TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(33).2009
173
CÁC CHỨC NĂNG NGỮ DỤNG CỦA LỜI NÓI MỈA
TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
PRAGMATIC FUNCTIONS OF IRONY IN ENGLISH AND VIETNAMESE
Lưu Quý Khương
Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHĐN
Phạm Thị Kim Sa
Trường Cao đẳng Nghề tỉnh Phú Yên
TÓM TẮT
Nói mỉa là một phương tiện tu từ được sử dụng rộng rãi và thu hút sự chú ý của nhiều
nhà văn, nhà tâm lý học cũng như các nhà ngôn ngữ học. Lời nói mỉa được sử dụng để biểu
đạt thái độ phủ định đối với điều gì đó. Trong Tiếng Anh, nó có thể được sử dụng như phương
tiện để phê bình, chế giễu, gây cười, nhấn mạnh, để tỏ sự thương cảm, sự hối tiếc. Mặc dầu lời
nói mỉa tiếng Việt không có chức năng nhấn mạnh nhưng lại có chức năng biểu lộ sự khinh
miệt ngoài các chức năng nêu trên. Trong bài viết này, chúng tôi tập trung đề cập đến các chức
năng ngữ dụng của lời nói mỉa trong tiếng Anh và tiếng Việt nhằm tìm ra những tương đồng, dị
biệt góp phần nâng cao hiệu quả dạy, học, dịch thuật những tác phẩm văn học Anh và Việt. Kết
quả thu được cũng trang bị thêm cho người học 2 ngôn ngữ một cách nói uyển chuyển, thâm
thuý hơn khi biểu đạt ý kiến của mình.
ABSTRACT
Irony, a widely employed figure of speech, has received considerable attention from
writers, psychologists as well as linguists. Irony could be used to show one’s negative attitude to
something. In English, it could be used as a means to criticise, mock, humour, emphasize, pity
as well as regret. Although Vietnamese irony is not used as a means to express emphasis, it is
used for contempt apart from the functions mentioned above. This paper focusses on pragmatic
functions of English irony and Vietnamese irony with the aim of discovering similarities and
one’s pocket.
(Chắc phải thú vị nếu người nào đó ở nước ngoài mà không có đồng xu dính
túi.)
Trong ví dụ này, từ “ delightful” (thú vị) không phù hợp với ngữ cảnh quanh
nó. Thật ra từ này phải được hiểu là “ unpleasnt” or “not delightful” (không thú vị”) thì
mới hợp với hoàn cảnh đã nêu ra: “in a foreign country without a penny in one’s
pocket” (ở nước ngoài mà không có đồng xu dính túi).
Đinh Trọng Lạc [12, tr. 80] phát biểu rằng “nói mỉa là một phương thức chuyển
tên gọi từ một biểu vật này sang một biểu vật khác, dựa vào sự đối lập giữa cách đánh
giá tốt được diễn đạt một cách hiển minh với cách đánh giá ngụ ý xấu theo nghĩa hàm
ẩn đối với biểu vật.”
(2) Lí lịch ông Thiên lôi thế là trong trắng. Nhưng còn đối với đời? Hỏi có còn
ai đến đâm đầu vào lấy một thằng giết vợ nữa?
Nghĩa mỉa mai của ví dụ trên được thể hiện qua từ “trong trắng”. Một kẻ giết
người không thể nào trong trắng được. Vì vậy ở đây từ “trong trắng ” phải được hiểu
ngược lại “không trong trắng” hoặc “xấu”.
Cả hai định nghĩa trên đều thừa nhận rằng nói mỉa được dùng để ám chỉ nghĩa
ngược lại với nghĩa hiển ngôn trong câu.
4. Các chức năng ngữ dụng của nói mỉa
Trong giao tiếp, người ta không chỉ đưa ra những phát ngôn chứa những cấu trúc
ngữ pháp và từ mà còn thực hiện hành động nào đó thông qua các phát ngôn này. Theo
đó, người ta có thể dùng lời nói mỉa để nói lên thái độ thật của mình và biểu lộ nhiều
hành động ngôn từ khác nhau.
4.1 Nói mỉa để chế giễu
Đây là một chức năng ngữ dụng phổ biến nhất của lời nói mỉa trong cả hai ngôn
ngữ. Xét các ví sau:
(3) When Becky followed them to the table of drawings, they dropped off one by
one to the fire again. She tried to speak to one of the children (of whom she was
commonly fond in public places), but Master George Gaunt was called away by his
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(33).2009
(6) Nó làm như nó đẹp giai lắm. Các cô con gái Hà Nội ai cũng phải lòng nó.
[13,p.165]
Trong ví dụ (6), người nói đã mượn từ “đẹp giai lắm” và “phải lòng” để chế giễu
cái vẻ bề ngoài của người đã được nhắc đến. Chúng ta có thể nhận ra sự đánh giá ngược
của người nói thông qua thông từ “làm như”.
4.2 Nói mỉa để phê bình
Các nhà văn thường sử dụng lời nói mỉa để phê bình một cách gián tiếp điều gì
đấy mà họ không hài lòng. Các câu sau là ví dụ điển hình:
(7) Mr. Sowerberry was closeted with the board for five minutes; and it was
arranged that Oliver should go to him that evening “upon liking”- a phrase which
means, in the case of a parish apprentice, that if the master find, upon a short trial, that
he can get enough work out of a boy without putting too much food into him, he shall
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(33).2009
176
have him for a term of years, to do what he likes with. [
(Ông Xaoơberi hỏi riêng với ban quản trị trong vòng năm phút; và người ta thu
xếp, là chiều tối hôm ấy Ôlivơ phải đến nhà ông ta “theo sở thích của mình”, câu này
đối với trường hợp một anh học nghề ở địa phương, có nghĩa là nếu ông chủ sau khi thử
thách một thời gian ngắn, thấy ông ta có thể bắt một thằng bé làm khá nhiều việc mà
không phải nhét vào bụng nó nhiều thức ăn cho lắm thì ông sẽ giữ nó ở nhà mình trong
một vài năm và muốn đối xử với nó như thế nào cũng được.)
Ví dụ trên được trích từ tác phẩm Oliver Twist của Charles Dickens. Tác giả giải
thích cụm từ “upon liking” (theo sở thích của mình) theo cách nói của chính quyền địa
phương. Nó có nghĩa là cậu bé có thể quyết định tiếp tục việc học nghề hay không
nhưng cái điều ngược lại mới thật sự đúng trong trường hợp này. Ông chủ là người duy
nhất có thể quyết định. Với lời giải thích của Dickens độc giả có thể thấy được rằng ông
đã gián tiếp phê bình cái ngôn ngữ của chính quyền địa phương. Đọc giả có thể hoài
nghi đây là lời nói mỉa mà không cần sự giải thích của tác giả vì cụm từ này được đặt
ông sư vì các sư lu ôn sống vì mục đích cao đẹp luôn có hành vi chính chắn và không
quan tâm đến vật chất, vẻ bề ngoài hay điều gì khác. Ở đây tác giả muốn nói rằng đó
chẳng phải là ông sư. Bẳng cách sử dụng từ khác lạ, tác giả làm cho người đọc phải bật
cười.
4.4 Nói mỉa như một cách biểu hiện sự thương cảm
Khi tạo ra một nhân vật, người viết thường có trong đầu một cảm giác nhất định
về nhân vật ấy. Họ có thể sử dụng nói mỉa để biểu lộ sự thương cảm. Có thể thấy chức
năng này ở các ví dụ sau:
(11) If Amelia could have heard the comments regarding her which were in the
circle from which her father’s ruin had just driven her, she would have seen what her
own crimes were, and how entirely her character was jeopardized. [15, tr.162]
(Nếu Amêlia được nghe những lời bình phẩm về mình trong cái xã hội mà sự
phá sản của cha cô vừa bắt cô phải rời bỏ, thì cô mới thấy hết tội lỗi của mình đã làm
hại danh dự mình đến thế nào.)
Theo tình tiết trong câu chuyện, tội lỗi duy nhất mà Amêlia đã gây ra là yêu
Giorgiơ bằng cả con tim của mình. Yêu không phải là một cái tội và Amêlia chẳng có
tội lỗi gì. Đó chính là thông điệp mà tác giả đã muốn truyền đạt đến độc giả đồng thời
qua đó tác giả đã biểu lộ sự thương cảm của mình đối với tình cảnh trớ trêu của cô gái
tội nghiệp, ngây thơ và chung thủy giữa một đám người ác độc, tham lam và xảo quyệt.
(12) Cái khăn lượt với cái áo thụng xanh làm cho chú rể trở nên trịnh trọng một
cách đáng thương. Và hãy tưởng, anh ấy phải đóng y phục ấy suốt ngày lẫn đêm.
[12, tr.916]
“Trịnh trọng” không phải là những gì mà tác giả thật sự muốn nói vì nó hoàn
toàn trái ngược với cụm từ “một cách đáng thương”. “Trịnh trọng” trong trường hợp
này phải hiểu là “vụng về”. Rõ ràng tác giả đã biểu lộ sự thương cảm của mình đối với
người nam trong trang phục chú rể.
4.5 Nói mỉa để biểu lộ sự hối tiếc
Trong cuộc sống có những lúc ta đã làm những điều không đúng, không phù hợp
để rồi sau này mới nhận ra và cảm thấy hối tiếc. Người ta có thể biểu lộ sự hối tiếc một
cách trực tiếp cũng có thể biểu lộ sự hối tiếc một cách gián tiếp thông qua lời nói mỉa.
multiplication table, one of the deaf honourable gentlemen, blind honourable
gentlemen, dumb honourable gentlemen, lame honourable gentlemen, dead
honourable gentlemen, to every order consideration.
(Thời gian đã đẩy ông vào một trong một bộ máy nhỏ bé khá ầm ĩ và bẩn thỉu
làm cho ông đắc cử hội viên hội đồng thành phố Than. Ông là một trong những nhân
vật đáng kính phụ trách tính toán từng xu nhỏ, từng lạng, từng lô; một nhân vật tiêu
biểu cho bảng tính nhân; một trong những quý ông đáng trọng v ọng giả câm; một
trong những quý ông đáng trọng vọng giả mù, một trong những quý ông đáng trọng
vọng giả điếc; một trong những quý ông đáng trọng vọng giả què, một trong những
quý ông đáng trọng vọng giả chết lúc đụng đến những việc khác ngoài việc cân đo.)
Đoạn trích trên nói về ông Gơ-rát-gơ-rai trong tác phẩm Thời gian khổ của
Charles Dickens. Giả câm, giả điếc, giả mù, giả què, giả chết và tính toán từng xu nhỏ
không phải là những tính cách đáng được người khác trọng vọng. Bằng cách sử dụng
các từ tao nhã và lập lại chúng nhiều lần, tác giả nhấn mạnh rằng ông Gơ -rát-gơ-rai là
một người không đáng trọng vọng hay đáng khinh.
4.7 Nói mỉa để biểu lộ sự khinh miệt
Nói mỉa để biểu lộ sự khinh miệt chỉ xuất hiện trong khối liệu tiếng Việt. Chức
năng này có thể thấy được qua các ví dụ sau:
(16) Đi thôi Nga. Từ rày về sau chúng tôi không dám bước vào gian hàng của
bà đâu. Ở đây mọi thứ đều bằng vàng, bọn nghèo khổ như chúng tôi tiền đâu mà mua
cho được.
(17) Mày tưởng người ta không thể mua đâu chó đấy chắc! Hay chó của mày
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(33).2009
179
bằng vàng?
Ngữ cảnh không cho phép chúng ta hiểu các từ in đậm ở các ví dụ trên theo
nghĩa đen của chúng. Ở đây các từ nói mỉa “bằng vàng” ở ví dụ (20) và “ không thể mua
đâu được chó đấy chắc”, “bằng vàng” ở ví dụ (21) được sử dụng để biểu lộ thái độ
Tổng cộng 500 100 500 100
Nhìn vào cột phần trăm của bảng thống kê trên ta thấy nói mỉa để chế giễu là
chức năng phổ biến nhất trong cả tiếng Anh và tiếng Việt (tiếng Anh: 48.6%; tiếng Việt:
47.6%). Bảng phân tích dữ liệu cũng cho thấy rằng nói mỉa để biểu lộ sự hối tiếc trong
tiếng Anh xuất hiện với tần số thấp nhất (1%). Chức năng nhấn mạnh của lời nói mỉa
không được tìm thầy trong tiếng Việt trong khi trong tiếng Anh nó chiếm 9.2%. Ngược
lại, chức năng biểu lộ sự khinh miệt lại không xuất hiện trong tiếng Anh mà lại xuất
hiện trong tiếng Việt (2.0%).
6. Sự giống và khác nhau về chức năng dụng học của nói mỉa trong tiếng Anh và
tiếng Việt
a. Sự giống nhau
Việc đối chiếu phương tiện tu từ nói mỉa trên bình diện ngữ dụng học giữa tiếng
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(33).2009
180
Anh và tiếng Việt cho thấy có sự tương đồng và dị biệt. Sự tương đồng nằm ở một số
điểm. Các nhà văn Anh và Việt thường sử dụng lời nói mỉa để chế giễu, phê bình, gây
cười, biểu lộ sự thương cảm hay sự hối tiếc. Giữa các chức năng trên, chế giễu là chức
năng phổ biến nhất đạt được thông qua lời nói mỉa (tiếng Anh: 243 ví dụ chiếm 48.6%;
tiếng Việt: 238 ví dụ chiếm 47.6 % ).
b. Sự khác nhau
Thứ nhất, nói mỉa để chế giễu ,gây cười trong Tiếng Anh diễn ra thường xuyên
hơn Tiếng Việt trong khi nói mỉa để phê bình, để biểu lộ sự thương cảm và hối tiếc
trong tiếng Việt lại diễn ra thường xuyên hơn tiếng Anh. Thứ hai, nói mỉa để biểu lộ sự
khinh miệt là đặc trưng độc đáo của tiếng Việt vì chúng không được tìm thấy trong
tiếng Anh. Ngược lại, nói mỉa để nhấn mạnh điều ngược lại không tìm thầy được trong
tiếng Việt. Thứ ba, để hiểu được các chức năng của lời nói mỉa tiếng Anh, người đọc
phải dựa vào ngữ cảnh ở phạm vi rộng hơn lời nói mỉa tiếng Việt. Trong 500 ví dụ nói
[10] Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học Tiếng Việt, Nxb Giáo dục.
[11] Mười tám tác giả nữ (1999), Truyện ngắn chọn lọc mười tám tác giả nữ, Nxb Hội
Nhà văn.
[12] Nhiều tác giả (1998), Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930-1945, Nxb Khoa học Xã hội.
[13] Nhiều tác giả (2004), Truyện ngắn Việt Nam 1930-1945, Nxb Giáo dục.
[14] Vũ Trọng Phụng (1997), Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (tập 3), Nxb Văn học.
[15] Thackeray, W.M (2001), Vanity Fair,Wordsworth Editions Limited.
[16] Ngô Tất Tố (2007), Tắt đèn, Nxb Văn hóa Thông tin.