lời nói đầu
Sau hơn 15 năm đổi mới kể từ đại hội VIII, nền kinh tế nớc ta có sự
chuyển đổi từ nền kinh tế quản lý theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang
nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. Chúng ta đã đạt đợc nhiều
thành tựu to lớn cả về kinh tế và các lĩnh vự khác. Điều này đã khẳng định con
đờng phát triển đất nớc mà Đảng và Nhà nớc đã lựa chọn là đúng đắn, đa đất n-
ớc tiến gần tới mục tiêu Công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc.
Hiện nay chúng ta đang chuẩn bị hành trang để bớc vào thế kỷ mới. Thế
kỷ 21, thế kỷ của tin học, thế kỷ của nền kinh tế toàn cầu, với sự cạnh tranh
không biên giới. Để có thể tồn tại trong một môi trờng kinh doanh hoàn toàn
mới đòi hỏi chúng ta phải không ngừng đổi mới cả về mọi mặt.Tuy bớc đầu
trong cơ chế mới các doanh nghiệp Việt nam đã đạt đợc một số thành tựu nhất
nhất định,nhng để nâng cao khả năng cạnh tranh trong môi trờng mới các doanh
nghiệp cần phải hoàn thiện hơn nữa. Mà một trong những vấn đề có tính quyết
định đó là việc hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy quản lảan xuất trong các
doanh nghiệp.
Sau một thời gian thực tập tại Công ty vận tải ô tô số 3, một doanh nghiệp
Nhà nớcthuộc ngành vận tải trung ơng đã từng đạt nhiều thành tích trong quá
trình tồn tại và phát triển, là đơn vị luôn hoàn thành kế hoạch do Nhà nớc
giao.Bớc sang cơ chế thị trờng Công ty đã đạt đợc nhiều thành tựu, nhng bên
cạnh đó còn tồn tại nhiều vớng mắc cần khắc phục mà nổi cộm là vấn đề hoàn
thịên cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý.
Để tiếp tục tồn tại và phát triển trong cơ chế mới đòi hỏi Công ty phải có
biện pháp để hoàn thiện cơ cấu bộ máy tổ chức. Có nh thế mới tạo ra u thế trong
cạnh tranh cho Công ty.
Xuất phát từ thực tế này, em chọn luận văn tốt nghiệp của mình là đề tài
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện bộ máy tổ chức bộ máy quản lý
tại Công ty vận tải ô tô số 3 .
Nội dung luận văn gồm 3 phần :
Chơng I :Một số vấn đề về tổ chức bộ máy quản lý và hoàn thiện cơ cấu
tô chức.
Nh vậy khái niệm cơ cấu tơng ứng với sự mô tả sự kết hợp các yếu tố hợp
thành của doanh nghiệp, bao gồm:
Phân phối nhiệm vụ;
Phân phối quyền lực:
Phân phối trách nhiệm;
Truyền đạt thông tin;
Những cơ chế phối hợp;
Có thể nói khái niệm cơ cấu tổ chức quản lý là tổng hợp các bộ phận
khác nhau có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, đợc chuyên môm hoá, đợc giao
trách nhiệm, quyền hạn nhất định và đợc bố trí theo từng cấp nhầm thực hiện
các chức năng quản lý doanh nghiệp. Cơ cấu tổ chức quản lý đợc hình thành bởi
các bộ phận quản lý nhất định chẳng hạn nh phòng kế toán phòng kế hoạch.
2- Các yếu tố ảnh hởng đến cơ cấu tổ chức quản lý.
Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý là việc làm hết sức khó khăn, nó chịu
sự tác động, ảnh hởng của nhiều yếu tố khác nhau. Bao bồm các yếu tố chủ
quan của con ngời và các yếu tố tác động từ môi trờng bên ngoài và bản thân cơ
cấu tổ chức.
2.1- Các yếu tố thuộc chủ thể của hệ thống.
* Cán bộ quản lý :
Trình độ, kiến thức chuyên môn của các cán bộ lãnh đạo trong tổ chức là
nhân tố ảnh hởng trực tiếp đến cơ cấu tổ chức. Họ là những ngời trực tiếp xây
dựng lên cơ cấu tổ chức của hệ thống và thực hiện kết nối các mối liên kết giữa
con ngời và các bộ phạn trong tổ chức.
* Mục tiêu của hệ thống.
Cơ cấu tổ chức của hệ thống chịu ảnh hởng trực tiếp của mục tiêu của hệ
thống.
Chính mục tiêu của hệ thống quyết định sự hình thành các loại cơ cấu tổ
chức. Mỗi loại mục tiêu xác định một loại cơ cấu tổ chức để thực hiện mục tiêu
đó. Và ngợc lại các mục tiêu chiến lợc phải dựa vào cơ cấu tổ chức của hệ thống
để xác định.
tới việc bố trí cơ cấu tổ chức quản lý.
2.3 Nhóm các yếu tố thuộc môi trờng.
Một tổ chức luôn tồn tại và phát triển trong một môi trờng biến động, yếu
tố môi trờng là yếu tố tác động trực tiếp, gián tiếp đến sự thành bại của doanh
nghiệp. Khi các yếu tố trong môi trờng biến động nó sẽ tác động đến cơ cấu tổ
chức làm cho cơ cấu tổ chức phỉa thay đổi để thích nghi với môi trờng mới.
Các yếu tố chủ yếu tác động của môi trờng bao gồm (yếu tố khách hàng,
ngời tiêu dùng, ngời cung cấp môi tr ờng chímh trị). Một hệ thống muốn phát
triển phải luôn chú ý đến các tác động của môi trờng xung quanh.
3- Các nguyên tắc tổ chức quản lý
3.1 Nguyên tắc cơ cấu tổ chức quản lý gắn với phơng hớng, mục đích của hệ
thống:
Phơng hớng và mục đích của hệ thống sẽ chi phối cơ cấu của hệ thống.
Nếu mục tiêu, phơng hớng của hệ thống có quy mô lớn thì tơng ứng với nó phải
bố trí một cơ cấu tổ chức có quy mô lớn, nếu với một hệ thống mt cỡ nhỏ mà bố
trí một cơ cấu tổ chức với quy mô nhỏ thì việc quản lý sẽ rất khó khăn.
Một hệ thống có mục đích hoạt động văn hoá thì rõ ràng cơ cấu tổ chức
quản lý của nó cũng phải có đặc tình phù hợp với đặc tính văn hoá nó khác với
hệ thống hoạt động theo mục tiêu kinh doanh.
3.2- Nguyên tắc chuyên môn hoá và cân đối
Nguyên tắc này đòi hỏi cơ cấu tổ chức quản lý phải đợc phân công phân
nhiệm các phân hệ trong hệ thống theo các nhóm chuyên ngành, với những con
ngời đợc đào tạo rèn luyện tơng ứng và có đủ quyền hạn và trách nhiệm. Để
thực hiện nguyên tắc này cần tranh thủ các yêu cầu sau:
* Phải phân công bố trí rõ ràng nhiệm vụ, mục đích mục tiêu của hệ
thống để mọi ngời nắm và hiểu đợc phần việc của mình trong guồng máy chung
của hệ thống.
* Cơ cấu tổ chức đợc phân phối theo nhiệm vụ đợc giao chứ không phải
theo phạm vi công việc phải thực hiện. Rõ ràng, chỉ có phân giao nhiệm vụ
trong hệ thống một cách rõ ràng, cụ thể với sự cân xứng giữa nhiệm vụ đợc giao
Cơ cấu này khá phổ biến ở các doanh nghiệp nhỏ, sản xuất không phức
tạp, tính chất sản xuất liên tục. Đặc biệt nó thờng đợc áp dụng đối với các tổ đội
sản xuất.
Sơ đồ :
Ngời đứng đầu hệ thống
Lãnh đạo tuyến 1 Lãnh đạo tuyến 2
Ngời
phụ
trách
đơn
vị 1
Ngời
phụ
trách
đơn
vị 2
Ngời
phụ
trách
đơn
vị
Ngời
phụ
trách
đơn
vị 1
Ngời
phụ
trách
đơn
Sơ đồ :
Lãnh đạo hệ thống
Lãnh
đạo
chức
năng
1
Lãnh
đạo
chức
năng
2
Lãnh
đạo
chức
năng
n
Các cấp dới
* Đặc điểm :
Trong cơ cấu tổ chức hình thành 2 phân hệ:
Các tuyến quản lý tạo ra sản phẩm dịch vụ phục vụ cho thị trờng;
Các bộ phận chức năng là nơi thực hiện các chức năng quản lý giúp ban
lãnh đạo xây dựng lên các tuyến quản lý và chỉ đạo thực hiện các quyết định
quản lý.
Ngời lãnh đạo của các bộ phận chỉ có quyền ra quyết định trong các tuyến
quản lý mà không cần chế độ uỷ quyền.
Những ngời thừa lệnh cấp dới nhận mệnh lệnh của cả lãnh đạo và những
thủ lĩnh chức năng.
Kiểu cơ cấu tổ chức này thu hút đợc các chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực
khác nhau của công tác quản lý
Nếu là hệ thống lớn và phức tạp thì cần có nhiều tham mu dẫn đến
việc thống nhất ý kiến và hoạt động gặp nhiều khó khăn.
Cơ cấu trở nên cồng kềnh khó quản lý.
* Khả năng ứng dụng;
Cơ cấu này có thể sử dụng có hiệu quả đối với các hệ thống có quy mô
vừa và nhỏ.
5.4 Cơ cấu trực tuyến chức năng
Lãnh
đạo
tuyến
1
Lãnh
đạo
chức
năng
Lãnh
đạo
chức
năng
Lãnh
đạo
tuyến
2
1 2 2 1
Đây là cơ cấu trực tuyến nhng trong đó ngời ta thành lập lên các phòng
ban riêng biệt.
Sơ đồ : (trang bên)
* Đặc điểm :
Theo cơ cấu này hình thành lên các phòng ban chức năng. Ngời lãnh đạo
hệ thống đợc sự giúp đỡ của các thủ lĩnh chức năng để chuẩn bị các quyết định
3
Phòng
kế
hoạch
Phòng
Ma
ket
tinh
vẫn chịu trách nhiệm về mọi mặt công việc và hoàn toàn quyết định trong toàn
hệ thống. Việc truyền mệnh lệnh vẫn theo các tuyến dã quy định, các thủ lĩnh ở
các tuyến vẫn phát huy đợc tài năng của mình trong chuyên môn. Tuy họ không
có quyến ra quyết định nhng có thể đợc uỷ quyền hoặc phân quyền ra quyết
định .
* Ưu điểm :
Vẫn duy trì đợc chế độ một thủ trởng,
Mở rộng dân chủ trong quản lý thông qua việc phân quyền và uỷ quyền,
Tận dụng đợc các chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực quản lý,
Tạo nên sự liên kết chặt chẽ trong hoạt động giữa các bộ phận.
Nhợc điểm :
Nếu phân định chức năng quá sâu có thể dẫn tới cơ cấu quá cồng kềnh,
có nhiều phòng ban chức năng,
Các mối liên hệ khác tuyến (liên hệ ngang) không đợc thực hiện tốt.
* Khả năng ứng dụng :
Cơ cấu này đợc sử dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp do u điểm của
nó so với các cơ cấu chức năng và trực tuyến.
4.5 Cơ cấu ma trận
Kiểu cơ cấu tổ chức này đợc áp dụng để thiết lập cơ cấu cho toàn bộ hệ
thống cũng nh để thành lập cơ cấu bên trong của từng phân hệ.
Sơ đồ :
Ngời lãnh đạo hệ tnống
Cơ cấu này thờng phức tạp, lắm mối quan hệ.
Có thể dẫn tới tình trạng mất ổn định trong hệ thống.
Có thể làm xuất hiện nhiều thủ trởng (song trùng với lãnh đạo)
* Khả năng ứng dụng :
Cơ cấu này đợc ứng dụng rộng rãi trong thực tế đỉnh cao vào những năm
1970
Thờng chỉ áp dụng để thực hiện các mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu trung
hạn
Hiện nay ngời ta khuyên các nhà quản lý một số điều sau;
Chỉ xây dựng cơ cấu này khi thật cần thiết.
Không nên có nhiều mục tiêu hoặc chơng trình dự án đợc thực hiện vào
cùng một lúc.
4.6 Cơ cấu chính thức và cơ cấu không chính thức.
4.6.1 Cơ cấu chính thức.
Là cơ cấu gắn liền với vai trò nhiệm vụ trong tổ chức một cách chính
thức theo quy chế của hệ thống, những cơ cấu chính thức là nơi diễn ra phần lớn
các hoạt động quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu của hệ thống, ở đay các cá
nhân phải đóng góp một cách có hiệu quả nhất vào các mục tiêu của hệ thống
chứ không phải họ chỉ dành phần nhỏ trí óc và sức lực cho hệ thống, còn phần
lớn để làm thêm cho các hệ thống khác. Nói một cách rõ hơn cơ cấu chính thức
là cơ cấu bao gồm những con ngời, những phân hệ là thành viên chính tức của
hệ thống.
4.6.2 Cơ cấu không chính thức.
Cơ cấu không chính thức là cơ cấu ngoài thành viên, phân hệ chính thức
chịu sự kiểm soát của hệ thống còn tồn tại các thành viên các phân hệ tham dự
không chính thức vào hệ thống, đợc xây dựng trên mối quan hệ tự nguyện của
những ngời có chung mục tiêu, sở thích, t tởng Ng ời đứng đầu các cơ cấu
không chính thức đợc gọi là các thủ lĩnh.
Trong quá trình quản lý, bên cạnh việc chú ý đên các cơ cấu chính thức
các nhà quản lý phải quan tâm đến sự hình thành và hoạt động của các loại cơ
lý của các nhà triết học cổ đại Trung Quốc nh Mạnh Tử, Khổng Tử, Tuân Tử...
* Quản Trọng (683-640) trớc CN cho rằng muốn quản lý xã hội,muốn
dân giàu nớc mạnh phải sử dụng pháp luật, bạo lực và phải quan tâm đến 5 mặt
hoạt động cơ bản là: quan hệ đối ngoại, ra sức phát triển sản xuất, tăng cờng
phát triển tiềm lực quốc phòng, thực hành pháp luật, ngăn chặn các thói xấu của
ngời đứng đâu xã hội.
* Mạnh Tử (551-478) trớc CN với học thuyết lễ trị, muốn quản lý xã hội
phải lấy nhân nghĩa làm gốc, phải đối xử với mọi ngời bằng lễ khiến mọi ngời
phục và tuân theo.
* Mạnh Tử (372-289) trớc CN đa ra quan điểm cho rằng bản chất con ng-
ời là thiện, muốn quản lý xã hội phải chăm lo đời sống cho dân, phải xây dựng
một xã hội toàn ngời tốt và bình đẳng với nhau. Ông cho rằng xã hội loạn vì
chính quyền tệ hại, tàn bạo chứ không phải là tại dân.
* Tuân Tử lại đa ra quan điểm cho rằng bản chất con ngời là ác muốn
quản lý xã hội phải định ra pháp luật, dựa vào pháp luật để uốn nắn tính xấu của
con ngời. Theo ông xã hội ổn định vì pháp chứ không phải vì đức.
Do giai đoạn này quản lý cha tách khỏi triết học cho nên những t tởng
quản lý của các triết gia vẫn mang tính chung chung, nó là những quan điểm về
cách đối nhân xử thế, những quan niệm sống...
Tuy nhiên các triết gia thời này đã nhận thấy tầm quan trọng của quản lý,
một xã hội phát triển không thể thiếu chức năng quản lý.
+ Giai đoạn xuất hiện CNTB đến khi xuất hiện các nớc XHCN
Đến thời này quản lý đã dần trở thành một môn khoa học độc lập tách
khỏi triết học, giai đoạn này vào khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Bao gồm
t tởng của các trờng phái:
* Trờng phái cơ cấu và chế độ của hệ thống
Trờng phái này dành nghiên cứu trong phạm vi hệ thống (lí nghiệp, nhà
máy ) ở góc độ tạo ra một cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý, một chế độ điều
hành khoa học và chặt chẽ đem lại hiệu quả cao cho công tác quản lý trong hệ
thống. Tiêu biểu cho t tởng của trờng phái này phải kể tới các nhà quản trị:
con ngời, tâm lý tập thể,và bầu không khí tâm lý trong xí nghiệp, yếu tố tác
động đến tâm lý con ngời trong quá trình làm việc. Đại diện cho trờng phái này
M.P. Follet (1868-1933), Elton Mayo...
* Trờng phái quản lý kinh tế của các nớc XHCN Đông Âu
Việc quản lý đợc đặt trên cơ sở bản chất chế độ XHCN là xoá bỏ bóc lột
và thực hiện sở hữu XHCN về t liệu sản xuất với hai mục tiêu quản lý là nâng
cao năng suất và hiệu quả sản xuất, công bằng văn minh trong xã hội. Nhng cho
đến đầu những năm 60 do sự phát triển kinh tế bắt đầu chững lại ở nhiều nớc lý
do chủ yếu là tập trung quản lý duy ý chí vào các cơ quan Nhà nớc với các yếu
kém của các nhà quản lý điều hành bộ máy này. Sự bế tắc này dẫn đến khủng
hoảng ở một số nớc đòi hỏi phải có sự điều chỉnh trong thuyết quản lý của
mình.
+ Giai đoạn từ đầu những năm 1970 đến nay
* Trờng phía các nớc TBCN
Các nhà quản trị tiêu biểu phơng tây là Peter Drucker là ngời đầu tiên mở
cửa phạm vi quản lý xí nghiệp ra với thị trờng, khách hàng và ràng buộc xã hội,
các đối thủ cạnh tranh và các nhà cung cấp...Theo ông quản lý có 3 chức năng
là: quản lý công nhân; quản lý công việc; quản lý các nhà quản lý và quản lý
các doanh nghiệp. Theo ông quản lý là hoạt động sáng tạo kinh doanh chứ
không phải là sự thíc nghi thụ động.
Các nhà quản trị Bắc âu bổ xung thêm việc gắn quản lý xí nghiệp với
việc điều hành lợi ích xã hội thông qua một số các cơ quan quản lý của Nhà n-
ớc.
Các nhà quản trị Nhật Bản và các nớc ASEAN lại bổ xung thêm cho quản
lý theo phơng thức hiện đại với sức mạnh truyền thống và lòng tự hào dân tộ,và
yếu tố con ngời. Họ tạo ra tâm lý mạnh cho cộng đồng xã hội với mong muốn
nhanh chóng trở thành các cờng quốc dẫn đầu thế giới.
Một số quốc gia thuộc phạm vi ảnh hởng của các thế lực của đế quốc
phản động quốc tế đã hi vọng đem lại sự thịnh vợng cho đất nớc bằng việc quản
lý toàn xã hội bằng bạo lực, roi vọt... (Ponpot Iênxari , phát xít nhật).
quản lý là quá trình làm việc với ngời khác, thông qua ngời khác để đạt đợc kết
quả là thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Vậy quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý lên đối tợng quản
lý và khách thể quản lý nhằm đạt đợc mục tiêu của tổ chức đặt ra trong điều
kiện môi trờng biến động.
Nói đến quản lý là nói đến hoạt đọng chủ quan có ý thức, có tính sáng
tạo, năng động linh hoạt của chủ thể quản lý.
Theo nghĩa này quản lý bao gồm các đặc điểm :
Quản lý bao giờ cũng chia thành chủ thể quản lý và đối tợng quản lý:
Đây là đặc điểm cơ bản, đầu tiên của quản lý, nếu chủ thể quản lý không
có thì việc quản lý đặt ra là vô nghĩa. Thực tế chỉ rõ, nhiều tổ chức (quốc tế,
quốc gia, địa phơng, đoàn thể, doanh nghiệp ) mặc dù chủ thể tồn tại trên
danh nghĩa nhng do bất lực về tiềm năng, về lực lợng vật chất, về nhân cách
cho, nên khái niệm quản lý đã trở nên phù phiếm và hình thức. Nhng cũng có tr-
ờng hợp có nhiều tổ chức do xuất hiện quá nhiều chủ thể quản lý mà các chủ
thể này lại tơng đồng nhau. Nhng mục tiêu của họ khác nhau, thì việc quản lý
sẽ rất phức tạp, đối tợng quản lý sẽ gặp vấn đề khó có thể tồn tại và phát triển
bình thờng. Một trờng hợp nữa là có những hệ thống mà tiềm lực của đối tợng
quá lớn tới mức lấn át cả chủ thể quản lý thì khái niệm quản lý sẽ không còn ý
nghĩa.
Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có các
mối liên hệ ngợc.
Quản lý đợc diễn ra nhờ các tín hiệi của mình, đó là quá trình thông tin.
Chủ thể quản lý muốn tác động lên đối tợng thi phải đa ra các thông tin, các
quyết định quản lý đó chính là các thông tin điều khiển. Còn các đối tơng quản
lý muốn định hớng các hoạt động của mình thì phải tiếp nhận các thông tin điều
khiển của cấp trên cùng các bảo đảm vật chất khác để tính toán và tự điều khiển
lấy. Đối với chủ thể quản lý sau khi đa ra các quyết định quản lý cho các đối t-
ợng thực hiện, phải thờng xuyên theo dõi kết quả thực hiện các quyết định của
đối tợng thông qua các thông tin phản hồi đó là các mối liên hệ ngợc.
* Quản lý là một trong những yếu tố cơ bản quyết định của hệ
thống( một tổ chức, một xí nghiệp, một doanh nghiệp ). Việc tổ chức công
Chủ thể quản lý
Đối tợng quản lý
tác quản lý một cách khoa học sẽ tạo điều kiện cho việc giảm chi phí hoạt động
và nâng cao năng xuất lao động.
* Làm tốt công tác quản lý còn tạo điều kiện cho ngời lao động phát huy
đợc khả năng sáng tạo trong lao động sản xuất
Trong môi trờng làm việc của một cơ cấu tổ chức quản lý phù hợp, chặt
chẽ, bảo đảm sự cân bằng giữa quyền lợi và trách nhiệm cho ngời lao động thì
ngời lao động sẽ ý thức đợc hơn những quyền lợi và trách nhiệm của họ họ sẽ
yên tâm tận tâm cống hiến hết khả năng của mình cho công việc, qua đó tạo nên
hệ thống mạnh phát huy đợc khả năng và u điểm của hệ thống, đa hệ thống đạt
đến mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất và chi phí thấp nhất.
Trong điều kiện nớc ta hiện nay cùng với sự tiến hành công cuộc công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc thì việc nâng cao năng lực quản lý và kiến thức
quản lý cho các nhà quản lý là yêu cầu cần thiết.
Trang bị những kiến thức hiện đại về quản lý cho các nhà quản lý,
khuyến khích các doang nghiệp áp dụng các phơng thức quản lý mới, sử dụng
thành tựu khoa học hiện đại vào lĩnh vực quản lý sẽ tạo ra năng xuất cao hơn
trong sản xuất và phát triển. Kinh nghiệm ở các nớc kinh tế phát triển cho thấy
đi đối với việc thực hiện tăng trởng kinh tế là công tác hoàn thiện công tác tổ
chức quản lý. Đó là điều kiện tiên quyết của các quốc gia trong quá trình phát
triển.
3- Chức năng của quản lý.
Quản lý là hoạt động quan trọng của con ngời trong quá trình sản xuất và
phát triển. Điều này thể hiện thông qua các chức năng vốn có của quản lý.
Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện các tác động có chủ đích
của chủ thể quản lý lên đối tợng quản lý và khách thể quản lý. Là tập hợp các
nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý.
Trị phong: bao gồm việc vận dụng thời cơ và né tránh những tai hoạ, rủi
ro
Tóm lại: Chức năng của quản lý có thể gộp thành .
Chức năng hoạch định;
Chức năng tổ chức;
Chức năng điều khiển;
Chức năng kiểm soát;
Chức năng đổi mới;
4- Lao động quản lý trong bộ máy quản lý doanh nghiệp.
Lao động quản lý là những cán bộ quản lý làm việc trong các đơn vị sản
xuất kinh doanh, có nhiệm vụ điều hành mọi hoạt động trong quá trình sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Bộ máy quản lý hoạt động có hiệu quả hay không phụ thuộc vào hiệu quả
hoạt động của đội ngũ lao động quản lý này.
4.1 - Đặc điểm của hoạt động lao động quản lý.
* Hoạt động lao động quản lý là hoạt động lao động trí óc mang đặc tính
sáng tạo. Đâylà đặc thù cơ bản của lao động quản lý, nó quyết định các đặc tính
khác.
* Hoạt động lao động quản lý mang đặc tính tâm lý xã hội cao, xuất phát
từ đặc thù lao động trí óc nên hoạt động lao động quản lý luôn đặt ra yêu cầu
cao về yếu tố thần kinh, tâm lý đối với ngời lao động. Đặc điểm này đòi hỏi các
biện pháp tổ chức lao động phải tạo ra những môi trờng lao động thoải mái, dễ
chịu, tạo bầu không khí tốt trong tập thể phải chú ý đến khía cạnh tâm lý xã hội
trong quá trình lao động.
* Lao động quản lý là quá trình xử lý thông tin và ra quyết định quản lý.
Các thông tin kinh tế, xã hội , ch a đợc khai thác là đối tợng của lao động quản
lý. Đặc điểm này đòi hỏi khi phục vụ lao động quản lý phỉa tổ chức tốt công tác
thu thập thông tin, cung cấp đủ thông tin cho các nhà quản lý, trang thiết
bị hiện đại phục vụ công tác xử lý thông tin truyền tin, dữ liệu .
* Lao động quản lý nhìn chung có nội dung đa dạng khó xác định rõ