TRỊNH KIM NGỌC KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ HƯ TỪ
TRONG TÁC PHẨM “PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY”
CỦA ALEXANDRE DE RHODES
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đào Thanh Lan
Hà Nội - 2008
MỤC LỤC
Mở đầu……………………………………………………… …………….1
Nội dung……………………………………………………………….… 6
Chương I: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài…………………………6
1. Khái quát về Hư từ:……….………………………………………….….6
1.1. Khái niệm hư từ……….………………………………… …… … 6
1.2. Phân loại……………….……………………………………….……9
1.3. Ý nghĩa và chức năng………….……………………………….……9
2. Vấn đề hư từ gốc Hán trong tiếng Việt ………………………… 11
3. Khái quát chung về Phó từ, Liên từ, Giới từ………………….……… 15
3.1. Phó từ…………………………………………………………………15
3.2. Liên từ………………………………………………… ……………21
3.3. Giới từ…………………………………………………………… ….24
3.4. Phân biệt liên từ và giới từ ……………………………… …………26
Chương II. Miêu tả hoạt động của Phó từ, Liên từ, Giới từ trong “Phép
giảng tám ngày”………………………………………………… …….32
Hư từ là một trong những nội dung quan trọng khi tiến hành nghiên cứu
về ngữ pháp tiếng Việt. Hư từ thường được coi là một phạm trù từ loại đối lập
với thực từ. Đây là một tập hợp không lớn về số lượng trong hệ thống từ loại
tiếng Việt nhưng tần số sử dụng khá cao. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về
hư từ ở các phương diện như: nguồn gốc, tiêu chí phân định thực từ- hư từ,
chức năng của hư từ…, điển hình là các tác giả Nguyễn Anh Quế, Nguyễn Tài
Cẩn, Nguyễn Kim Thản… Điều đó cũng đủ chứng tỏ việc nghiên cứu hư từ có
vị trí như thế nào trong nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung.
Tuy vậy, việc nghiên cứu sâu về hư từ ở phương diện đối chiếu, so sánh
hư từ gốc Hán và hư từ thuần Việt qua các nguồn tư liệu văn học cổ thì vẫn
chưa nhiều. Một vài công trình nghiên cứu được kể tên như: Luận văn thạc sĩ
“Khảo sát hoạt động chức năng của một số hư từ có nguồn gốc từ tiếng Hán
trong tiếng Việt” của tác giả Phạm Thị Hồng Trung, khóa luận tốt nghiệp
“Bước đầu khảo sát hoạt động của một số hư từ ở các tác phẩm trong Văn Thơ
Nôm thời Tây Sơn” của tác giả Trương Thị Thu Trang, khóa luận tốt nghiệp
“Khảo sát hoạt động của phó từ gốc Hán trong tác phẩm “Hoàng Lê nhất thống
chí” của Ngô Gia Văn Phái và tác phẩm “Giàn thiêu” của Võ Thị Hảo”” của
Nguyễn Nam Thái.
Bởi vậy, chúng tôi đã chọn vấn đề “Khảo sát hoạt động của một số hư từ
trong tác phẩm “Pháp giảng tám ngày” của Alexandre De Rhodes” làm đề tài
cho luận văn thạc sĩ của mình.
II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu:
Hệ thống hư từ trong tiếng Việt thường được phân chia thành các tiểu
loại là phó từ, liên từ, giới từ, ngữ khí từ, trợ từ, tình thái từ. Tuy nhiên, trong
Luận văn thạc sĩ
Trịnh Kim Ngọc K50A Cao học Ngôn ngữ
2
luận văn này, chúng tôi chỉ đi sâu vào ba tiểu loại chính là phó từ, liên từ và
hành khảo sát, thống kê số lượng ba tiểu loại hư từ Phó từ, Liên từ và Giới từ
trên bản văn Việt ngữ đọc theo lối viết ngày nay trong cuốn “Phép giảng tám
ngày” do “Tủ sách đoàn kết” ấn hành.
III. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và ý nghĩa
1. Mục đích nghiên cứu:
- Khảo sát, miêu tả hoạt động của ba tiểu loại hư từ: Phó từ, Liên từ,
Giới từ trong tác phẩm “Phép giảng tám ngày” ở cả hai mảng từ gốc Hán và từ
thuần Việt.
- Sau khi thống kê, miêu tả, so sánh, chúng tôi sẽ đưa ra một số nhận
xét về việc sử dụng hư từ của tiếng Việt giai đoạn này.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Từ những mục đích trên, chúng tôi xác định những nhiệm vụ cụ thể phải
thực hiện:
- Trình bày những lý thuyết quan trọng làm cơ sở lý luận cho luận
văn.
- Khảo sát, thống kê, phân loại hư từ theo ba tiểu loại Phó từ, Liên
từ, Giới từ.
- Miêu tả cụ thể theo từng tiểu loại hư từ.
- So sánh việc sử dụng hư từ trên một vài phương diện và rút ra nhận
xét. Cụ thể:
+ So sánh hư từ gốc Hán và hư từ thuần Việt.
+ So sánh Phó từ, Liên từ, Giới từ.
3. Ý nghĩa:
- Dựng lên bức tranh về ba tiểu loại hư từ: phó từ, liên từ, giới từ
trong tác phẩm công giáo “Phép giảng tám ngày” của Alexandre De Rhodes
thuộc giai đoạn cuối thế kỉ XVII.
Luận văn thạc sĩ
Trịnh Kim Ngọc K50A Cao học Ngôn ngữ
4
Chương II: Miêu tả hoạt động của Phó từ, Liên từ, Giới từ trong “Phép
giảng tám ngày”.
Chương III: So sánh, nhận xét về hoạt động của ba tiểu loại hư từ trong
tác phẩm “Phép giảng tám ngày”.
VI. Một số chữ viết tắt
DT: danh từ
D: danh ngữ
ĐT: động từ
V: vị từ
Luận văn thạc sĩ
Trịnh Kim Ngọc K50A Cao học Ngôn ngữ
- Tác giả Hoàng Phê trong [14, 472] giải thích: “Hư từ là những từ
không có khả năng độc lập làm thành phần câu, được dùng để biểu thị quan hệ
ngữ pháp giữa các thực từ”.
- Nguyễn Anh Quế trong [16, 14] cho rằng: “Hư từ không có ý
nghĩa từ vựng chân thực, chỉ có tác dụng nối các từ, các mệnh đề, các câu lại
với nhau theo một quan hệ nào đó, chúng cũng không thể làm thành phần câu”.
- Diệp Quang Ban trong [3, 469] quan niệm: “Hư từ là từ không có
khả năng độc lập làm thành phần câu và phục vụ cho việc biểu hiện các mối
quan hệ ngữ nghĩa, cú pháp giữa các thực từ”.
- Đinh Văn Đức trong [9, 53] cho rằng: “Hư từ không trực tiếp biểu
niệm, nó là phương tiện dùng để phân suất các hình thức của khái niệm và biểu
đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy (theo cách phản ánh bằng ngôn
ngữ của người bản ngữ).
- Hoàng Trọng Phiến trong [15, 7] cũng quan niệm: “Hư từ là một
lớp từ làm phương tiện biểu hiện các quan hệ ngữ pháp – ngữ nghĩa khác nhau
giữa các thực từ”.
- Nguyễn Kim Thản trong [20, 149] cho rằng: “Hư từ là những từ
không có ý nghĩa từ vựng hẳn hoi mà chỉ có tác dụng làm công cụ để chỉ các ý
nghĩa ngữ pháp khác nhau”.
- “Ngữ pháp tiếng Việt” của UBKHXH (tr 68): Hư từ là những từ có
nghĩa hư, loại nghĩa mà không thể nhờ nó làm sự liên hệ với sự vật, hiện tượng.
Hư từ được dùng để biểu thị một số những quan hệ cú pháp nhất định.
Như vậy có thể thấy rằng, hư từ là một phạm trù từ loại đối lập với thực
từ. Một số tiêu chí được các nhà nghiên cứu nhắc đến khi phân biệt hư từ với
thực từ (theo [3, 470]) gồm:
- Ý nghĩa khái quát
- Khả năng kết hợp
Luận văn thạc sĩ
Trịnh Kim Ngọc K50A Cao học Ngôn ngữ
Trịnh Kim Ngọc K50A Cao học Ngôn ngữ
9
1.2. Phân loại
Hư từ trong tiếng Việt được xác định bao gồm các tiểu loại: phó từ, liên
từ, giới từ, ngữ khí từ, trợ từ, tình thái từ. Tuy vậy, không phải các nhà ngôn
ngữ học đều có sự thống nhất với nhau trong cách phân chia và gọi tên các tiểu
loại hư từ này.
Ở đây, chúng tôi xin tạm không bàn sâu đến vấn đề này mà tập trung đi
vào chi tiết. Cụ thể, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ tiến hành khảo
sát ba tiểu loại hư từ là : Phó từ, Liên từ, Giới từ. Phần lớn các hư từ gốc Hán
trong tiếng Việt đều thuộc ba tiểu loại này, nên đây sẽ là cơ sở dễ dàng để
chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu hư từ thuần Việt với các hư từ gốc Hán.
1.3. Ý nghĩa và chức năng
Bên cạnh thực từ, hư từ là mảng từ không thể thiếu trong vốn từ tiếng
Việt. Hư từ cũng là một đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, là vật liệu tạo nên các đơn
vị lớn hơn như đoản ngữ, cú… Hư từ không có ý nghĩa từ vựng, nhưng trong
tiếng Việt một số lượng không nhỏ các hư từ là chuyển từ thực mà ra, nhất là
các phó từ, giới từ, liên từ… Khi tham gia tổ chức câu nói, hư từ cũng mang
vào câu những nét nghĩa bổ sung, còn gọi là nghĩa tình thái Bởi vậy, không có
lý gì chúng ta có thể bỏ qua ý nghĩa cũng như chức năng của hư từ.
1.3.1. Ý nghĩa
So với thực từ, hư từ có ý nghĩa từ vựng mờ nhạt hơn (theo [16, 38]), nó
không thể hiện trọn vẹn một ý nghĩa chân thực nào mà chỉ thể hiện ý nghĩa
nghĩa ngữ pháp, như ý nghĩa về thời, thể… hoặc quan hệ liên kết. Để xác định ý
nghĩa của hư từ cần thông qua chức năng cú pháp do chúng biểu thị trong các tổ
hợp.
1.3.2. Chức năng
Theo Nguyễn Anh Quế trong [16, 43] thì hư từ không làm yếu tố chính,
chỉ làm yếu tố phụ trong đoản ngữ, chỉ dùng để kết nối các thành phần câu, các
Luận văn thạc sĩ
Trịnh Kim Ngọc K50A Cao học Ngôn ngữ
11
- Đánh dấu nghĩa hàm ý trong lời nói: Chẳng hạn, hư từ “à… thì”
tạo nên một tầng nghĩa sâu của câu: “Mẹ thằng bé mà còn thì nó đã không đến
nối khổ”.
- Hư từ có tác dụng tu từ, thể hiện:
+ Tạo nhịp điệu, tạo sự uyển chuyển cân đối câu thơ.
+ Tăng cường hiệu lực ngôn trung biểu đạt tư tưởng, tình cảm, thái độ
của chủ thể phát ngôn.
+ Nhờ dùng các kết cấu hư từ mà một nội dung tình thái chủ quan của
câu nói được biểu hiện bằng các phát ngôn khác nhau.
2. Vấn đề hư từ gốc Hán trong tiếng Việt
Đề cập đến các từ Việt gốc Hán, tác giả Nguyễn Ngọc San trong [18,
141] có nói: “Một thực tế mà ai cũng phải thừa nhận là giữa tiếng Việt và tiếng
Hán đã có sự tiếp xúc từ rất sớm, vào khoảng hơn 2000 năm về trước. Sự tiếp
xúc này đã để lại nhiều dấu vết trong tiếng Việt hiện đại. Một số lượng khá lớn
từ Hán thuộc các nguồn gốc khác nhau (Hán, Tạng, Miến, Ấn) đã dần dần, qua
nhiều giai đoạn và phương thức khác nhau, được du nhập vào tiếng Việt. Sự du
nhập này có lúc diễn ra chậm chạp, lẻ tẻ, có lúc diễn ra ồ ạt. Cũng có khi nó đã
vào tiếng Việt rồi lại được biến đổi đi theo các sự biến đổi ngữ âm của tiếng
Việt. Thành thử nhìn quang cảnh, ta thấy từ Việt gốc Hán là một hiện tượng đa
dạng và phức tạp”.
Trần Trí Dõi trong [7] cũng có viết: “Do một điều kiện địa lý và lịch sử
đặc biệt, trong quá trình phát triển của mình tiếng Việt đã có một sự vay mượn
hết sức quan trọng từ tiếng Hán…”.
Hay “…tiếng Việt – Mường chung đã biết chủ động lựa chọn những gì
mình chưa có, vay mượn theo cách của mình để đáp ứng, để thỏa mãn đòi hỏi
của sự phát triển mới của văn hóa dân tộc… Và qua đó, chúng ta sẽ hiểu tại sao
Luận văn thạc sĩ
Luận văn thạc sĩ
Trịnh Kim Ngọc K50A Cao học Ngôn ngữ
13
Nguyễn Tài Cẩn trong [4] sử dụng khái niệm “yếu tố gốc Hán” để chỉ
những yếu tố có nguồn gốc từ tiếng Hán. Mỗi yếu tố này là một chữ vuông
trong tiếng Hán, còn trong tiếng Việt là một chữ (một âm tiết). Theo tác giả có
ba khu vực yếu tố gốc Hán:
- I: Những chữ có thể đọc theo cách đọc Hán Việt nhưng không liên
quan gì đến tiếng Việt (ta quen gọi là từ cổ Hán Việt).
- II: Những yếu tố người Việt mượn từ tiếng Hán, nhưng không trực
tiếp liên quan đến cách đọc Hán Việt (ta quen gọi là từ Hán Việt Việt hóa).
- III: những yếu tố mượn từ tiếng Hán thông qua cách đọc Hán Việt
nên gọi là yếu tố Hán Việt (từ Hán Việt).
Và từ Hán Việt thuộc nhóm yếu tố thứ III này bắt nguồn từ tiếng Hán ở
giai đoạn sau của tiếng Hán trung cổ gồm thế kỉ VIII, IX (còn gọi là tiếng Hán
cuối đời Đường) du nhập vào tiếng Việt thông qua cách đọc Hán Việt kiểu như
can, cận, đương, liên.
Nguyễn Thiện Giáp trong [10, 242] có nói: “Chỉ được phép coi là từ Việt
gốc Hán những từ Hán nào thực sự nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu
sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp của tiếng Việt. (Từ
gốc Hán trong tiếng Việt gồm 2 bộ phận chính: từ gốc Hán đọc theo âm Hán
Việt- bộ phận chủ yếu trong các từ ngoại lai của tiếng Việt; từ gốc Hán không
đọc theo âm Hán Việt (tiền Hán Việt, Hán Việt Việt hóa, từ gốc Hán tiếp nhận
bằng con đường khẩu ngữ qua cách phát âm nào đó của tiếng Hán hiện đại).
Lê Đình Khẩn trong [12, 67] có phân biệt giữa từ gốc Hán và từ thuần
Việt như sau:
“Một đơn vị B trong tiếng Việt được xem là đã vay mượn từ một đơn vị
A trong tiếng Hán, khi giữa B và A có những mối quan hệ sau:
1) B trên cơ bản giống A, gần giống A, hoặc có phần giống A về mặt ngữ
Luận văn thạc sĩ
Trịnh Kim Ngọc K50A Cao học Ngôn ngữ
15
Dựa vào danh sách 3 tiểu loại hư từ: phó từ, liên từ, giới từ trong Luận
văn TH.S của Phạm Thị Hồng Trung và bảng danh sách hư từ gốc Hán trong
[12, 397], chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát trong sự so sánh tương ứng với 3 tiểu
loại hư từ thuần Việt. Danh sách cụ thể 3 tiểu loại hư từ gồm Phó từ, Liên từ,
Giới từ chúng tôi sẽ trích dẫn theo từng phần phía dưới.
3. Khái quát chung về Phó từ, Liên từ, Giới từ
3.1. Phó từ
a. Định nghĩa:
Phó từ là những từ chuyên làm thành tố phụ trong các cụm từ do thực từ
làm trung tâm để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp cho thực từ.
b. Phân loại:
Phó từ trong tiếng Việt là từ loại tương đối phức tạp cả về tên gọi, khái
niệm, chức năng và cách phân loại. Ngoài tên gọi là “phó từ”, có tác giả còn gọi
nó là “trạng từ”, “tiểu từ”, “phụ từ”.
- Căn cứ vào nguồn gốc, phó từ trong tiếng Việt bao gồm: phó từ gốc
Hán, phó từ thuần Việt.
“Tên gọi phó từ là thuật ngữ được nhiều sách ngữ pháp tiếng Hán dùng
để chỉ lớp từ loại hư từ có tác dụng tu sức hoặc hạn định cho động từ, hình dung
từ (tính từ) biểu thị phạm vi, trình độ, phó từ không thể tu sức và hạn định cho
danh từ (Từ điển tiếng Hán hiện đại 2002). Thuật ngữ phó từ ở Việt ngữ có ba
cách hiểu khác nhau. Trần Trọng Kim trong Việt Nam văn phạm dùng thuật ngữ
trạng tự với nội dung của từ adverb trong tiếng Anh theo cách hiểu của ngữ
pháp truyền thống: “trạng tự là tiếng dùng để phụ thêm nghĩa cho một động tự,
tĩnh tự, một trạng tự khác hay cả một mệnh đề/cú. Nhiều khi tiếng tĩnh tự dùng
nói chung chúng ít khi một mình làm các thành phần chính của câu như chủ ngữ
hay vị ngữ”.
Như vậy, chức năng của phó từ là:
Luận văn thạc sĩ
Trịnh Kim Ngọc K50A Cao học Ngôn ngữ
17
- Làm thành tố phụ tham gia vào việc tổ chức, cấu tạo nên thành
phần câu khi kết hợp với thực từ.
- Giúp cho việc xác định các quan hệ ngữ pháp, thành phần câu.
- Phó từ thường đứng trước vị từ trong câu (cũng có thể đứng trước
danh từ, đại từ). Cấu trúc ngữ pháp thường là:
PT + Vị từ (động từ, tính từ) Giữ vai trò làm vị ngữ trong câu.
Một số ít các PT (VD: rồi, xong,…) có thể đứng sau vị từ: V + PT
d. Danh sách hệ thống phó từ tiếng Việt:
Dựa vào danh sách phó từ trong “Cách dùng hư từ tiếng Việt hiện đại”
của Hoàng Trọng Phiến và “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên,
Trương Thị Thu Trang trong [23] có đưa ra một bảng danh sách phó từ thuần
Việt gồm 97 từ. Tuy nhiên, trong danh sách này, có một số từ cần phải xem xét
lại.
Bất chợt, bất ngờ, sao là những từ song tiết do một yếu tố gốc Hán
bất/sao/hồ và một yếu tố thuần Việt tương ứng chợt/ngờ/cớ/dễ tạo thành. Theo
quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp trong [10, 244] thì đây chính là những từ
ngữ Hán Việt được cấu tạo ở Việt Nam và thuộc vào tiểu loại B2: những đơn vị
do các yếu tố gốc Hán và thuần Việt tạo thành.
Cực là hư từ Hán Việt, không phải thuần Việt (theo [1], [12])
Nghiễm nhiên là từ Hán Việt biểu thị nghĩa: ra cách nghiêm trang, y như
vậy (theo [1, 284]).
Nức nở, theo Hoàng Phê trong [14, 745] có hai chức năng: động từ và
phó từ. Tuy nhiên, với chức năng phó từ, nức nở dùng trong khẩu ngữ với nghĩa
77
Thật
3
Bấy
28
Hằng
53
Nữa
78
Thình lình
4
Bèn
29
Hết
54
Ơi ới
79
Tốt
5
Biết đâu
30
Hơi
55
Phốc
80
Tít
6
Bỗng
31
Hơn
35
Khéo
60
Rõ
85
Vẫn
11
Chớ
36
Không
61
Rồi
86
Với
12
Chốc
37
Kỳ cùng
62
Rốt cuộc
87
Vừa
13
Chợt
38
Lại
63
Sá
88
Vụt
18
Cứ
43
Luôn
68
Suýt 19
Cũng
44
Luống
69
Thỉnh
thoảng 20
Dáng
chừng
45
Mãi
70
Thoáng 21
Dần
74
Tót 25
Đều
50
Nỏ
75
Tọt
e. Phó từ gốc Hán trong tiếng Việt:
Theo kết quả nghiên cứu từ luận văn TH.S của Phạm Thị Hồng Trung
[24], trong hệ thống tiếng Việt, phó từ gốc Hán chiếm một số lượng tương đối
nhiều: khoảng 97 từ. Khi du nhập vào hệ thống từ vựng của tiếng Việt, phó từ
gốc Hán đã dần khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong ngữ pháp tiếng
Việt. Chúng đảm nhận chức năng ngữ nghĩa ngữ pháp là những từ đi kèm với
thực từ để bổ sung ý nghĩa cho thực từ, tham gia vào tổ chức cú pháp của đoản
ngữ, câu với tư cách là các thành phần phụ cùng với thực từ. Theo tiến trình
phát triển của tiếng Việt, đến nay, một số phó từ gốc Hán đã mất đi, nhưng cũng
có một bộ phận không nhỏ vẫn được sử dụng, trong số đó có các từ gốc Hán đã
được Việt hóa.
Tuy vậy, trong danh sách phó từ gốc Hán của Phạm Thị Hồng Trung vẫn
còn có những từ cần phải xem xét lại. Theo Đào Thanh Lan trong [13], “từ vạn
trong vạn phần biểu thị ý nghĩa số lượng, là số từ chứ không phải là phó từ.
(Chỉ có từ vạn biểu thị ý nghĩa “rất, cực” mới là phó từ). Có 14 từ chỉ là phó từ
của tiếng Hán như: cứu cánh (có nghĩa là cuối cùng), thực tại, khả năng, khả,
tối, tương, đa, khỉ, giai, vật, tảo, tiên, trùng, vạn vì khi vào tiếng Việt hoặc
Tự nhiên
2
Bất quá
27
Độc
52
Xác thực
77
Tức khắc
3
Bất tất
28
Đồng
53
Tái
78
Tương hỗ
4
Cánh
29
Đơn độc
54
Tạm thời
79
Vị
5
Căn bản
30
Đương
55
34
Hốt nhiên
59
Thậm chí 10
Cố ý
35
Huống
60
Thông
thường 11
Cơ bản
36
Kì thực
61
Thốt nhiên 12
Cơ hồ
37
Lập tức
62
Thường
66
Thực 17
Dĩ nhiên
42
Nhất nhất
67
Toàn 18
Duy
43
Nhất quán
68
Tự hồ Luận văn thạc sĩ
Trịnh Kim Ngọc K50A Cao học Ngôn ngữ
21
19
Đa
44
Nhất thời
69
Tận
73
Tuyệt đỉnh 24
Đặc biệt
49
Quả
74
Tối đa 25
Đáo để
50
Quả nhiên
75
Tối thiểu 3.2. Liên từ
a. Định nghĩa:
Liên từ là một loại hư từ dùng để liên kết các từ, các ngữ đoạn, các vế
trong câu, các vế câu với nhau nhằm biểu thị quan hệ ngữ nghĩa của các thực từ.
Liên từ còn có những tên gọi khác nhau như: “quan hệ từ”, “kết từ” (bao
gồm cả liên từ và giới từ).
VD: Đào Thanh Lan trong [13] có quan niệm: Kết từ để nối kết các từ
thực hoặc các vế câu. Kết từ còn có tên gọi là quan hệ từ vì ngoài việc nối kết,
chúng còn diễn đạt mối quan hệ giữa các thực từ, các vế câu. Có thể chia làm 2
loại kết từ dựa theo kiểu quan hệ được diễn đạt là giới từ và liên từ.