tìm hiểu thành ngữ tiếng việt chứa từ chỉ bộ phận cơ thể người trên lý thuyết ba bình diện , ngữ pháp ngữ nghĩa ngữ dụng - Pdf 24


Lời cảm ơn!
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc nhất tới PGS. TS
Nguyễn Thị Lương - người đã gợi mở, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Ngôn ngữ, khoa
Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường THPT Bắc Yên,
Ban Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sơn La đã tạo điều kiện cho tôi
trong suốt quá trình học tập.
Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn những người thân trong gia đình,
bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt
thời gian qua.
Hà Nội, tháng 9 năm 2013
Tác giả Nguyễn Trung Kiên DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BN : Bổ ngữ
BPCTN : Bộ phận cơ thể người
CN : Chủ ngữ
DT : Danh từ
ĐH : Đại học
ĐT : Động từ
KHXH : Khoa học xã hội
KHNV : Khoa học Ngữ văn

1.2.3. Đặc điểm của thành ngữ 25
1.2.3.1. V cu to 26
1.2.3.2. V ng  27
1.2.4. Phân biệt thành ngữ với các đơn vị khác 29
1.2.4.1. Phân bit thành ng vi tc ng 29
1.2.4.2. Phân bit thành ng vi cm t t do 30
1.2.4.3. Phân bit thành ng vi t ghép 31

1.2.4.4. Phân bit thành ng vi t láy 32
1.2.5. Phân loại thành ngữ 32
1.2.6. Thành ngữ chứa từ chỉ BPCTN 34
1.2.6.1.  34
1.2.6.2. T ch BPCTN trong thành ng 36
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 39
Chƣơng 2. THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT CHỨA TỪ CHỈ BỘ PHẬN CƠ
THỂ NGƢỜI TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP 40
2.1. Nhận xét chung về thành ngữ chứa từ chỉ BPCTN 40
2.2. Cấu trúc ngữ pháp của thành ngữ chứa từ chỉ BPCTN 45
2.2.1. Cấu trúc ngữ pháp của thành ngữ đối chứa từ chỉ BPCTN 47
2.2.1.1. V s ng 47
2.2.1.2. V cu to 48
2.2.2. Cấu trúc ngữ pháp của thành ngữ so sánh chứa từ chỉ BPCTN 51
2.2.2.1. V s ng 51
2.2.2.2. V cu to 51
2.2.3. Cấu trúc ngữ pháp của thành ngữ thường chứa từ chỉ BPCTN 53
2.2.3.1. V s ng 53
2.2.3.2. V cu to 53
2.3. Chức năng ngữ pháp của thành ngữ chứa từ chỉ BPCTN 58
2.3.1. Thành ngữ chứa từ chỉ BPCTN làm nòng cốt câu 58
2.3.1.1. Làm ch ng Error! Bookmark not defined.

ca dao 109
3.2.1.4. Thành ng cha t ch BPCTN tham gia vào lp lun trong
Truyn Kiu 112

3.2.2. Thành ngữ chứa từ chỉ BPCTN từ góc nhìn của hội thoại 117
3.2.2.1.Yu t phi li trong giao tip th hin qua thành ng cha t ch
BPCTN 117
3.2.2.2. V lch s trong giao tip th hin qua thành ng cha t ch
BPCTN 118
3.2.3. Đôi nét về bức tranh văn hóa Việt Nam thể hiện qua nhóm
thành ngữ chứa từ chỉ BPCTN 120
i sng nông nghic thù 121
ng nói 124
i Vit Nam 125
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 129
C. PHẦN KẾT LUẬN 130
TÀI LIỆU THAM KHẢO 145
PHỤ LỤC

1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ là một sản phẩm gần gũi và diệu kì nhất mà con người sáng
tạo ra trong quá trình lao động. Đó là hệ thống các kí hiệu đặc biệt được con
người sử dụng để giao tiếp và nhận thức về thế giới. Có thể nói một cách hình
ảnh: ngôn ngữ là chiếc “chìa khóa vạn năng” để con người mở cánh cửa bước
vào thế giới tự nhiên, xã hội và hiểu về chính bản thân mình. Chúng ta thử
hình dung nếu một ngày ngôn ngữ không còn nữa thì cũng là lúc con người
đánh mất đi những giá trị quan trọng mà nhân loại đã vất vả qua bao nhiêu thế
hệ mới tạo dựng nên. Chính vì thế mà ngôn ngữ luôn được xem là một thứ tài

Chân bùn tay lấm mà lòng anh say [1;85].
Trong Truyn Kiu, thành ngữ nói chung và thành ngữ chứa từ chỉ
BPCTN nói riêng đã giúp cho Nguyễn Du khắc họa rất thành công các nhân vật
từ ngoại hình đến tính cách. Sự xuất hiện sinh động của Từ Hải và Mã Giám
Sinh trong các trường hợp sau đây là những ví dụ tiêu biểu:
(3). Râu hùm hàm én mày ngài


 [56;160].
(4). Cho g
Mặt như chàm đổ gi [56;170].
Thành ngữ có vị trí quan trọng trong giao tiếp cũng như trong văn học.
Cho nên, nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu không chỉ của Ngôn ngữ học
mà còn của nhiều ngành khoa học khác như Văn học, Văn hóa học, Dân tộc
học, Nhân học Thành ng không ch là kho tàng quý giá trong ngôn ng dân
tc, không ch làm cho tii hiu

3
 , nhn thc, l  u v ca nhân dân.
[16;7]. Ở địa hạt của Ngôn ngữ học, thành ngữ đã được quan tâm tìm hiểu
trên các bình diện cấu trúc hình thức, cấu trúc ngữ nghĩa, ý nghĩa biểu trưng
cũng như sự vận dụng thành ngữ trong thơ ca, truyện ngắn, tiểu thuyết, …
Những nghiên cứu đó đã thu được nhiều kết quả quan trọng và làm rõ được
vai trò của thành ngữ trong đời sống sinh hoạt cũng như trong các sáng tác
văn chương.
Nhóm thành ngữ có chứa từ chỉ bộ phận cơ thể người (BPCTN) đã
được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, đó là những công trình
nghiên cứu trên các bình diện độc lập. Chúng tôi nhận thấy vẫn còn một
“khoảng trống” khi nghiên cứu về thành ngữ nói chung và nhóm thành ngữ
chứa từ chỉ BPCTN nói riêng dựa trên một cái nhìn tổng thể, đa chiều của lí

… Các tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Văn Tu (1962; 1981; 1986); Nguyễn
Kim Thản (1963); Nguyễn Văn Mệnh (1972; 1986); Cù Đình Tú (1973;
1982); Nguyễn Thiện Giáp (1975; 1985; 1996); Hồ Lê (1976); Hoàng Văn
Hành (1976); Trương Đông San (1976); [48; 4].
Nhiều khuynh hướng nghiên cứu thành ngữ đã xuất hiện. Những tác giả
có thiên hướng nghiên cứu thành ngữ ở phương diện nguồn gốc, sự phát triển
gắn với các bình diện văn hóa là: Bùi Khắc Việt (1988), Hoàng Văn Hành
(1980); Phan Xuân Thành (1980; 1993); Đỗ Hữu Châu (1981), Nguyễn Đức
Dân (1986); Nguyễn Như Ý (1992); Nguyễn Văn Khang (1994); …
Các tác giả như Trương Đông San (1976), Hoàng Văn Hành (1976) thì
đi sâu vào nghiên cứu một tiểu loại nhỏ của thành ngữ tiếng Việt là thành ngữ
so sánh; tác giả Nguyễn Văn Hằng với công trình   bn yu t
trong ting Vit hi đã góp một tiếng nói quan trọng vào việc nghiên

5
cứu thành ngữ đối, … Nghiên cứu về cấu trúc ngữ nghĩa và giá trị biểu trưng
có các tác giả như Phan Xuân Thành, Trịnh Cẩm Lan, …
Những năm gần đây, các bài viết trên tạp chí chuyên ngành, các luận
văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu về thành ngữ có một số lượng không
nhỏ. Đó là những nghiên cứa đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung và
có chiều sâu về văn hóa. Tuy vậy, một điểm chung dễ nhận thấy là nghiên cứu
thành ngữ trong sự phối hợp của các bình diện ngôn ngữ, nhất là bình diện
ngữ dụng học vẫn chưa được thực sự quan tâm.
2.2. Lịch sử nghiên cứu thành ngữ chứa từ chỉ BPCTN
Nhận thức là một nhu cầu thiết yếu và thường trực của con người. Từ xa
xưa, con người nhận thức về thế giới xung quanh đồng thời cũng nhận thức về
chính bản thân mình. Quan niệm “Dĩ nhân vi trung” (lấy con người là trung
tâm của vũ trụ) là một quan niệm khá phổ biến của các dân tộc trên thế giới. Vì
thế mà các BPCTN đã sớm được tri nhận một cách tỉ mỉ và sâu sắc. Điều này
đã hắt bóng vào trong ngôn ngữ nói chung và được biểu hiện trong một bộ

qua công trình a b ph i trong thành ng n
d ting Vi. Gần đây nhất có công trình   ch ngoi hình con
i xét trên lí thuyt ba bình din: ng pháp, ng  d của Trần
Thị Quế. Trong công trình này, tác giả cũng tập trung vào việc phân loại một
tiểu nhóm của thành ngữ chỉ BPCTN là thành ngữ chỉ ngoại hình con người để
bước đầu đi đến những kết luận về mối quan hệ của ngôn ngữ và văn hóa Việt.
Kế thừa thành tựu trong những công trình nghiên cứu của các tác giả đi
trước, chúng tôi mong muốn dưới góc nhìn về lí thuyết ba bình diện của ngôn
ngữ là ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng sẽ có một cái nhìn khái quát, tổng hợp
hơn về nhóm thành ngữ có chứa từ chỉ BPCTN. Đồng thời phân loại và miêu
tả nhóm thành ngữ này thành các tiểu loại như thành ngữ chứa từ chỉ bộ phận

7
bên ngoài cơ thể, thành ngữ chứa từ chỉ bộ phận bên trong cơ thể. Chỉ ra được
mối liên hệ giữa phần bên trong và phần bên ngoài của cơ thể. Qua đó lí giải
những đặc trưng trong cách tư duy, trong bề sâu văn hóa được biểu hiện thông
qua các thành ngữ được khảo sát.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Thành ngữ tiếng Việt có số lượng lớn lên đến mấy nghìn đơn vị. Không
những thế nó còn đa dạng về đề tài và chủ đề. Đứng trước kho tàng thành ngữ
rộng lớn, chúng tôi xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là
nhóm thành ngữ có chứa từ chỉ BPCTN. Cơ sở lí thuyết để phục vụ cho việc
nghiên cứu là lí thuyết về ba bình diện của ngôn ngữ (ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ
dụng) và lí thuyết về thành ngữ tiếng Việt.
Tư liệu chính phục vụ cho việc nghiên cứu là các thành ngữ chứa từ chỉ
BPCTN được thống kê trong cuốn Thành ng ting Vit, Nguyễn Lực, Lương
Văn Đang, Nxb, Khoa học xã hội, 2009.
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo từ các cuốn sách khác như:
T n thành ng hc sinh, Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan
Xuân Thành, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009.

chiếu chúng với nhau để có những nhận xét.
5.3. Phƣơng pháp miêu tả
Chúng tôi tiến hành miêu tả các trường hợp điển hình về vị trí, cách kết hợp,
chức năng ngữ pháp của các thành ngữ trong phạm vi nghiên cứu của luận văn.
5.4. Phƣơng pháp phân tích dựa vào thành ngữ
Dựa vào kết quả thống kê, so sánh, đối chiếu, chúng tôi đi vào phân
tích các đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Từ đó làm cơ sở để rút ra
những kết luận cho nhóm thành ngữ có chứa từ chỉ BPCTN. 9
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, thư mục tài liệu tham khảo, phần
phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chƣơng 1. Cơ sở lí thuyết
Chƣơng 2. Thành ngữ tiếng Việt chứa từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời
trên bình diện ngữ pháp
Chƣơng 3. Thành ngữ tiếng Việt chứa từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời
trên bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng 10
B. PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1

1.1.1. Bình diện ngữ pháp
Trong tín hiệu học có bình diện kt hc (syntax). Bình diện này có thể
xem là tương đương với bình diện ngữ pháp của ngôn ngữ học. Đỗ Hữu Châu
cho rằng: Kết học là c ca các quy tc hình thc kt hp tín hiu
thành mt thôp. Nói vn tt kt hc nghiên cu mi quan h
gia tín hiu vi tín hiu trong thôp. [3;3].
Tên gọi ng pháp được dịch từ thuật ngữ “grammar” (tiếng Anh) và
“gramaire” (tiếng Pháp), nó có 2 nghĩa là: (1) ngữ pháp là một bộ phận của
cấu trúc ngôn ngữ, đơn vị của nó khác với đơn vị của từ vựng và ngữ âm; (2)
ngữ pháp là một ngành của ngôn ngữ học nghiên cứu sự hoạt động hành chức
theo những quy tắc nhất định để biến các đơn vị ngôn ngữ thành các đơn vị
giao tiếp.
Việc nghiên cứu bình diện ngữ pháp của một ngôn ngữ lại bao gồm
nhiều phân ngành khác nhau. Ngữ pháp tiếng Việt được chia thành từ pháp
học và cú pháp học.
* Từ pháp học: đối tượng nghiên cứu là các từ, với mục đích xác định
các quy tắc cấu tạo từ, quy tắc biến đổi từ, đặc điểm ngữ pháp của các từ loại.
* Cú pháp học: nghiên cứu quy tắc cấu tạo cụm từ và câu (kết hợp các
từ thành cụm từ, kết hợp các từ, cụm từ thành câu, tổ chức các thành phần câu
và các kiểu câu). Như vậy, có thể cú pháp học lại được chia thành cú pháp
cụm từ và cú pháp câu. Cú pháp cụm từ nghiên cứu cấu tạo của các loại cụm
từ. Trong đó quan tâm đến phần trung tâm, các phần phụ trước và phụ sau của
cụm từ. Cú pháp câu ngoài việc nghiên cứu cấu tạo của các kiểu câu trong
tiếng Việt còn tìm hiểu về chức năng của các thành phần câu trong hoạt động
hành chức.

12
Ngữ pháp của ngôn ngữ có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác
như với ngữ âm, từ vựng, cú pháp, Bình diện ngữ pháp có quan hệ mật thiết
với bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng. Trong luận văn này, chúng tôi đã vận

vào ngôn ngữ. Sự vật tồn tại trong thế giới ở những dạng khác nhau, trong đó
dạng cơ bản là vật chất. Trong khi đó ý nghĩa miêu tả của từ thuộc phạm trù
tinh thần của ngôn ngữ. Sự chia cắt thế giới thành các “mẩu - sự vật” ứng với
nghĩa của từ ở các dân tộc khác nhau là khác nhau.
Ví dụ: Cái máy git này rt tin li.
Nhờ vào ý nghĩa miêu tả của cụm từ cái máy git, khi đi vào sử dụng,
trong cụm từ cái máy git này, từ máy git cùng với các từ khác quy chiếu
vào một cái máy giặt cụ thể trong thế giới bên ngoài. Nghĩa sự vật cụ thể của
từ trong hoạt động cụ thể là nghĩa chiếu vật.
Nghĩa tình thái: là phần nghĩa thể hiện mục đích, thái độ, quan hệ, đánh
giá của người nói đối với người nghe hoặc hiện thực được phản ánh.
Ví dụ:
(5). hi sinh trong cuc tng tin công và ni dy tt Mu
Thân 1968 [53].
Cùng là nói về việc mất khả năng sống hoặc không còn biểu hiện của
sự sống, chúng ta có các từ như  trn, viên tch, hi sinh, cht, b
mng, ngm, Những từ này gợi ra các sắc thái ý nghĩa khác nhau có thể là
trân trọng, có thể là khinh thường và đôi khi là mang sắc thái trung tính. Ở ví
dụ trên, từ hi sinh được dùng với sắc thái trang trọng.
Nghĩa biểu trưng: là toàn bộ những ý nghĩa, khái niệm được khái quát
từ hình ảnh, sự vật, sự việc cụ thể được miêu tả được nhắc tới [48;30].

14
Ví dụ: thành ngữ  không phải để miêu tả một
đối tượng với bộ phận cụ thể mà câu thành ngữ đề cập đến một đặc điểm
m li, nói tranh, nói át c . Đặc điểm được nói đến này là ý
nghĩa biểu trưng của thành ngữ trên [16; 411].
Kiến thức lí thuyết về bình diện ngữ nghĩa được chúng tôi áp dụng để
tìm hiểu về ý nghĩa miêu tả và ý nghĩa biểu trưng của các thành ngữ chứa từ
chỉ BPCTN.

ngữ dụng học là rất rộng lớn. Ở đây, chúng tôi chỉ tập trung vào một số vấn
đề cơ bản của ngữ dụng học có liên quan đến nhóm thành ngữ có từ chỉ
BPCTN như: lí thuyết lập luận; lí thuyết hội thoại (tín hiệu phi lời trong giao
tiếp); vấn đề lịch sự, ý nghĩa hàm ẩn.
* Lập luận (argrumentation) là thuật ngữ dùng trong tu từ học và logic
học. Hai nhà ngôn ngữ học người Pháp là O. Ducrot và J. C. Anscombre đã
đưa khái niệm lập luận vào nghiên cứu trong dụng học của ngôn ngữ học.
Trong giao tiếp thông thường, ít khi chúng ta miêu tả chỉ thuần túy là
để miêu tả mà bao giờ cũng nhằm hướng người nghe tới một điều gì đó nằm
ngoài sự vật, hiện tượng, sự kiện được miêu tả. Nội dung mà người nói hướng
người nghe tới rất đa dạng. Đó có thể là một thái độ, một tình cảm, một sự
đánh giá, một nhận định hay một hành động nào đó cần phải thực hiện. Nói
cách khác cái mà thông tin miêu tả hướng tới là một kết luận nào đó rút ra từ
thông tin miêu tả đó.
Lp lung lí l nhm dn dn mt kt
lun hay chp nhn mt kt lui nói mut ti [3; 155].
Mô hình của một lập luận đầy đủ là: p – r (trong đó p là lí lẽ, r là kết
luận. p,r có thể được diễn đạt bằng các diễn ngôn U
1
, U
2
…). Ví dụ:

16
(6).  t v (r), chân lấm tay bùn (p)i bát m
hôi l (q) [16;135].
Cơ sở của một lập luận là l ng (topos). Lẽ thường là những chân lí
thông thường có tính kinh nghiệm, không có tính tất yếu, bắt buộc như các
tiền đề logic. Lẽ thường được chia thành lẽ thường phổ quát mang tính chung
cho toàn thế giới và lẽ thường riêng cho một quốc gia thậm chí riêng cho một

của tính cách (trông mt mà bt hình dong) của người đối thoại. Sự thay đổi
của nét mặt, cử chỉ, điệu bộ khi giao tiếp cũng bộc lộ những đặc điểm tâm lí
của các nhân vật tham gia giao tiếp và hiển nhiên là có tác động đến nội dung
giao tiếp. Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “nhng tín hiu phi li tuy là th
yu t quan trng, thiu chúng, cuc trò chuyn s t nht, thm chí
phi chm dt [3;222].
* Lí thuyết lịch sự (politesse): Nguyên tắc cộng tác trong hội thoại của
Grice đã giải quyết được vấn đề “tìm kiếm hiệu quả tối ưu của sự trao đổi
thông tin”. Tuy nhiên chính bản thân ông cũng cảm thấy không thỏa mãn với
điều đó. Grice có phát biểu trong i tho rằng: chắc chắn còn
những quy tắc khác (thẩm mĩ, xã hội, đạo đức) kiểu như quy tắc “hãy lịch sự”
mà người tham gia hội thoại đều tuân thủ và chúng có thể làm xuất hiện
những hàm ngôn phi quy ước. Vậy là, trong hội thoại, ngoài quan hệ trao đổi
thông tin còn có quan hệ liên cá nhân. Các quy tắc lịch sự sẽ đề cập đến
phương diện liên cá nhân của hội thoại.
R. Lakoff cho rằng lịch sự là tôn trọng nhau. Nó là một biện pháp dùng
để làm giảm bớt trở ngại trong tương tác giao tiếp giữa các cá nhân. Do vậy,
cần phải thực hiện các quy tắc: quy tắc lịch sự quy thức (formal politeness);

18
quy tắc lịch sự phi quy thức (informal Politeness); quy tắc về phép lịch sự bạn
bè hay thân tình.
Leech quan niệm lịch sự là sự bù đắp những hao tổn, thiệt thòi do hành
động nói năng của người nói gây ra cho người đối thoại. Lí thuyết lịch sự của
Leech dựa trên khái niệm lợi (benefit) và thiệt (cost) gây ra cho người nói và
người nghe và nội dung đó nằm ở quy tắc: Ti thiu hoá nhng li nói bt
lch s ng li nói lch s.
Lấy cơ sở là khái niệm thể diện (face), Brow và Levinson đã xây dựng
nên lí thuyết lịch sự. Các tác giả cho rằng: lịch sự thông qua thể diện là hình
ảnh về ta trước cộng đồng mà mỗi thành viên muốn mình có được. Brown và

hơn. Còn trong trường hợp là một chàng trai tới chơi ở phòng một cô gái
trong kí túc xá thì câu nói  t ngt quá! lại là lời gợi ý đầy tế nhị
và kín đáo của chàng trai hay cô gái nên đi đâu đó ra bên ngoài để có một chỗ
tâm sự riêng tư hơn.
Từ những vấn đề đã trình bày trên, có thể thấy rằng, ngữ dụng học ra
đời đã mở ra những chân trời mới cho nghiên cứu ngôn ngữ. Chân trời càng
xa, càng rộng thì càng chứng tỏ được tính chất kì diệu và vai trò quan trọng
của ngôn ngữ trong đời sống của chúng ta. Quả thật, với sự ra đời của ngữ
dụng học, ngôn ngữ học đã c ra khi cái tháp ngà ca cu trúc lun ni
ti do F. De. Saussure khng [3;12] để đi vào mọi ngõ ngách của đời
sống con người.
Chúng tôi đã vận dụng những vấn đề lí thuyết của ngữ dụng học để tìm
hiểu về yếu tố phi lời trong giao tiếp và biểu hiện của lịch sự trong giao tiếp
được biểu hiện thông qua các thành ngữ chứa từ chỉ BPCTN. Bên cạnh đó,
chúng tôi cũng quan tâm tìm hiểu về vai trò của các thành ngữ này trong việc
tham gia vào lập luận.

Trích đoạn Khái niệm thành ngữ Vấn đề lịch sự trong giao tiếp th hiện qua thành ngữ chứa từ chỉ Nét văn hóa của đời sống nông nghiệp đặc thù Nét văn hóa trong lời ăn tiếng nói Nét văn hóa trong tính cch con người Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status