ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
NGUYễN THị QUỳNH HOA
LUậN áN TIếN Sĩ NGữ VĂN Hà NộI - 2004
ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
với đảo ngữ tiếng Việt 125
Bảng 4.1 : Tiêu điểm thông báo -
Chủ ngữ đảo tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt 134 i
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4
3. Mục tiêu của luận án 11
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 11
5. Nguồn tƣ liệu sử dụng trong luận án 12
6. Vấn đề đối chiếu trong luận án 13
7. Cái mới của luận án 19
8. Bố cục của luận án 20
NỘI DUNG 22
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẢO NGỮ TIẾNG ANH, TIẾNG VIỆT
VÀ CÁC CƠ SỞ LÍ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN 22
1.1. Tổng quan về đảo ngữ tiếng Anh 22
1.1.1. Đảo ngữ tiếng Anh từ góc nhìn lịch đại 23
1.1.2. Tình hình nghiên cứu đảo ngữ tiếng Anh 26
1.1.2.1. Một số kiến giải tiêu biểu về đảo ngữ toàn phần 30
1.1.2.2. Một số kiến giải tiêu biểu về đảo trợ động từ 37
1.1.2.3. Kiến giải về đảo ngữ dựa vào “đề ngữ” 39
1.2. Tổng quan về đảo ngữ tiếng Việt 43
1.2.1. Đảo ngữ trong lĩnh vực ngữ pháp 43
1.2.2. Đảo ngữ trong lĩnh vực phong cách học 49
1.3. Các cơ sở lí thuyết có liên quan đến đảo ngữ 55
2.2.4. Một số đặc điểm của đảo ngữ tiếng Việt 92
2.3. Tiểu kết 97
iii
CHƢƠNG 3: ĐẢO NGỮ VỚI CHỨC NĂNG GIỚI THIỆU
THỰC THỂ TRONG DIỄN NGÔN 99
3.1. Chức năng giới thiệu thực thể trong diễn ngôn 99
3.2. Mô hình AVS 102
3.2.1. A có cấu tạo là trạng từ chỉ xuất (Deitic Adverb) 102
3.2.1.1. “Here + Be + Noun Phrase Subject” 102
3.2.1.2. “Now + Be + Noun Phrase Subject” 103
3.2.2. A là trạng ngữ chỉ vị trí (Position Adjunct) 104
3.2.2.1. “Position Adjunct + Be + Noun Phrase Subject” 104
3.2.2.2. “Position Adjunct + Existence Verb + Noun Phrase Subject” 112
3.2.3. A là trạng ngữ chỉ hƣớng (Direction Adjunct) 117
3.2.4. A là trạng ngữ chỉ nguồn (Source Adjunct) 118
3.2.5. A là trạng ngữ chỉ thời gian (Time Adjunct) 121
3.2.6. A là trạng ngữ định vị trừu tƣợng (Abstract Location Adjunct)
124
3.3. Mô hình CVS 125
3.4. Mô hình PREDICATION + BE + NOUN PHRASE SUBJECT
127
3.5. Tiểu kết 129
CHƢƠNG 4: ĐẢO NGỮ VỚI CHỨC NĂNG NHẤN MẠNH 132
4.1. Đảo ngữ và nhấn mạnh 132
4.2. Chức năng đánh dấu tiêu điểm thông báo 136
4.2.1. Tiêu điểm thông báo là chủ ngữ đảo 140
4.2.2. Tiêu điểm thông báo là bổ ngữ đảo 144
4.2.3. Tiêu điểm thông báo là trạng ngữ đảo 145
4.2.3.1. “Adverbial (Only ) + Operator + Subject + Y” 145
v
5.3. Đảo ngữ và phép thế 186
5.3.1. Mô hình “So + Operator + Subject” 187
5.3.2. Mô hình “Nor/Neither + Operator + Subject” 188
5.3.3. Mô hình “As + Operator + Noun Phrase Subject” 189
5.3.4. Mô hình “Operator + Subject + Y” 190
5.4. Đảo ngữ và phép nối 192
5.4.1. Quan hệ bổ sung 193
5.4.2. Quan hệ không gian 194
5.4.3. Quan hệ thời gian 195
5.5. Tiểu kết 196
KẾT LUẬN 197
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 202
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ XUẤT XỨ VÍ DỤ 203
PHỤ LỤC 1 216
PHỤ LỤC 2 217
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đây là một đề tài khảo sát về hiện tƣợng đảo ngữ trong tiếng Anh
(ĐNTA) trên cả hai bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa, qua đó đối chiếu với
tiếng Việt nhằm tìm ra các cách thể hiện tƣơng ứng của đảo ngữ tiếng Anh
trong tiếng Việt để thấy đƣợc những tƣơng đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ.
Về mặt lí luận, di chuyển thành tố trong câu là hiện tƣợng bình thƣờng
trong các ngôn ngữ. Điều này đã đƣợc sự xác nhận của nhiều nhà ngôn ngữ
học [W. Chafe 1976, Hoàng Trọng Phiến 1980, R. Quirk 1985, Phan Thiều
1988, Lƣu Vân Lăng (dẫn theo lần xuất bản 1998), Nguyễn Minh Thuyết
cách phân tích câu đã đƣợc áp dụng rộng rãi trong ngữ pháp tiếng Anh, cụ thể
là nhƣ sau:
♦ Cách thứ nhất phân tích câu ra thành 5 thành phần bắt buộc: S
(Subject), V (Verb), O (Object), C (Complement) và A (Adverbial); cách
phân tích này cho kết quả là 7 mô hình cơ bản của câu đƣợc hình thành căn cứ
vào khả năng kết hợp của các thành phần câu theo trật tự thông thƣờng của
chúng, đó là: SV, SVO, SVC, SVA, SVOO, SVOC, SVOA.
♦ Cách thứ hai chia câu ra thành Chủ ngữ (Subject) và Vị ngữ
(Predicate), Vị ngữ lại đƣợc chia nhỏ ra thành “Operator” (trợ động từ thứ
nhất) và “Predication” (vị ngữ không ngôi). Cách phân tích thứ hai này đƣa
đến hai mô hình cơ bản: “Subject + Predicate” và “Subject + Operator +
Predication”.
Hiện tƣợng đảo ngữ xuất hiện trong những biến thể (variation) của các
mô hình cơ bản nêu trên, cụ thể là nhƣ sau:
Nếu chủ ngữ đứng sau động từ thì sẽ có 5 mô hình: VS, OVS, AVS ,
CVS và “Predication + Be + Subject”.
3
Nếu chủ ngữ đứng sau trợ động từ thì sẽ có 3 mô hình: “Operator +
Subject + Predication”, “Pro-form + Operator + Subject” và “X + Operator +
Subject + Y” ( X: yếu tố đứng ở vị trí đầu câu; Y: phần còn lại của câu).
Với những mô hình cấu trúc nhƣ vậy, các kiểu câu ĐNTA là bằng
chứng cho thấy rằng thành tố tận cùng về bên trái (the left-most constituent)
trong câu tiếng Anh không phải lúc nào cũng là chủ ngữ ngữ pháp
(grammatical subject). Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần liệt kê các mô hình cấu
trúc nhƣ đã nêu thì sẽ khó tránh khỏi nguy cơ sa vào chủ nghĩa hình thức. Vậy
những mô hình ĐNTA có thể đƣợc xem xét và tiếp cận nhƣ thế nào về mặt
ngữ nghĩa? Để chuyển tải nội dung của những câu ĐNTA, tiếng Việt sử dụng
những cấu trúc gì và những phƣơng tiện gì trong những câu dịch tƣơng ứng?
Việc đi tìm lời giải đáp cho những câu hỏi này chính là một trong những lí do
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án đƣợc thể hiện một cách
khái quát qua tên gọi của đề tài: “Khảo sát cấu trúc - ngữ nghĩa của hiện
tƣợng đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt”. Trong tên gọi này, có ba điểm
chúng tôi muốn làm sáng tỏ:
a- “Cấu trúc” đƣợc hiểu là “sự sắp xếp có quy tắc của các đơn vị ngôn ngữ để
tạo thành một tổng thể có nghĩa” [Asher et al., 1994, t. 10, tr. 5175]. Trong
luận án này, các cấu trúc đảo ngữ đƣợc chúng tôi xem xét dƣới dạng các
mô hình cú pháp đƣợc trừu tƣợng hoá từ những câu cụ thể, với các thành
phần bắt buộc theo quan niệm của đại đa số các nhà Anh ngữ học. Hiện
tƣợng đảo ngữ không làm thay đổi chức năng ngữ pháp cũng nhƣ vai
nghĩa của các thành phần bị đảo. So với mô hình của câu có trật tự thuận
tƣơng ứng, mô hình câu đảo ngữ thể hiện sự khác biệt về trật tự sắp xếp
các thành tố trong câu.
5
b- “Ngữ nghĩa” của các câu đảo ngữ trong luận án này đƣợc chúng tôi hiểu
không chỉ là nghĩa miêu tả hay nghĩa mệnh đề (descriptive
meaning/propositional meaning) mà còn là nghĩa phi miêu tả hay nghĩa
phi nội dung mệnh đề (non-descriptive meaning/non-propositional
meaning). Đây là cách hiểu về ngữ nghĩa theo nghĩa rộng, dựa trên quan
điểm của J. Lyons [1995, tr. xii-xiii]. Theo quan điểm này, ngữ nghĩa đƣợc
xem là đối tƣợng của “ngữ nghĩa học” hiểu theo nghĩa rộng, tức ngữ nghĩa
học mà trong đó bao hàm cả những nội dung của ngữ dụng học. Đỗ Hữu
Châu, trong cuốn sách “Đại cƣơng ngôn ngữ học”, tập hai [2003, tr. 45],
đã nêu rõ: “Ngữ nghĩa học hiểu theo nghĩa rộng có đối tƣợng là ngữ nghĩa
nói chung, bao gồm cả ngữ nghĩa bị quy định bởi tính đúng - sai lôgic và
ngữ nghĩa không bị quy định bởi tính đúng - sai lôgic”. Khi khảo sát ngữ
nghĩa của đảo ngữ, luận án đặt trọng tâm nghiên cứu vào phần nghĩa phi
miêu tả hay nghĩa phi nội dung mệnh đề, đƣợc giới hạn và cụ thể hoá
ii. Hiện tƣợng đảo trong những câu cầu khiến nhƣ “Post this letter for me,
can you?”, hoặc những câu cảm thán mang đậm phong cách tu từ nhƣ
“How softly glides the moon!” hoặc “How beautiful are the flowers!”.
iii. Những câu khuôn thức (formulae/formulaic sentences) nhƣ “May your
dreams come true”, “Long live the Queen”, đƣợc dùng để diễn tả một
lời cầu chúc, lời chào hay một niềm mong ƣớc. Đây là một loại “câu bất
quy tắc” (irregular sentences) thuộc về thức giả định nguyện ƣớc
(optative subjunctive), trong đó đảo ngữ đã bị “hóa thạch” (fossilized),
theo cách diễn đạt của R. Quirk và các đồng sự [1972, tr. 411].
iv. Đảo ngữ trong câu có lời trích dẫn (quotation inversion). Ví dụ:
0: 1 “The newspaper is late again”, said John. (OVS) [87, tr. 590]
0: 2 “The newspaper is late again”, John said. (OSV) [87, tr. 590]
7
0: 3 “The newspaper,” John said, “ is late again.” [87, tr. 590]
0: 4 “The newspaper,” said John, “ is late again.” [87, tr. 590]
0: 5 Says John: “The newspaper is late again”. (VSO) [87, tr. 590]
Theo H. H. Hartvigson và L. K. Jakobsen [1974, tr. 80], sự xuất hiện của
đảo ngữ trong câu có lời trích dẫn là một vấn đề thuộc về phong cách
cũng nhƣ sở thích của ngƣời viết. Trong nhiều trƣờng hợp, lời trích dẫn
bị phân tách thành hai phần, và xen vào giữa hai phần đó là các mệnh đề
tƣờng thuật (reporting clauses) nhƣ John said và said John trong các ví
dụ {0:3} và {0:4}. R. Quirk và các đồng sự [1985, tr. 1378] xem các
mệnh đề tƣờng thuật này là các mệnh đề phụ (dependent clauses) bởi vì
xét về các phƣơng diện cú pháp lẫn ngữ nghĩa, các mệnh đề tƣờng thuật
này giống với các mệnh đề bình luận (comment clauses) nêu lên ý kiến
hoặc quan điểm của ngƣời nói đối với điều đƣợc nói đến. Cũng theo
nhóm tác giả này [1985, tr. 1023], tính độc lập của lời trích dẫn trực tiếp
(direct quotation) thể hiện ở chỗ có những lời trích dẫn trực tiếp không
cần sự hiện diện của mệnh đề tƣờng thuật. Nhƣ vậy, về mặt cấu trúc,
dụ {0:8} là một câu thể hiện ý nghĩa tồn tại, trong đó chủ ngữ ngữ pháp
là “there”, đứng ở vị trí đầu câu. Nhƣ vậy, các câu này có bản chất khác
hẳn so với các câu đảo ngữ hiểu theo định nghĩa của Green [1982, tr.
120]. Do đó, chúng không phải là đối tƣợng nghiên cứu của luận án.
Tóm lại, đối tƣợng nghiên cứu của luận án là loại câu trần thuật tiếng
Anh đƣợc cấu tạo bởi 3 mô hình khái quát của “đảo ngữ toàn phần” (ĐNTP),
tức “full inversion” và 3 mô hình khái quát của “đảo trợ động từ” (ĐTĐT),
tức “auxiliary/operator inversion”, cụ thể là nhƣ sau:
Đảo ngữ toàn phần: AVS
9
CVS
PREDICATION + BE + SUBJECT
Đảo trợ động từ: OPERATOR + SUBJECT + PREDICATION
PRO-FORM + OPERATOR + SUBJECT
X + OPERATOR + SUBJECT + Y
(X : yếu tố đứng ở vị trí đầu câu; Y: phần còn lại của câu)
Ngoài ra, trong tiếng Anh, chủ ngữ còn có thể xuất hiện sau động từ
trong các mô hình VS, OVS và AVSA . Tuy nhiên, luận án không nghiên cứu
các mô hình này vì những lí do nhƣ sau:
(i) Đối với mô hình VS, trong nguồn tƣ liệu, chúng tôi chỉ tìm thấy 2 ví dụ:
0: 9 Came frightful days of snow and rain. [157, tr. 32-33]
Rồi đến những ngày đáng sợ, đầy tuyết và mưa.
0: 10 Came a terrific flash of lightning and clap of thunder. [73,
tr. 22]
Tiếp theo đó một tia chớp loé lên cùng với một tiếng sét kinh
hoàng.
Theo H. Dorgeloh [1997, tr. 21], câu {0: 9} cũng nhƣ câu {0:10} thực ra
đều đƣợc bắt đầu bằng một ngữ đoạn chỉ thời gian ngầm ẩn (implied
temporal phrase). Chúng tôi nhận thấy rằng ngữ đoạn này có thể là một
cứu mô hình AVSA, mà tập trung khảo sát các mô hình đƣợc tạo lập bởi
sự hiện diện mang tính bắt buộc của các thành phần câu .
Phạm vi nghiên cứu của luận án cũng không bao hàm ngữ điệu và các
yếu tố ngôn điệu khác, mặc dù các yếu tố này bao giờ cũng đi kèm với bất kì
một câu nói hay câu viết nào trong các ngôn ngữ tự nhiên.
11
3. Mục tiêu của luận án
Luận án đặt ra những mục tiêu sau:
Xác lập khái niệm “đảo ngữ trong tiếng Anh” là cơ sở của việc nghiên
cứu.
Xác lập một cách hiểu chung về cấu trúc và ngữ nghĩa của hiện tƣợng
đảo ngữ ứng với thực tế của tiếng Anh và sự biểu đạt của nó trong tiếng
Việt. Đây cũng chính là nền tảng để xây dựng nội dung nghiên cứu.
Hệ thống hoá tất cả các trƣờng hợp ĐNTA trong câu trần thuật; miêu tả
cấu tạo hình thức của chúng bằng cách căn cứ vào các mô hình cú pháp.
Chọn ra các cấu trúc đảo ngữ giống nhau về mặt chức năng trong diễn
ngôn; mặt chức năng đó chính là sự cụ thể hoá của một thứ nghĩa “phi
miêu tả” (non-descriptive meaning) hay “phi nội dung mệnh đề” (non-
propositional meaning) mà đảo ngữ biểu thị.
Phân tích cả hai mặt cấu trúc và ngữ nghĩa của từng kiểu câu đảo ngữ
tiếng Anh, đồng thời đối chiếu với tiếng Việt nhằm tìm ra các cách thức
thể hiện chúng trong tiếng Việt, qua đó thấy đƣợc các kiểu tƣơng đƣơng
dịch thuật cũng nhƣ những tƣơng đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ.
Trình bày những nhận xét tổng quát mang tính lí luận về vấn đề nghiên
cứu và những kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu của luận án.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nhằm mục đích khảo sát ĐNTA trên cả hai bình diện cấu trúc và ngữ
nghĩa, đồng thời nắm bắt đƣợc những tƣơng đồng và dị biệt giữa hai ngôn
ngữ Anh và Việt dựa trên cứ liệu đối dịch Anh-Việt, luận án này đƣợc thực
Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong việc kiến tạo một số cấu trúc câu
“không cơ bản”, hiện tƣợng ĐNTA lại không xuất hiện với tần số cao, nếu
13
không nói là “tƣơng đối hiếm” [D. Biber et al. 1999, tr. 926]. Cũng theo các
tác giả này, các cấu trúc ĐNTA xuất hiện trong bút ngữ nhiều hơn là trong
khẩu ngữ, đặc biệt các tác phẩm văn chƣơng cho thấy tần số xuất hiện của đảo
ngữ là cao hơn cả. Chính vì vậy mà nguồn tƣ liệu của chúng tôi chủ yếu dựa
vào các tiểu thuyết, truyện ngắn, Trên cơ sở tham khảo 927 đoạn văn tiếng
Anh có sử dụng đảo ngữ, chúng tôi đã chọn ra 500 ví dụ tiêu biểu nhất để làm
dẫn liệu cho việc miêu tả và phân tích trong luận án.
6. Vấn đề đối chiếu trong luận án
Trong luận án này, việc đối chiếu từ tiếng Anh sang tiếng Việt chính là
một sự phân tích tƣơng phản ứng dụng (applied contrastive analysis), chứ
không phải là phân tích tƣơng phản lí thuyết (theoretical contrastive analysis).
Đây là hai loại phân tích tƣơng phản mà Carl James [1980] đã nêu ra trong
cuốn sách bàn về đối chiếu ngôn ngữ có nhan đề “Contrastive Analysis”. Carl
James [1980, tr. 142] đã dẫn lời Fisiak và các đồng sự [1978, tr. 10], rằng
phân tích tƣơng phản lí thuyết “tìm kiếm sự hiện thực hoá của một phạm trù
phổ quát X trong cả hai ngôn ngữ A và B”; còn phân tích tƣơng phản ứng
dụng thì lại “quan tâm sâu sắc đến vấn đề một phạm trù phổ quát X, đƣợc
hiện thực hoá là y trong ngôn ngữ A, đƣợc biểu đạt nhƣ thế nào trong ngôn
ngữ B”. Sau đây là sơ đồ minh hoạ cho hai loại phân tích tƣơng phản này:
X X A B A(y) B(?)
Phân tích tương phản lí thuyết Phân tích tương phản ứng dụng
Sơ đồ 0.1: Các loại phân tích tương phản
(Nguồn: C. James 1980, tr. 142)
15
exhaustive theo C. James [1980, tr. 65] hoặc delicate theo M. A. K. Halliday
[1961, tr. 272, dẫn theo C. James 1980, tr. 65]). Mặt khác, giải pháp này cho
phép đặt trọng tâm đối chiếu thiên về ngôn ngữ đối tƣợng - ngôn ngữ mà
ngƣời học đang hƣớng đến.
Việc đối chiếu trong luận án này đƣợc thực hiện dựa vào cứ liệu đối
dịch Anh-Việt và trên cơ sở thừa nhận sự tồn tại của tƣơng đƣơng dịch thuật
(TĐDT). Carl James [1980, tr. 67] đã khẳng định rằng việc sử dụng các câu
dịch tƣơng đƣơng (translationally equivalent sentences) tạo điều kiện thuận
lợi cho quá trình đối chiếu.
Trong bài viết “Về vấn đề tƣơng đƣơng trong dịch thuật” [2001], tiếp
thu các quan điểm của A. Fedorov [1968], Catford [1969], Nida & Taber
[1969], Newman [1980] & Koller [1990], tác giả Nguyễn Hồng Cổn đã nêu ra
một định nghĩa về tƣơng đƣơng dịch thuật nhƣ sau:
Tương đương dịch thuật (TĐDT) là sự trùng hợp hay tương
ứng trên một hoặc nhiều bình diện (ngữ âm, ngữ pháp, ngữ
nghĩa, ngữ dụng) giữa các đơn vị dịch thuật của văn bản
nguồn (VBN) và văn bản đích (VBĐ) với tư cách vừa là sản
phẩm vừa là phương tiện của dịch thuật như một quá trình
giao tiếp.
Theo Nguyễn Hồng Cổn, định nghĩa trên đây ngụ ý rằng:
a) TĐDT là một thuộc tính khách quan, một mối quan hệ có thực tồn tại
giữa VBN và VBĐ và các đơn vị của chúng.
b) TĐDT là một đại lƣợng động, biến thiên theo số lƣợng và tính chất của
các bình diện tƣơng đƣơng đƣợc dịch.
c) TĐDT chịu sự ảnh hƣởng và chi phối của nhiều nhân tố trong việc ƣu
tiên lựa chọn một bình diện, một khía cạnh tƣơng đƣơng này hay khác.
16
Nhƣ vậy, cách hiểu về TĐDT nhƣ trên cho thấy rằng không có một
hoàn toàn tương đối thì xuất hiện phổ biến hơn.
♦ Các tương đương bộ phận: các TĐDT chỉ tƣơng ứng với nhau trên một
hoặc hai bình diện. Chúng bao gồm các kiểu sau:
Tương đương ngữ pháp-ngữ nghĩa: kiểu TĐDT này đƣợc tìm thấy
khi mà, do sự khác biệt tinh tế giữa hai ngôn ngữ, ngƣời dịch không
thể chuyển tải đƣợc hết các thông tin dụng học khác nhau của đơn vị
dịch. Kiểu TĐDT này thƣờng chỉ dùng để dịch chú giải nghĩa nguyên
văn của câu hoặc thành ngữ; nó ít đƣợc sử dụng trong dịch giao tiếp.
Tương đương ngữ pháp-ngữ dụng: là kiểu TĐDT mà trong đó các
đơn vị dịch của VBN và VBĐ chỉ tƣơng đƣơng nhau về ngữ pháp và
ngữ dụng nhƣng không tƣơng đƣơng về ngữ nghĩa.
Tương đương ngữ nghĩa-ngữ dụng: là kiểu tƣơng đƣơng phổ biến
nhất, trong đó đơn vị gốc và đơn vị đối dịch có nghĩa biểu hiện và
nghĩa ngữ dụng (đích ngôn trung, giá trị thông báo ) tƣơng ứng với
nhau, nhƣng giữa các đơn vị này có những khác biệt nhất định về mặt
ngữ pháp.
Tương đương thuần ngữ dụng: là kiểu tƣơng đƣơng tự do nhất, trong
đó các khía cạnh tƣơng đƣơng khác nhau về thông tin ngữ dụng (đặt
biệt là đích ngôn trung và giá trị thông báo) hầu nhƣ độc lập với
tƣơng đƣơng ngữ pháp và ngữ nghĩa. Kiểu tƣơng đƣơng này thƣờng
xảy ra khi chuyển dịch các câu có tính nghi thức hoặc tính thành ngữ
cao.
Căn cứ vào 6 kiểu TĐDT theo sự phân loại của Nguyễn Hồng Cổn, khi
tiến hành đối chiếu Anh-Việt, luận án đặt mục tiêu tìm ra các kiểu TĐDT có
thể có giữa hai ngôn ngữ trên cơ sở các mô hình cấu trúc của ĐNTA. Cụ thể