TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
*****
HOÀNG THIỀU HOA
TÌM HIỂU THÀNH TỐ THUẦN VIỆT VÀ
HÁN VIỆT TRONG THÀNH NGỮ VIỆT NAM Chuyênngành: Ngônngữhọc
Ngườihướngdẫnkhoahọc: PGS.TS. NguyễnVănChính
HàNội, 2011
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
0.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
0.2. Đối tƣợng nghiên cứu 3
0.3. Mục đích và nội dung nghiên cứu 4
0.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
0.5. Tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu 5
0.6. Cấu trúc của luận văn 5
NỘI DUNG
2.3.Tiểu kết chƣơng II 47
CHƢƠNG III. THỬ SO SÁNH THÀNH NGỮ THUẦN VIỆT VỚI
THÀNH NGỮ HÁN - VIỆT VỀ GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ
THUẬT
3.1. So sánh giá trị nghệ thuật giữa thành ngữ thuần Việt và thành ngữ sử
dụng yếu tố Hán - Việt 48
3.1.1. Sự giống và khác nhau về kết cấu 48
3.1.2. Sự giống và khác nhau về thanh vận 50
3.1.3. Sự giống và khác nhau về nghệ thuật so sánh 50
3.1.4. Nghệ thuật phác họa hình tƣợng 51
3.2. So sánh về giá trị nội dung của thành ngữ thuần Việt và thành ngữ có
yếu tố Hán - Việt.
3.2.1 Khái quát giá trị nội dung của các thành ngữ thuần Việt 52
3.2.2 Khái quát giá trị nội dung của thành ngữ tiếng Việt có yếu tố
Hán Việt 58
3.3 Tiểu kết chƣơng III 64
KẾT LUẬN 65
các yếu tố Hán Việt được sử dụng để tạo tên những từ ngữ đặc trưng chỉ có
trong tiếng Việt, không có trong tiếng Hán như là các từ “sĩ diện”, “phi công”
(dùng hai yếu tố Hán -Việt) hay “bao gồm”, “sống động” (một yếu tố Hán kết
hợp với một yếu tố thuần Việt. Nói chung tỉ lệ vay mượn tiếng Hán trong
tiếng Việt rất lớn (khoảng trên 70%) nhưng đại đa số các yếu tố đó đều đã
được Việt hoá cho phù hợp với bản sắc tiếng Việt và với nhận thức của người
Việt. Do vậy tiếng Việt trải qua một quá trình vay mượn lâu dài đã vừa làm
giàu cho mình lại vừa giữ được bản sắc riêng trước ảnh hưởng của văn hoá
Hán. Việc lợi dụng được những thành tựu ngôn ngữ trong tiếng Hán để tự cải
tiến mình, hoàn thiện mình rõ ràng là một đặc điểm độc đáo mà tiếng Việt có
được. Nói đến quá trình vay mượn, thường người ta thường chú ý nhiều đến
các yếu tố vay mượn mà đôi khi xao lãng, ít quan tâm đến các yếu tố gốc,
trong trường hợp tiếng Việt thì đó là các yếu tố thuần Việt.
Cùng với sự phát triển của xã hội, văn hóa và ngôn ngữ có liên hệ chặt
chẽ, không thể tách rời. Ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở văn hóa và văn
hóa chứa đựng trong ngôn ngữ. Chính vì vậy người ta đã nói rằng ngôn ngữ là
kết tinh của văn hóa dân tộc, nhờ ngôn ngữ và văn tự mà văn hoá được lưu
truyền. Văn hóa và ngôn ngữ luôn nương nhờ vào nhau để tồn tại và phát
triển.
3
Mỗi vùng đất do điều kiện tự nhiên khác nhau tạo nên một cách lối
sống và tư tuy văn hóa khác nhau. Những yếu tố này, do vậy, góp phần hình
thành nền văn hóa riêng của từng vùng đất. Cho nên, mỗi nền văn hóa có nét
đặc sắc riêng thể hiên đặc trưng cho mỗi dân tộc. Tính độc đáo, cái “hồn cốt”
văn hoá không chỉ thể hiện thông qua các từ trong vốn từ vựng mà bên cạnh
đó còn chứa đựng trong một loại đơn vị khá đặc biệt đó là thành ngữ.
Đối với người Việt và người Trung Quốc, thành ngữ không phải là loại
đơn vị từ vựng chỉ được những người “có chữ” sử dụng trong các tác phẩm
văn học nghệ thuật mà còn được đại đa số quần chúng, những người “bình
gốc các yếu tố cấu thành thành ngữ Việt Nam.
- Về thực tiễn: Giúp cho học viên nước ngoài học tốt tiếng Việt và hiểu
biết sâu sắc hơn về ngôn ngữ, văn hoá Việt Nam. Giải quyết tốt một số vấn đề
về thành ngữ tiếng Việt sẽ giúp cho công tác dịch thuật các tác phẩm văn học
nghệ thuật cũng như các văn bản thuộc các lĩnh vực khác một cách thiết thực.
5
0.5. Tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng trong luận văn này được lựa chọn
trong cuốn “ Từ điển thành ngữ - tục ngữ Việt Hán” do Nguyễn Văn Khang
biên soạn, NXB. Văn hoá Sài Gòn 2008. Sở dĩ chúng tôi chọn cuốn này để
khảo cứu là vì: đây là một cuốn từ điển mới xuất bản (2008) và tác giả cuốn
sách là một nhà ngôn ngữ học có vốn Hán học khá uyên bác. Số lượng thành
ngữ Hán (được người Việt chấp nhận và sử dụng) trong cuốn này theo chúng
tôi là nhiều hơn các cuốn khác. Dù vậy, luận văn cũng tham khảo và sử dụng
một số thành ngữ được chúng tôi tham khảo từ các nguồn khác. Chúng tôi coi
đây là một việc dĩ nhiên trong khoa học bởi nguồn tư liệu càng dồi dào thì
tính chính xác và độ thuyết phục khoa học sẽ càng cao.
Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp
thống kê, phân tích và miêu tả.
0.6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chương với nội
dung chính như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận liên quan đến luận văn.
Chương 2. Tình hình sử dụng yếu tố thuần Việt và Hán Việt trong
thành ngữ tiếng Việt
Chương 3. Thử so sánh thành ngữ thuần Việt và thành ngữ sử dụng yếu
tố Hán Việt về giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật.
6
người Việt Nam xem là từ thuần Việt” (Phan Ngọc [17, 116]. Tương tự như
hai học giả trên, Nguyễn Thiện Giáp, trong các công trình của mình quan
niệm: “Ngoài những từ có thể xác định chắc chắn là tiếng Việt tiếp nhận của
tiếng Hán và các ngôn ngữ Ấn, Âu, tất cả các từ còn lại đều được gọi là các từ
thuần Việt. Những từ được gọi là thuần Việt thường trùng với bộ phận từ
vựng gốc của tiếng Việt, chúng biểu thị những sự vật, hiện tượng cơ bản nhất,
chắc chắn phải tồn tại từ rất lâu”. (Nguyễn Thiện Giáp [11, 269]. Rõ ràng,
ngoài những từ có thể xác định chắc chắn đó là gốc Hán hoặc Ấn – Âu thì ông
nhất loạt coi vốn từ vựng còn lại trong tiếng Việt đều là từ thuần Việt cả bất
kẻ chúng có gốc từ ngôn ngữ nào.
Nguyễn Như Ý, không gọi thẳng là từ thuần Việt mà gọi đó là từ gốc.
Ông viết: “Từ gốc: Từ vốn có trong thành phần từ vựng ban đầu của một
ngôn ngữ, nằm trong vốn từ cơ bản của một ngôn ngữ, đối lập với từ vay
8
mượn,; còn gọi là từ bản ngữ, từ chính gốc, từ thuần”. (Nguyễn Như Ý [4;
896].
Theo Trần Trí Dõi: Lớp từ thuần Việt là cốt lõi của từ vựng tiếng Việt.
Nó làm chỗ dựa và có vai trò điều khiển, chi phối sự hoạt động của mọi lớp từ
khác. Nếu coi từ thuần Việt là kết quả của quá trình tiếp xúc, tác động lâu dài
giữa các ngôn ngữ Nam Á và Tày-Thái thì các từ này hình thành nên một lớp
từ vựng cơ bản và lâu đời nhất trong tiếng Việt, có thể chia ra như sau:
Những từ tương ứng với tiếng Mường như: đuôi, móng, mồm, sừng ;
cô gái, đàn ông, vợ, chồng ; cây, củ, cơm, mả ; bí, cỏ, chuối, hành , bướm,
cáo, cầy, chuột ; bẩn, cay, chậm, dài ; ăn, bơi, cấy, chạy
Những từ tương ứng với các tiếng Tày-Thái như: bánh, bóc, buộc,
đường, gọt, ngắt, ngọn, rẫy, vắng
Những từ tương ứng với các tiếng Việt-Mường và Tày-Thái như: bão,
bể, dao, gạo, ngà voi, sống
Những từ tương ứng với nhóm Việt-Mường và Bru ở tây Quảng Bình:
10
Hiện tượng này diễn ra với các mức độ khác nhau qua các thời kỳ. Giai đoạn
đầu sự tiếp xúc vay mượn còn mang tính chất lẻ tẻ, rời rạc, chủ yếu thông qua
con đường tiếp xúc khẩu ngữ giữa người Việt và người Hán. Đến đời Đường,
tiếng Việt mới có sự tiếp nhận các từ ngữ Hán một cách có hệ thống qua con
đường sách vở. Các từ ngữ gốc Hán này chủ yếu được đọc theo ngữ âm đời
Đường tuân thủ nguyên tắc ngữ âm tiếng Việt gọi là âm Hán-Việt. Ví dụ:
phiền, phòng, trà, trảm, chủ Các từ ngữ gốc Hán nhưng không đọc theo âm
Hán-Việt như: Các từ được du nhập vào tiếng Việt trước đời Đường, cũng gọi
là âm Hán cổ (tương ứng với các âm Hán-Việt trên là buồn, buồng, chè,
chém, chúa ). Ngoài ra cũng cần kể đến những từ xuất phát từ các phương
ngữ Trung Quốc khác nhau (như tiếng Quảng Đông, tiếng Triều Châu ) được
du nhập thông qua đường khẩu ngữ như: ca la thầu, mì chính, xì dầu, bánh
pía, sương sáo, lẩu
Vấn đề nguồn gốc từ, đặc biệt là từ Hán - Việt vốn đã được các nhà
Việt ngữ học chú ý từ lâu. Theo một số học giả thì từ Hán Việt được định
nghĩa như sau: “từ Hán Việt đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự
chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt; còn
gọi là từ Việt gốc Hán. Ví dụ: Chính phủ, quốc gia, giang sơn, nhân dân, tổ
quốc, xã tắc. (Cao Xuân Hạo- Hoàng Dũng [2, 360]. Theo Bùi Đức Tịnh: “Có
thể định nghĩa một cách giản dị rằng tiếng Hán Việt là những từ tiếng Hán
phát âm theo lối Việt. Ban đầu đó là những chữ Hán mà khi học trong sách
11
Trung Hoa, các nhà trí thức ta đọc trại đi theo giọng Việt”; “ Những tiếng
Trung Hoa học được, tổ tiên ta nói trại đi. Sự biến hoá các tiếng Hán theo âm
hưởng Việt Nam ấy đã diễn ra bằng hai cách nói trại của dân chúng (dân hoá)
và cách nói trại của các nhà trí thức (nho hoá).
Những tiếng do các nhà trí thức nói trại sẽ được gọi là tiếng HánViệt”.
(Bùi Đức Tịnh [1, 10].
Hán Việt, nhóm tác giả cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” quan niệm:
“Từ Hán Việt là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn hai,
mà người Việt đã đọc âm chuẩn của chúng theo hệ thống ngữ âm của mình”
[7, 254].
1.2. Quan niệm về thành ngữ và cách phân biệt tạm thời giữa thành
ngữ với các đơn vị khác (Từ ghép, tục ngữ, quán ngữ, cách ngôn, cụm từ
tự do) 13
1.2.1 Quan niệm về thành ngữ
1.2.1.1. Quan niệm về thành ngữ của các học giả Trung Quốc
Theo thư tịch Trung Quốc, trước khi dùng thuật ngữ “thành ngữ” thì
người Trung quốc dùng hai chữ thành ngôn để chỉ khái niệm này. Vi Trường
Phúc, trong luận văn “Đặc điểm của các thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm trong
tiếng Hán (có sự đối chiếu với tiếng việt)” của mình đã viết “Theo Từ Diệu
Dân thì trước khi hai chữ thành ngữ xuất hiện người ta thường gặp khái niệm
“thành ngôn”. Hai chữ này có sớm nhất trong, Kinh dịch, Tả truyện, Li Tao và
một số thư tịch cổ khác” (tr. 7). Vi Trường Phúc, cũng trích theo Từ Diệu Dân
cho rằng “thực ra từ thời Nguyên, Minh đã có một số sách sử dụng hai chữ
thành ngữ, còn trước đó, ở đời Tống chưa thấy xuất hiện khái niệm này và
thường gọi những câu nói của người xưa là “cổ ngữ”, “thường ngữ”.
Trong các từ điển Trung Quốc, thành ngữ thường được định nghĩa như sau:
Từ điển Từ Nguyên (1915) đưa ra một quan niệm rất rộng về thành ngữ.
Từ điển này coi “thành ngữ là cổ ngữ, phàm những gì lưu hành trong xã hội,
có thể dẫn để biểu thị ý nghĩa của mình đều là thành ngữ”. Tương tự như vậy,
từ điển Từ Hải (1936) cũng coi “những cổ ngữ mà được người nay dẫn dụng
gọi là thành ngữ. Thành ngữ có nguồn gốc hoặc từ kinh truyện, hoặc từ ngạn
ngữ ca dao, được xã hội quen biết, được người dân hay dùng quen nghe”. Ở
lần xuất bản mới đây (tháng 9 năm 1979), định nghĩa thành ngữ của Từ Hải
ngữ tuy có kết cấu chặt chẽ nhưng trong thực tế sử dụng vẫn chỉ được xem
như một vật ngang giá với từ, bởi chúng vẫn chưa có được sự cố kết của một
từ mà vẫn còn dáng dấp của một loại từ tổ cố định.
Gần đây, khoảng những năm 90 của thế kỷ trước khi xuất bản Thành
ngữ cửu chương, hai tác giả Nhi Bảo Nguyên và Nhiêu Bằng Từ đưa ra cách
hiểu về thành ngữ như sau: Thành ngữ là những từ tổ cố định, đượcv mọi
người lâu nay quen dùng, có ý nghĩa hoàn chỉnh, kết cấu ổn định, hình thức
ngắn gọn, được sử dụng như một chỉnh thể. Với các tác giả này, thành ngữ
phải là các đơn vị có tính quen dùng về mặt lịch sử, có tính hoàn chỉnh về mặt
kết cấu, ngắn gọn về mặt hình thức và là một khối khi sử dụng. Tiến xa hơn
họ phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do khi cho rằng, về mặt nội dung, cụm
từ tự do chỉ là sự cộng lại đơn thuần của các ý nghĩa từng thành tố, thứ hai, về
hình thức cấu tạo, cụm từ tự do là những tổ hợp có tính lâm thời, lỏng lẻo.
Tóm lại, theo các nhà Hán ngữ học thì thành ngữ, đến nay được quan
niệm là một loại “ngữ” đích thực, nó có các đặc trưng để phân biệt với các
loại ngữ khác cũng như các loại đơn vị ngôn ngữ khác (cụm từ tự do chẳng
hạn). Về mặt sử dụng, thành ngữ có cương vị tương đương một từ.
16
Nói chung, các bước tiến trong quan niệm về thành ngữ về cơ bản có sự
tương đồng giữa các nhà Hán ngữ học và Việt ngữ học, đó là việc từng bước
tìm tòi, vận dụng các tiêu chí khoa học để tách được thành ngữ ra khỏi các
đơn vị tương cận và xác định cho nó một cương vị độc lập.
1.2.1.2 Quan niệm của các nhà Việt ngữ học về thành ngữ
Muốn hiểu rõ thế nào là thành ngữ, cách phổ biến là người ta phân biệt
nó với các loại đơn vị khác: thứ nhất là phân biệt thành ngữ với từ ghép; thứ
hai là phân biệt thành ngữ với những kiểu cụm từ cố định khác như tục ngữ,
quán ngữ, đặc ngữ, cách ngôn; và thứ ba là phân biệt thành ngữ với cụm từ tự
do Khi nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt, giới Việt ngữ học đã đưa ra một
số định nghĩa như sau:
hai hoặc hơn hai quan hệ ngữ pháp khác nhau” [13]. Cái phân biệt hai loại
đơn vị này chính là cơ cấu biểu nghĩa, theo đó nghĩa của thành ngữ là nghĩa
của loại “đơn vị định danh bậc hai” và là loại ý nghĩa có tính “biểu trưng hoá”
18
cao độ. Phân tích của Nguyễn Văn Khang khi viết lời bạt cuốn “Thành ngữ
học tiếng Việt” của cố GS. Hoàng Văn Hành [4],về đặc trưng ngữ nghĩa của
thành ngữ là hoàn toàn xác đáng: “Tính hoàn chỉnh về nghĩa của thành ngữ
được ông lý giải từ góc độ nghĩa định danh. “Song, khác với các đơn vị định
danh bình thường, thành ngữ là loại các đơn vị định danh bậc hai”. Với cách
nhìn này ông cho rằng thành ngữ là đơn vị từ vựng có lượng nghĩa đôi và hai
nghĩa này gần như song song tồn tại: nghĩa đen là cơ sở là gốc, nghĩa bóng
hay nghĩa phái sinh là nghĩa được sử dụng trong hành chức, là nghĩa hình
thành qua quá trình biểu trưng hoá. biểu trưng hoá về nghĩa của thành ngữ,
theo ông, thể hiện dưới hai hình thức: hình thức so sánh (ẩn dụ hoá) và hình
thức ẩn dụ (so sánh ngầm)” (tr. 11, 12 - Lời bạt của NVK).
1.2.2.2. Phân biệt thành ngữ với quán ngữ
Đối chiếu với quán ngữ thì sự khác nhau giữa hai loại đơn vị này khó
phân biệt hơn bởi lẽ, chúng đều là cụm từ cố định, đều được cấu tạo từ một số
lượng khá lớn các đơn vị âm tiết, mối quan hệ giữa các thành tố của hai loại
đơn vị này cũng phức tạp hơn mối quan hệ giữa các đơn vị của từ ghép, chúng
cũng có điểm giống nhau về chức năng tạo câu
Dù vậy, các nhà Việt ngữ học cũng đã phân biệt thành công hai loại
đơn vị này trên cơ sở xem xét các đặc điểm về: Mức độ cố định trong cấu trúc
hình thức, tính hoàn chỉnh, bóng bẩy về nghĩa. Theo đó, Nguyễn Văn Tu cho
rằng: “Quán ngữ là những cụm từ rất gần với cụm từ tự do nhưng tương đối
19
ổn định về cấu trúc, được quen dùng mà các từ tạo ra chúng còn giữ tính độc
lập, có khi một từ trong đó có thể thay thế bằng một từ khác. Nghĩa của cụm
do có sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có sự kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào
đó của từ đã có. Chúng vừa hài hoà về ngữ âm, vừa có sự gợi tả, ví dụ: tim
tím. mơn mởn, láu táu, lẻ tẻ. Đây là laọi đơn vị trung gian giữa ngữ định danh
và thành ngữ”. Nguyễn Thiện Giáp nhận diện quán ngữ là “những cụm từ
được dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản liên kết, đưa đẩy, rào đón hoặc
nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó, ví dụ: của đáng tội, nói khí vô phép,
nước non gì. Đây là đơn vị trung gian giữa cụm từ tự do và cụm từ cố định”
(sdd. tr. 77, 78). Với Nguyễn Thiện Giáp, quán ngữ là loại ngữ được sử dụng
với chức năng chính là đưa đẩy, rào đón, liên kết hoặc nhấn mạnh ý trong các
loại ngôn bản. Chính điều này đã làm cho nó có cương vị là một lớp từ khác
với thành ngữ. 21
1.2.2.3. Phân biệt thành ngữ với tục ngữ
Đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng thành ngữ và tục
ngữ khác nhau ở những điểm sau đây:
- Về cương vị trong hệ thống ngôn ngữ: thành ngữ thuộc về cấp độ
từ trong khi tục ngữ thuộc cấp độ cao hơn (cấp độ câu).
- Về nội dung ngữ nghĩa: Thành ngữ có chức năng định danh còn
tục ngữ được cho là có chức năng thông báo, phản ánh quy luật, nêu
kinh nghiệm về sản xuất đời sống xã hội.
Thực ra, sự khác biệt mà các nhà nghiên cứu hướng vào khai thác cũng
chưa hẳn đã giúp chúng ta một ranh giới rạch ròi giữa hai loại đơn vị này. Lý
do là bởi đây là những đơn vị hai mặt, đơn vị ngôn ngữ - văn hoá. Một kết cấu
nào đó, tuỳ hoàn cảnh, tuỳ mục đích, thái dộ ứng xử của người sử dụng mà nó
sẽ được nhận diện như là thành ngữ hay là tục ngữ. Về vấn đề này, một lần
nữa chúng tôi muốn nhấn mạnh lại, chính thái độ của người xử dụng đôi khi
lại là nhân tố quyết định cương vị của một loại tổ hợp nào đó (ở đây là thành
ngữ và tục ngữ). Tính chất hai mặt của thành ngữ, tục ngữ cũng đã được