến nay”
là một lĩnh vực thú vị, cần phải được nghiên cứu sâu rộng hơn.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Quan hệ bộ phận - chỉnh thể không phải là một vấn đề hoàn toàn mới
trong ngữ pháp tiếng Việt, tuy nhiên, xét về quan hệ này như một đối tượng
chuyên môn thì cho đến nay các công trình nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế và
chưa được quan tâm sâu rộng. Khóa luận lấy cấu trúc câu làm đối tượng tìm
hiểu. Song, chúng tôi chỉ dừng lại tập trung nghiên cứu đối tượng trong mối
quan hệ bộ phận - chỉnh thể của cấu trúc câu tiếng Việt. Đó chính là mối quan hệ
giữa từ chỉ bộ phận và những từ chỉ chỉnh thể chứa bộ phận đó.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của khóa luận là khảo sát mối quan hệ giữa các từ chỉ bộ phận
và các từ chỉ chỉnh thể chứa bộ phận đó, để thấy được các chức năng ngữ nghĩa
và ngữ pháp của các yếu tố về quan hệ bộ phận chỉnh thể trong các câu cụ thể.
Chúng tôi cố gắng bổ sung thêm một cách nhìn, một cách nghiên cứu mới về
một loại quan hệ trong cấu trúc câu tiếng Việt. 5
4. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
6
khóa luận. Kết quả nghiên cứu, chừng mực nhất định đã cho thấy bản chất chức
năng ngữ nghĩa và ngữ pháp của các yếu tố này trong cấu trúc câu. Khẳng định
sự tồn tại của quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong cấu trúc câu tiếng Việt là đồng
thời khẳng định rằng có một kiểu quan hệ ngữ ngĩa mới, bổ sung thêm một cách
nhận diện về giá trị ngữ nghĩa của câu - một lĩnh vực luôn luôn là mới mẻ trong
ngữ pháp tiếng Việt nói riêng và trong ngữ pháp học nói chung.
6. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Các chức năng ngữ nghĩa của các yếu tố về quan hệ bộ phận -
chỉnh thể trong cấu trúc câu tiếng Việt.
Chương 3: Chức năng ngữ pháp của các yếu tố về quan hệ bộ phận - chỉnh
thể trong cấu trúc câu tiếng Việt.
Trong các bộ phận chỉnh thể lại có sự phân biệt giữa “bộ phận khả li” và
“bộ phận bất khả li” của chỉnh thể. Bộ phận bất khả li là bộ phận cấu thành
chỉnh thể một cách tự nhiên, thiếu chúng thì chỉnh thể trở nên không hoàn chỉnh,
có khuyết tật (thiếu tay, chân gọi là què, thiếu một mắt gọi là chột). Bộ phận khả 8
li là bộ phận thường có mặt trong chỉnh thể nhưng thiếu chúng chỉnh thể không
vì thế mà trở thành có khuyết tật. Đối với “cái nhà” chẳng hạn bộ phận khả li là
“quả đấm” (cửa) “gạch lát”… Ngôn ngữ học đã chú ý những hành vi ngữ pháp
riêng của các từ chỉ bộ phận bất khả li. Ví dụ, ít khi chúng ta nói: tôi có tay hoặc
tôi có hai tay, tôi có đầu, nhà có mái, (so sánh tôi có áo,tôi có tiền, tôi có vàng
…). Những cách nói như vậy là thừa về thông tin. Những thông tin do câu trên
cung cấp được xem là đã hiển nhiên, đã thuộc tiền giả định giao tiếp. Hễ dùng
đến những cách nói như vậy là hàm ẩn một cái gì bất thường, điều gì đáng chú ý
về những bộ phận đó. Bởi vậy, thông thường phải có những định nghĩa kèm theo
các từ chỉ bộ phận và lượng tin chủ yếu nằm trong các định ngữ này: (tôi có một
tay, tôi có một bàn tay khéo léo… nhà có ba tầng, nhà có mái bằng, tôi có đầu
méo…). Trong tiếng Việt, nói chung chúng ta không dùng các loại từ trước danh
từ chỉ bộ phận bất khả li của chính mình (gãi đầu, chép miệng, giơ tay…). Kết
cấu động từ hoặc tính từ ở trước cũng là dấu hiệu của các danh từ chỉ các bộ
phận bất khả li (đau đầu, bạc tóc, tịt mũi, què tay…). Tuy nhiên, không phải sự
phân biệt bộ phận khả li - bộ phận bất khả li lúc nào cũng rõ ràng, và cũng cần
tính tới khả năng việc một bộ phận bất khả li được dùng một cách cố ý như bộ
phận khả li và ngược lại, một bộ phận khả li lại được dùng một cách cố ý như bộ
phận bất khả li.
1.2. Quan hệ bộ phận - chỉnh thể xét ở phƣơng diện cụm từ
Tác giả Nguyễn Kim Thản [18, 156] cho rằng, trong những câu mà vị tố
là những động từ chỉ hoạt động của bộ phận cơ thể thì hoạt động đó là do chủ
thể (vật hữu sinh) gây ra và chuyển tới bộ phận của cơ thể.
tố - tĩnh trạng.
Ví dụ:
(1) Chị Lan yếu phổi.
Ở ví dụ này, yếu phổi được dùng để nêu đặc trưng cho Chị Lan một cách
trực tiếp, tức là một trạng thái nào đó (yếu) của một bộ phận tim được dùng là
đặc trưng chỉnh thể Chị Lan nghĩa là chỉnh thể có thể được mô tả thông qua bộ
phận. Không phải vô cớ mà có thể hiểu câu này là Chị Lan yếu ở bộ phận gọi là
tim cách hiểu này cho thấy yếu cũng có liên hệ nghĩa một cách trực tiếp với Chị
Lan. Trên cơ sở đó, về mặt ngữ pháp, tim là một bộ phận của Chị Lan. Vậy có
thể gọi tim là bổ ngữ - bộ phận, còn Chị Lan là chủ ngữ - chỉnh thể.
10
Cùng với câu Chị Lan yếu phổi chúng ta còn gặp:
Ví dụ:
(2) Chị Lan yếu tim
Tại đây đặc trưng của bộ phận cũng được lấy làm đặc trưng của chỉnh
thể (ở đây tim có được nhấn mạnh hơn), cho nên cách lí giải Chị Lan trong câu
là chủ ngữ, còn tim yếu là một kiến trúc chủ - vị làm vị ngữ như nhiều tác giả
chủ trương hiện nay là có thể chấp nhận được.
Tìm trong các ngữ liệu mà chúng tôi thu thập được quan hệ bộ phận
chỉnh thể trong kiến trúc chứa vị tố - tĩnh trạng chiếm một khối lượng đáng kể.
Có thể dẫn thêm một số ví dụ khác:
(3) Mắt anh sáng long lanh. [30, 14]
(4) Ông lão bỗng tái mặt. [27, 241]
(5) Cổ họng tôi nghẹn lại. [30, 52]
(6) Lão giỏng tai nghe. [32, 40]
(7) Cô thấy lạnh toát sống lƣng. [32, 46]
(8) Cấn trừng mắt. [32, 61]
mà ở tính chất “ngoại động” đặc biệt, không phải là tính chất tác động lên một
vật khác một cách bình thường như ở:
(14) Chị Lan co dây.
Nếu dây là một vật hoàn toàn chịu tác động của co thì chân lại có thể tự
hoạt động bằng chính hoạt động nêu ở vị tố, hoạt động “co”. Tình hình đó khiến
cho có thể hiểu Chị Lan ở câu Chị Lan co chân là người điều khiển chân mình
hoạt động, là nguyên nhân của sự kiện co chân. Về mặt ngữ pháp đối chiếu với
dây trong Chị Lan co dây thì chân trong Chị Lan co chân rõ ràng là một bổ ngữ.
Nhưng về mặt ngữ nghĩa, trong mối quan hệ với co nếu dây là khách thể thì
chân lại là chủ thể. Trong mối quan hệ với Chị Lan, chân là bộ phận.
Trong nguồn ngữ liệu, kiến trúc có quan hệ bộ phận - chỉnh thể chứa vị tố
chỉ hoạt động chiếm một số lượng lớn, đặc biệt là những kiến trúc chứa vị tố chỉ
“hoạt đông của bộ phận cơ thể” theo cách gọi của Nguyễn Kim Thản.
Ví dụ:
(15) Chị nhắm mắt lại nghĩ nhanh. [30, 402]
(16) Tôi gật đầu. [32, 96]
(17) Bà già nhíu trán, im lặng một lúc rồi thủ thỉ như tâm sự. [30, 407]
(18) Cô Phượng gục đầu vào ngực tôi nức nở. [32, 115]
(19) Chị quay đầu nhìn chừng con. [30, 431] 12
(20) Anh chép miệng phàn nàn. [30, 44]
Trên cơ sở cách nhận diện quan hệ bộ phận - chỉnh thể của các tác giả chúng
ta đã nêu cộng với quan điểm cơ bản mà J.Lyons đề ra, quan hệ bộ phận - chỉnh thể
được hiểu như thế nào? chúng ta sẽ được tìm hiểu ở mục tiếp theo sau đây.
1.4. Xác định và phân loại quan hệ bộ phận - chỉnh thể
Trong nghiên cứu, những minh chứng về sự tồn tại hiển nhiên của phạm
trù quan hệ bộ phận - chỉnh thể đã cho chúng ta thấy rằng, đây không phải là
một phạm trù có tính độc lập hoàn toàn. Tìm hiểu và nghiên cứu kĩ sẽ thấy ở
giả sử ta có lớp gọi là hoa và lớp ta gọi là hoa hồng thì hoa bao chứa hoa hồng
và hoa hồng nằm trong hoa. Còn quan hệ bộ phận - chỉnh thể là quan hệ trong
một lớp và từng phần tử của nó. Giữa một chiếc xe và một chiếc đèn nhưng lớp
chiếc xe không chứa lớp chiếc đèn. [17, 29]
Ở quan hệ cấp loại là sự phân loại - loại (Toxonomie) tức là sự phân chia
một lớp lớn thành các tiểu loại, còn ở quan hệ bộ phận - chỉnh thể là sự phân loại
bộ phận, tức là sự phân chia một chỉnh thể thành những bộ phận tạo nên chúng.
Ví dụ: Sự phân loại hoa thành hoa huệ, hoa hồng, hoa lan rồi hoa hồng
lại tiếp tục được chia thành hồng nhung, hồng bạch… là sự phân loại - loại. Còn
sự phân chia cơ thể thành: mắt, mũi, tai… rồi mắt được chia thành lông mày,
lông mi, lòng trắng, lòng đen, con ngươi… là sự phân loại - bộ phận.
Ví dụ: Trong tiếng Việt, các từ: mái, nền, tường, cửa… có quan hệ bộ phận
với từ chỉnh thể nhà, đầu, mình, tay, chân… có quan hệ với từ người (hiểu theo
nghĩa cơ thể).
(23) Ví dụ: Quý ngừng lại một giây rồi bỗng rướn người lên, hai bàn tay
run run chụp lấy tay tôi, ghì sát vào má. [30, 30]
Quan hệ cấp loại và quan hệ bộ phận - chỉnh thể còn có chỗ khác nhau nữa
là: ở quan hệ cấp loại, ý nghĩa của các từ hạ danh là sự loại biệt hóa ý nghĩa của
các từ thượng danh. Khi định nghĩa một từ hạ danh chúng ta có thể dùng một từ
thượng danh (hay ý nghĩa của nó) để diễn đạt phần chung, theo cách nói của chúng
ta thì có thể dùng từ thượng danh để làm ngoại biểu cho nét nghĩa phạm trù chung
cho các từ cùng một cấp loại. J.Lyons cho rằng ý nghĩa của các từ hạ danh có thể
xem là một sự định ngữ, tức là thêm định ngữ cho từ thượng danh.
Ví dụ: Có thể định nghĩa áo là “đồ mặc cho nửa thân trên” và đồ mặc (y
phục) là từ thượng danh, hoặc định nghĩa bò là “hoạt động dời chỗ bằng cách…” 14
và như vậy, “dời chỗ” là từ thượng danh của bò, đi, chạy… Đặc điểm này,
không đúng với các từ chỉ bộ phận chỉnh thể. Không thể nói tường, mái, nhà là
15
(26) Cái áo này không có măng séc.
Nói chung, sự khác biệt giữa quan hệ cấp loại và quan hệ bộ phận - chỉnh
thể như chúng ta đã nói là tương đối rõ ràng nhưng trong trường hợp: cánh tay:
thân thể, bánh xe: xe đạp… tức là những trường hợp mà những từ đang xét là
những danh từ cụ thể, biểu thị sự vật rời (có thể đếm được). Tuy nhiên, cũng có
những ý kiến cho rằng quan hệ bộ phận - chỉnh thể cũng áp dụng được vào
những trường hợp từ đang xem xét là những từ không phải những danh từ cụ thể
biểu thị sự vật rời. Trong những trường hợp này, sự phân biệt giữa quan hệ cấp
loại và quan hệ bộ phận - chỉnh thể khó mà nhận ra được.
Theo J.Lyons trong ngôn ngữ có những từ có thể có thể được biểu thị bằng
ngôn ngữ như một quan hệ cấp loại hoặc một quan hệ bộ phận - chỉnh thể. Đó
không phải là những danh từ cụ thể biểu thị những sự vật rời, ví dụ như đầu,
mình, tay, chân… với cơ thể; măng séc, tay áo… với áo mà là những danh từ
trừu tượng không đếm được. Chẳng hạn, người ta có thể nêu ra mệnh đề: X biết
khâu hàm chứa sự liên hợp các mệnh đề: X biết khâu đường viền, X biết khâu
lược, X biết pick… Mỗi động từ của tập hợp đó (khâu đường viền, khâu lược,
khâu picke) là một cấp loại của khâu, đồng thời cũng chỉ ra một hoạt động là bộ
phận mà hoạt động khâu chỉ ra. Hay người ta có thể coi tính trung thực là một
thứ đạo đức và cũng có thể coi là một bộ phận của đạo đức.
J.Lyons còn cho rằng, trong nội bộ quan hệ bộ phận - chỉnh thể còn có
một kiểu khác mà chúng tôi gọi là quan hệ “thành viên - tập hợp” (thuật ngữ của
Diệp Quang Ban). Có thể nói, quan hệ “thành viên - tập hợp” là một kiểu nhỏ
nằm trong quan hệ bộ phận - chỉnh thể cơ sở để xếp quan hệ “thành viên - tập
hợp” vào kiểu quan hệ bộ phận - chỉnh thể là trong quan hệ “tập hợp - thành
viên”, các thành viên là những đơn vị cấu thành “tập hợp” cũng giống như trong
các bộ phận là những yếu tố cấu thành chỉnh thể. Tuy nhiên, các bộ phận trong
quan hệ bộ phận - chỉnh thể là các bộ phận hữu cơ cấu thành chỉnh thể còn các
thành viên là những đơn vị rời, tách biệt, hoàn chỉnh nhưng cũng cấu thành tập
Về thực chất, trong câu (27) Quân địch có quan hệ nghĩa với hai sĩ quan
theo kiểu thành viên - tập hợp. Quan hệ này bộc lộ rõ trong các kiểu câu:
Ví dụ: Gà còn hai con. (28)
Trong ví dụ (28) từ gà khi dùng không có danh từ - loại từ, con đứng trước
thường có nghĩa chỉ giống gà nói chung, cho nên ý nghĩa tập hợp và thành viên 17
ở đây là rất rõ giữa gà và con không còn cơ sở nghĩa cho một quan hệ chủ - vị
trực tiếp. Quân địch ở ví dụ (27) và gà ở ví dụ (28) là những vật được nêu lên,
nhưng không có quan hệ chủ - vị trực tiếp với phần câu còn lại, nên chúng là
chủ đề của câu nói và không phải là chủ ngữ trong câu. Đó là thứ thành phần
phụ của câu mà hiện nay được đặc biệt chú ý tới với tên gọi “đề ngữ”.
Phần câu còn lại trong (27) và (28) là dạng câu đặc biệt giống như: Còn tiền.
Vai trò bổ ngữ của Hai sĩ quan ở (27) và gà (28) đã được một số tác giả
thừa nhận. Thuật ngữ bổ ngữ - chủ thể cũng thích hợp với chúng, vì cả ở đây các
danh từ chỉ thành viên cũng có thể chuyển lên trước vị tố để làm thành câu có
chủ ngữ - chủ thể.
(29) Ví dụ: Hai sĩ quan (địch) chết.
(30) Hai con gà (vẫn) còn.
Như vậy, cách phân tích ngữ pháp câu chứa quan hệ thành viên - tập hợp
khác cách phân tích ngữ pháp câu chứa bộ phận - chỉnh thể không phải là không
có cơ sở.
Dù cho trật tự giữa vị tố với các danh từ chỉ thành viên như thế nào, danh
từ chỉ tập hợp vẫn là đề ngữ của câu. Về phía mình, vai trò chủ yếu của danh từ
chỉ chỉnh thể cũng không lệ thuộc vào trật tự của vị tố và danh từ chỉ bộ phận.
Ví dụ: Chị Lan yếu tim. (31)
Cùng với câu này chúng ta còn gặp:
Chị Lan tim yếu. (32)
Tại câu (31) đặc trưng của bộ phận cũng được lấy làm đặc trưng của chỉnh
Trong “Nguyên lí ngữ nghĩa học” [25], J.Lyons đã dẫn ra ý kiến của hai tác
giả Bierwisch, 1965 và Kiefer, 1966 trong việc khẳng định quan hệ bộ phận -
chỉnh thể gắn với một lớp con riêng của kiến trúc sở hữu được thể hiện qua các
ngữ đoạn và câu có liên hệ với nhau về mặt ngữ nghĩa (và có thể về mặt ngữ
pháp nữa).
Nhiều ngôn ngữ (nhưng không phải là tiếng Anh) có một sự khác biệt giữa
các cấu trúc sở hữu này với các ngữ đoạn và các câu kiểu như “John‟s book”
(sách của John) và “John has book” (John có một quyển sách ). Đối với loại thứ
nhất, người ta nói đến sở hữu bất khả li, đối với loại thứ hai người ta nói đến sở
hữu khả li. 19
Với tác giả Diệp Quang Ban, không những hai loại quan hệ này liên quan
đến nhau mà trong nhiều trường hợp còn không thể phân biệt được đâu là quan
hệ bộ phận - chỉnh thể, đâu là quan hệ sở hữu.
Ví dụ:
(34) Cái cây này có nhiều cành.
Trong ví dụ, giữa cành và cây có quan hệ bộ phận - chỉnh thể. Và quan hệ
này lấp dưới khuôn hình câu sở hữu trả lời cho câu hỏi “X có cái gì” hoặc “X
thế nào” [6,67]. Trong [1,45], tác giả còn khẳng định giữa quan hệ bộ phận -
chỉnh thể, quan hệ sở hữu, quan hệ tồn tại định vị đều có nét chung. Và lí thú
hơn là trong tiếng Việt, tồn tại những câu trong đó thực sự tổng hòa ba kiểu
quan hệ trên, và các kiểu chủ ngữ - chủ hữu, chủ ngữ - vị trí, chủ ngữ chỉnh thể
một bên, bổ ngữ - vật sở thuộc, bổ ngữ - chủ thể, bổ ngữ - bộ phận một bên,
cũng được hợp nhất lại trong ba yếu tố ngôn ngữ, khó tách chúng ra khỏi nhau.
Đó là các trường hợp của ví dụ:
(35) Con bò này có hai cái sừng rất đẹp.
Sự khái quát trên rõ rang là có cơ sở lí luận và thực tiễn, tuy nhiên việc
phân chia chúng thành ba kiểu nhỏ vẫn là cần thiết (ở những bậc phân tích sâu
trên, có thể phát biểu về quan hệ bộ phận và chỉnh thể như sau:
1.4.2.1 Khái niệm
Quan hệ bộ phận - chỉnh thể là quan hệ giữa các bộ phận không tách rời
(bất khả li) hay tách rời (khả li) của một sự vật với chính vật (chỉnh thể) đó.
(42) Ví dụ: Người đàn ông khẽ cau mày rồi lặng im hớp mấy ngụm rượu
liên tiếp. [30, 542]
Ở ví dụ này, có thể hiểu Người đàn ông và mày là một cặp từ có quan hệ bộ
phận - chỉnh thể với nhau, trong đó Người đàn ông là từ chỉ “chỉnh thể”, “mày” là từ
chỉ một “bộ phận” nằm trong (cấu thành) Người đàn ông. Mày là yếu tố "bộ phận"
thể hiện đặc trưng cho Người đàn ông "chỉnh thể". Người đàn ông là nguyên nhân
gây ra hành động “cau” mà “mày” là chủ thể thực hiện hành động…
Như vậy, quan hệ bộ phận - chỉnh thể có những đặc trưng cơ bản sau:
1.4.2.2 Đặc trưng cơ bản của quan hệ bộ phận - chỉnh thể
Trước hết phải khẳng định rằng, quan hệ bộ phận - chỉnh thể là quan hệ ngữ
nghĩa giữa các yếu tố được gọi là “bộ phận” và “chỉnh thể”. Bởi vì hình thái của từ