Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người trong truyện kiều - Pdf 32

Bộ
dục

đào
Bộ Giáo
Giáo
dục

đào tạo
tạo
Đại
học
Vinh
Đại
học
Vinh
-----***---------***----Hoa Quỳnh giang

Hoa Quỳnh giang

Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời
trong truyện Kiều
Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời
trong truyện Kiều
Chuyên ngành: lý luận ngôn ngữ
Mã số: 60. 22. 01

Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Ngời hớng dẫn khoa học:
TS. Trần Văn Minh

II. mục đích nhiệm vụ và đối tợng
III. lịch sử vấn đề
IV. phơng pháp nghiên cứu
V. Đóng góp của đề tài
VI. Cấu trúc của luận văn
Chơng 1 - một số giới thuyết chung
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp văn chơng của Nguyễn Du

2

Trang
1
2
3
7
8
8
9
9


1.1.1. Về cuộc đời và con ngời Nguyễn Du
1.1.2. Sự nghiệp văn chơng
1.2. Các khái niệm từ vựng - ngữ nghĩa học liên quan đến đề tài
1.2.1. Trờng nghĩa
1.2.2. Từ nhiều nghĩa
1.2.3. Các loại nghĩa của từ
1.2.4. Phơng thức chuyển nghĩa
1.2.5. Các lớp từ tiếng Việt
Chơng 2 - diện mạo nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời

38
40
43
45

trong Truyện Kiều

3.1.

Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời
trong Truyện Kiều
3.1.1.Thống kê và phân loại số lợng nghĩa của từ chỉ bộ phận
cơ thể trong Truyện Kiều
3.1.2. Tần số xuất hiện nghĩa của từ chỉ bộ phận cơ thể trong
Truyện Kiều
3.1.3. Nhận xét chung
3.2. Phong cách ngôn ngữ và những đóng góp của Nguyễn Du
vào sự giàu đẹp của vốn từ tiếng Việt
3.2.1. Phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Du qua cách dùng
nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời
3.2.2. Những đóng góp của Nguyễn Du với việc phát triển

3

45
45
51
53
56
56

mở nhiều điều thú vị và ý nghĩa, cho thấy rõ những đóng góp của Nguyễn Du
trong việc phát triển vốn từ tiếng Việt cũng nh trong việc làm đẹp thêm vốn từ.
Bên cạnh đó, thực tế dạy - học tác phẩm Truyện Kiều ở trờng phổ
thông còn cần những t liệu cụ thể về ngôn ngữ Truyện Kiều, nhất là ở mặt ngữ
nghĩa của từ. Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp cho việc dạy và học tác
phẩm Truyện Kiều đợc tốt hơn.

4


II. mục đích, nhiệm vụ và đối tợng
1. Mục đích
Đề tài Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều của luận
văn này hớng tới những mục đích sau:
1.1. Trớc hết, đề tài góp phần tìm hiểu sâu thêm Truyện Kiều và đóng
góp của tác giả Nguyễn Du về phơng diện ngôn ngữ qua việc khảo sát nhóm
từ chỉ bộ phận cơ thể đợc dùng trong tác phẩm.
1.2. Cung cấp một bức tranh đầy đủ và có hệ thống về diện mạo của
nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể đợc dùng trong Truyện Kiều (qua các bảng biểu
thống kê và phân loại một cách chi tiết trên những phơng diện khác nhau: số lợng, tần số xuất hiện, cơ cấu nghĩa, phơng thức hoạt động, vai trò, chức năng
và tác dụng nghệ thuật).
1.3. Nêu ra cái nhìn toàn diện, chính xác và đúng đắn hơn về ngữ
nghĩa của từ và khả năng sáng tạo của Nguyễn Du trong việc sử dụng từ ngữ.
1.4. Thực hiện cách tiếp cận tác phẩm văn học từ phơng diện ngôn
ngữ. Kết quả thu đợc của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo giúp ngời đọc, ngời
học nhìn nhận đợc chiều sâu của tác phẩm cả từ sự kế tục lẫn sự sáng tạo của
nhà thơ, cũng nh hiểu tác phẩm một cách đầy đủ, sâu sắc với nhiều cung bậc
khác nhau.
2. Nhiệm vụ
Từ những mục đích trên, đề tài đặt ra hai nhiệm vụ cơ bản sau:

1. Tình hình nghiên cứu Truyện Kiều nói chung
Truyện Kiều là một tác phẩm văn học có vai trò và vị trí vô cùng quan
trọng trong nền văn học nớc nhà cũng nh đối với lịch sử phát triển ngôn ngữ
dân tộc. Đúng nh khẳng định của tác giả Trần Đình Sử Chúng ta may mắn có
đợc Truyện Kiều, nhờ đó mà văn hoá Việt Nam thêm rạng rỡ, vẻ đẹp của tiếng
Việt đợc tôn xng, tài năng của ngời Việt đợc khẳng định. Giá trị của Truyện
Kiều trớc hết là một giá trị sáng tạo văn hoá, văn chơng tuyệt đỉnh [17, 5].
Bởi vậy, cho đến nay đã có rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về
Truyện Kiều trên đủ mọi mức độ rộng - hẹp, lớn - nhỏ khác nhau. Trong đó có
nhiều công trình lớn, nghiên cứu công phu và đã đánh giá đúng đợc tầm cỡ
của tác phẩm.
Đầu tiên chúng ta không thể không nhắc đến một công trình đã để lại
dấu ấn sâu đậm trong lòng ngời đọc cũng nh trong giới nghiên cứu, đó là cuốn
Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của GS. Phan Ngọc
(công trình đợc viết xong năm 1965, năm 1985 mới xuất bản, năm 2003 đã đợc tái bản có bổ sung - Nxb Thanh niên). Đây là một công trình xuất sắc đã
khái quát đợc toàn bộ phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, cho thấy
những cống hiến nghệ thuật của riêng thi hào Nguyễn Du (trớc đó cha ai làm
đợc và sau này cũng khó có ai làm đợc). ở cuối công trình, tác giả viết: Tôi
cố gắng xét vấn đề ở mặt phổ quát. Tôi nghiên cứu Truyện Kiều không phải vì
Truyện Kiều, mà có thể nói, mợn Truyện Kiều để nhìn văn học Việt Nam và
thế giới, trả lời những câu hỏi mang tính phổ quát: là một tác phẩm văn học
bất tử phải đạt đợc những gì, [13, 404].

6


Cũng nghiên cứu về phong cách Nguyễn Du, chuyên luận Thi pháp
Truyện Kiều của tác giả Trần Đình Sử (Nxb Giáo dục - 2002) đã đi vào tìm
hiểu, nghiên cứu nhiều phơng diện khác nhau của Truyện Kiều nh con ngời,
không gian, thời gian, hình tợng tác giả, độc thoại nội tâm, cấu trúc tự sự,

7


Về ngôn ngữ Truyện Kiều, từ lâu đã có nhiều tác giả chú tâm nghiên
cứu với nhiều công trình xuất sắc, có giá trị lớn, nhng riêng về các lớp từ,
nhóm từ trong Truyện Kiều thì cha nhiều.
Một số trờng từ vựng trong Truyện Kiều đã đợc nghiên cứu nh: trờng
từ ngữ chỉ thiên nhiên, trờng từ ngữ chỉ đặc điểm tâm lý con ngời,Trong số
các bài viết đó, đáng chú ý nhất là bài viết của tác giả Hoàng Văn Hành Từ
nhiều nghĩa trong Truyện Kiều - một biểu hiện phong phú về vốn từ vựng của
Nguyễn Du (in trên Tạp chí Văn học - 1966, số1, tr.76) đã đề cập đến khả
năng vận dụng linh hoạt lớp từ đa nghĩa của Nguyễn Du trong tác phẩm
Truyện Kiều, khẳng định sự phong phú về vốn từ vựng cũng nh khả năng lựa
chọn tài tình của Nguyễn Du.
Ngoài ra, theo hớng này còn có một số luận văn Thạc sĩ Ngữ văn đã
bảo vệ tại trờng Đại học Vinh, nh: Từ đa nghĩa trong Truyện Kiều- (Phan
Hữu Quyền - 1998), Các đơn vị trái nghĩa trong Truyện Kiều (Lê Thị Thoa 1999), Vốn từ đồng nghĩa trong Truyện Kiều (Hoàng Thị Hinh - 1999), Từ
loại phụ từ trong Truyện Kiều (Nguyễn Văn Dũng - 2004),
3. Tình hình khảo sát về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể trong vốn từ tiếng
Việt
Đến nay, nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong tiếng Việt đã có
những tác giả đề cập đến, nh: bài viết của Bùi Khắc Việt Về nhóm từ chỉ bộ
phận cơ thể ngời trong tiếng Việt (in trong Những vấn đề ngôn ngữ học về
các ngôn ngữ phơng Đông, H, Viện ngôn ngữ học, 1986, tr.10-13), Cơ chế
chuyển nghĩa theo phơng thức ẩn dụ của từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong
tiếng Việt của Phan Thị Hồng Xuân (đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ, số 5
1999). Trong bài viết của mình, Phan Thị Hồng Xuân đã vận dụng quan điểm
về từ cơ sở để lựa chọn một số từ tiêu biểu cho trờng từ vựng đang xét và tìm
ra cơ chế chuyển nghĩa của từng từ, từ đó rút ra kết luận về cơ chế chuyển
nghĩa theo phơng thức ẩn dụ của cả trờng. Tác giả đã chỉ ra rằng rất nhiều từ

định, nghĩa chuyển, nghĩa văn chơng),
Tiếp theo là thống kê, phân loại số lợng nghĩa, tần số xuất hiện của
từng từ và nghĩa của chúng.
2. So sánh - đối chiếu
Chúng tôi so sánh đối chiếu nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong
Truyện Kiều ở một vài khía cạnh (số lợng, ngữ nghĩa, cách sử dụng) với nhóm
từ này trong tiếng Việt, với nguyên tác và với một số tác phẩm cùng thời. Dựa
trên cơ sở so sánh đối chiếu đó, chúng tôi tìm ra nét riêng, nét sáng tạo độc
đáo cũng nh cách sử dụng linh hoạt của tác giả đối với nhóm từ chỉ bộ phận cơ
thể ngời trong Truyện Kiều.
3. Phân tích - miêu tả
Luận văn đi sâu phân tích - miêu tả ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ bộ
phận cơ thể trong Truyện Kiều (đặc biệt là biểu hiện và giá trị nghệ thuật của
một số từ chỉ bộ phận cơ thể ngời tiêu biểu đợc Nguyễn Du sử dụng trong
Truyện Kiều ) để thấy đợc tài năng cũng nh những đóng góp của thi hào
Nguyễn Du đối với sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc, của tiếng Việt.

9


4. Quy nạp - tổng hợp
Cuối cùng từ những kết quả phân tích trên cùng số liệu thu thập đợc
tiến hành nhận xét, đánh giá, tổng hợp và kết luận. Thông qua đó có đợc cái
nhìn bao quát hơn, trọn vẹn hơn về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời nói riêng
và ngôn ngữ - tác phẩm Truyện Kiều nói chung.
V. đóng góp của đề tài
1. Đề tài góp phần tìm hiểu sâu một nhóm từ Nguyễn Du đã sử dụng
trong Truyện Kiều, mà cụ thể ở đây là nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời, nhất
là về nghĩa của từ (dùng với nghĩa bóng, nghĩa riêng, nghĩa mới).
2. Từ đó thấy đợc công lao của Nguyễn Du trong việc phát triển vốn từ

làm quan ở Triều Lê.
Nguyễn Du ngay từ khi còn nhỏ đã thiên t thông minh, lại ham xem
sách nên sách Nho, sách Phật, Lão lẫn Binh th đều biết đến. Nguyễn Du bắt
đầu học từ năm 6 tuổi. Đến năm ông 11 tuổi thì nhà có biến lớn. Năm 1776,
Nguyễn Nghiễm cùng Hoàng Ngũ Phúc đem quân đánh chúa Nguyễn, nửa
chừng bị bệnh trở về rồi mất. Năm 1778, mẹ Nguyễn Du cũng nối tiếp qua
đời. Các anh Nguyễn Du làm quan cũng mấy năm thăng giáng bất thờng. Có
thể nói, cùng với sự sụp đổ của chế độ Lê - Trịnh, gia đình họ Nguyễn cũng
dần dần suy sụp. Nguyễn Du đã từng trải qua những biến cố lớn lao của thời
đại và của gia đình mình.
Năm 1784, Nguyễn Du đỗ Tam trờng thi Hơng. Vốn là ngời học rộng,
nhớ nhiều, Nho, Phật, Đạo đều thông hiểu, uyên thâm nhng vì không đỗ đạt
cao, ông chỉ tập ấm ngời bố nuôi họ Hà mà giữ chức chính thủ hiệu đội quân
Hùng hậu hiệu tỉnh Bắc Thái, sau khi ông này qua đời. Khi vua Chiêu Thống
chạy sang Tàu, nghe tin ông định theo ngự giá nhng không kịp, bèn về quê vợ
ở làng Hải An, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Sơn Nam (nay là tỉnh Thái Bình). Ông
cùng với anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn mu phục nhà Lê song thất bại, phải lu
lạc lâu năm ở đất Bắc.
Thấy sức mình mong manh không làm nổi việc phục quốc, ông toan
kiếm đờng vào Gia Định giúp chúa Nguyễn ánh nhng việc bị lộ, Nguyễn Du
bị bắt. Ông bị giam ở Nghệ Tĩnh ba tháng rồi đợc tha. Từ đó ông về quê sống
cuộc đời ẩn dật tự xng là phờng săn núi Hồng, dân chài bể Nam (Hồng sơn
liệp hộ, Nam hải điếu đồ), sống một cuộc sống đầy thiếu thốn và gian khổ.
Trong lòng ông luôn mang một tâm trạng buồn rầu, buồn vì cảnh thân không
nhà, ốm không thuốc, rét không áo, gia đình thì ly tán, chí hớng thì không đạt,
văn võ đều không có chỗ dùng và đặc biệt là buồn trớc cảnh diệt vong của Lê
- Trịnh. Tuy nhiên, đây cũng là những năm tháng Nguyễn Du gần gũi và thấm
thía về cuộc sống của nhân dân mình. Sự gần gũi ấy đã giúp Nguyễn Du có đợc sự hiểu biết sâu sắc, có cái nhìn đúng đắn về lòng ngời và cuộc đời.
Khi nhà Lê mất, nhà Nguyễn lên, tuy Nguyễn Du không phải không
có những nỗi niềm nhớ cổ thơng kim nhng ông không hoàn toàn rút lui khỏi

khi lu lạc đất Bắc, khi gửi thân chốn quê nhà, giữa chốn quan trờng thì
không sao sống đợc với lũ ngời ô hợp, luôn tranh giành o ép lại mang trong
mình nỗi hoài Lê, nỗi băn khoăn về sự trung trinh của mình. Nhng đối với
dân, ông đợc tiếng là chính sự giản dị, sĩ dân yêu mến.
Ông là ngời có năng khiếu, tài hoa, là một tâm hồn phong phú, đa dạng và
cũng rất phong tình. Ông là ngời có cái nhìn sắc cạnh đối với hiện thực
cuộc đời, có cái thông cảm tinh nhanh và sâu xa đối với những con ngời bị
áp bức, lầm than (nhất là những kẻ hèn yếu trong xã hội là em bé và phụ

12


nữ), về nỗi thống khổ cũng nh niềm mơ ớc cao nhất của họ. Đồng thời, ông
còn là một ngời hiểu biết tinh tờng về vốn văn nghệ dân gian, về ngôn ngữ
của nhân dân. Điều này đợc thể hiện sâu sắc trong toàn bộ hệ thống tác
phẩm của Nguyễn Du và nhất là trong tác phẩm lớn nhất của ông: Đoạn trờng tân thanh (Truyện Kiều).
1.1.2. Sự nghiệp văn chơng
Sinh thời Nguyễn Du từng băn khoăn trăn trở rằng: Bất tri tam bách d
niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Nh? (Chẳng biết ba trăm năm về sau,
Trong thiên hạ có ai khóc Tố Nh không?). Nhng chẳng phải đợi đến ba
trăm năm mà ngay từ khi ông mất, đến nay đã có bao thế hệ đồng cảm
cùng Nguyễn Du, kính phục và trân trọng những gì Nguyễn Du để lại cho
đời. Đó không chỉ là những áng văn chơng tuyệt đỉnh mà trớc hết là tấm
lòng, là trái tim lớn khát khao, mơ ớc về một cuộc sống công bằng, tự do,
hạnh phúc cho nhân dân, đặc biệt là cho trẻ em và phụ nữ dới chế độ phong
kiến.
Hiện nay, việc su tầm tác phẩm của Nguyễn Du còn có những hạn
chế nhất định. Song dựa trên những thi liệu đã su tập đợc, ta có thể thấy rõ
sáng tác của Nguyễn Du gồm hai phần:
Các sáng tác bằng chữ Hán: (khoảng 130 bài thơ) có các tập:

nhục, cơ cực. Nhng mời lăm năm ấy cũng là mời lăm năm chứng minh cho vẻ
đẹp phẩm chất, sức vơn lên mạnh mẽ của một con ngời tài hoa. Có thể nói
Nguyễn Du dờng nh sáng tác nên tác phẩm bằng nỗi đau của chính mình khi
chứng kiến hiện thực cuộc sống với Những điều trông thấy mà đau đớn
lòng. Những điều trông thấy trong cuộc đời, trong thời đại ấy đã đợc biểu
hiện một cách sâu sắc trong Truyện Kiều để làm nên giá trị rất cao cho tác
phẩm. Đồng thời hiện thực ấy cũng đợc thể hiện trong tác phẩm bằng một
nghệ thuật cao siêu. Điều đặc biệt của Truyện Kiều là ở chỗ: đây là một tác
phẩm truyện thơ vừa có tính tự sự vừa có tính trữ tình.
a. Chủ đề và t tởng:
Có thể xem t tởng là một hình tợng trong tác phẩm. Nó đợc thể hiện
qua các quan niệm của tác giả.
Quan niệm đầu tiên của tác giả ở Truyện Kiều là quan niệm về Tài Sắc và Mệnh. Phan Ngọc từng nhận xét Câu chuyện tài mệnh tơng đố đặt ra
ở thời Nguyễn Du với ba đặc điểm là phổ biến, lộ liễu và gay gắt nhng không
ở đâu câu chuyện này lại phổ biến, lộ liễu và gay gắt bằng Truyện Kiều. Đã
thế, trên cái phong cách chung này của thời đại, ông còn biết áp dụng những
thao tác kỹ thuật rất công phu mà ta cần phải tiếp thu và học tập để biến câu
chuyện nhất thời thành câu chuyện muôn đời. Và cống hiến về mặt phong

14


cách chính là đây [13, 76]. Tài - Sắc là hai trong những phẩm chất cao nhất
của con ngời. Còn Mệnh là số phận con ngời đợc quyết định bởi khách quan
(thiên mệnh). Nguyễn Du đa vào tác phẩm với quan niệm Tài mệnh tơng đố.
Ngay từ những câu mở đầu nhà thơ đã viết:
Trăm năm trong cõi ngời ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng


Nói tóm lại, t tởng chủ đạo trong Truyện Kiều là tâm. Và đồng hành với
tác phẩm luôn có mặt hai con ngời: một nhà nho, nhà t tởng Nguyễn Du và
một nghệ sỹ Nguyễn Du thiên tài. Cái hơn ngời của Nguyễn Du là ở chỗ ông
đã xây dựng nên những hình tợng điển hình trong Truyện Kiều.
Nội dung chủ đề lớn nhất của Truyện Kiều là quyền sống và quyền
hạnh phúc của con ngời. Nguyễn Du đặt vấn đề quyền sống của con ngời (con
ngời nói chung, không riêng gì phụ nữ) là giá trị rất rộng trong Truyện Kiều.
Nguyễn Du đã nêu quyền sống con ngời, đã bênh vực cho con ngời bất hạnh,
Nguyễn Du đã đòi bảo vệ quyền sống cho con ngời, Nguyễn Du cũng đã vô
cùng đau đớn khi con ngời bị tớc đi quyền sống của mình.Đau đớn thay
phận đàn bà là tiếng kêu từ đáy lòng ngời, là tiếng kêu có tầm nhân loại. Nhà
thơ đã căm phẫn và mạnh mẽ vạch tội những thế lực đày đọa con ngời. Chúng
ta biết rằng thời đại Nguyễn Du (thế kỷ thứ XVIII - XIX) con ngời không đòi
hỏi, không có cá nhân (trong gia đình sống theo ngời cha), không có sự riêng
t (tình yêu), tuổi trẻ không đợc đòi hỏi. Dới chế độ phong kiến thối nát, trớc sự
tan rã của tập đoàn phong kiến, trật tự phong kiến Lê - Trịnh, con ngời bị đày
đọa tột độ. Nhng già néo thì đứt dây. Con ngời bắt đầu đấu tranh và cá nhân
con ngời xuất hiện đòi quyền sống, đòi hạnh phúc. Theo đó, tài năng cũng đòi
bộc lộ nh một nhu cầu tất yếu với một Nguyễn Du bản lĩnh, một Hồ Xuân Hơng sắc sảo, một Nguyễn Công Trứ ngông nghênh Trong Truyện Kiều, Thuý
Kiều dám vợt ra khỏi ý thức hệ giai cấp tự tìm đến với tình yêu, thề nguyền
với Kim Trọng, dám sống với tình yêu mà mình đã lựa chọn.
Tình yêu luôn là chủ đề đợc nhiều tác giả đề cập đến. Chủ đề tình yêu
của Nguyễn Du là tự do. Xã hội không có tình yêu nhng trong tác phẩm lại có.
Chính điều này đã làm nên tiếng vang cho Truyện Kiều bởi vì nó đã vợt ra
khỏi thời đại, trở thành một bớc tiến, một cuộc cách mạng trong quan niệm
tình yêu, hôn nhân, nhất là với ngời phụ nữ. Đến 100 năm sau Nguyễn Đình
Chiểu nói đến tình yêu nhng lại không hề có tự do (Truyện Lục Vân Tiên). Và
cho tới mãi 1930 (sau 150 năm) ngời ta mới nói đến thứ tình yêu này (qua tiểu
thuyết Tự lực văn đoàn).

diện đều đợc miêu tả rất đặc biệt. Hơn thế nữa lại là Sắc đòi một - nhan sắc
tột đỉnh mà con ngời có thể có. Mong ớc của Nguyễn Du đòi hỏi con ngời
phải đẹp. Và tài hoạ hai - cũng là tột đỉnh của cái tài, đa tài: cầm, kỳ, thi,
hoạ. Đây là cái tài trong xã hội phong kiến của ngời phụ nữ, cái tài mang tính
lịch sử - xã hội nhất định. Thuý Kiều tài nào cũng xuất chúng nên đã chinh
phục đợc tất cả: khiến cho Hồ Tôn Hiến Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình,
làm Hoạn Th vì phục Kiều có tài mà tha - cái tài làm cho tình địch phải kính
nể, còn Kim Trọng, Từ Hải thì thán phục nàng hết mực.
Dĩ nhiên, không phải ngẫu nhiên Nguyễn Du miêu tả Thúy Kiều nh
thế. Lịch sử thế kỷ XVIII không cho phép nói cái tài cá nhân của mình nhng
Nguyễn Du đã xng tài riêng của mình và khẳng định nó. Vào thế kỷ XV, chỉ
có Nguyễn Trãi nh vậy (trong bài: Tùng) nhng thể hiện cha rõ. Sang thế kỷ

17


XVIII có Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Du Do vậy Nguyễn
Du mới mô tả Thuý Kiều có tài sắc tuyệt đỉnh.
Nhà thơ đề cao cái tài bao nhiêu thì quan tâm đến cái tình của Kiều
bấy nhiêu. Nguyễn Du đã xây dựng một tình yêu rất thắm thiết, thuỷ chung,
cao thợng và đẹp. Trong tác phẩm, về mặt chung thuỷ ta xét đến tình yêu Kim
- Kiều, là tình yêu đích thực của con ngời. Tuy nhiên chữ hiếu vẫn quý hơn,
lớn hơn cả tình yêu: Làm con trớc phải đền ơn sinh thành, hay Bên tình
bên hiếu bên nào nặng hơn. Kiều đã bán mình và quyết định rất nhanh. Và
hiếu tâm đã động đến trời. Cuối cùng Kiều đã không chết ở sông Tiền Đờng. Mặt khác, Kiều còn là một con ngời rất Việt Nam, hiện thân cho tâm hồn
Việt Nam, phụ nữ Việt Nam: quên mình mà nghĩ đến ngời khác. Ngay trong
màn báo ân báo oán, Kiều với lòng vị tha của mình đã tha bổng Hoạn Th:
Ghen tuông thì cũng ngời ta thờng tình. Những ngời Kiều mang ơn đều đợc
nàng hậu tạ xứng đáng.
Nguyễn Du miêu tả Thuý Kiều có đời sống nội tâm phong phú, rất tốt

và rất đặt biệt. Biểu hiện nh khóc, cời, hay lúc đánh đàn mỗi lần nàng cời,
khóc hoặc đánh đàn đều khác nhau, thể hiện những tâm trạng khác nhau,
nhiều Thuý Kiều trong nhiều lần ở tác phẩm. Nguyễn Du đã mô tả con ngời ở
tâm lý với hàng vạn tâm trạng và hàng vạn cuộc đời.
Để thể hiện chủ đề phê phán, lên án cái ác, cái xấu của xã hội, Nguyễn
Du đã đa vào tác phẩm hai loại hình tợng: quan lại và con buôn cùng đồng
tiền bẩn thỉu. Loại nhân vật này thờng là những kẻ thiếu nhân bản và tính ngời. Đó là loại ngời trớc cái đáng buồn thì buồn ít, đáng vui thì ít vui và đáng
đau thì ít đau.
Đặc biệt là khi nhà thơ miêu tả nhân vật con ngời trong cuộc sống con ngời nhân vật - con ngời tâm lý. Thuý Kiều là nhân vật đầu tiên của văn
học Việt Nam đợc miêu tả trực tiếp bằng tâm lý, các hành động của nhân vật
thể hiện tâm lý (ngoài Truyện Kiều, trong các tác phẩm khác Nguyễn Du
không xây dựng một nhân vật tâm lý nào nữa). Thuý Kiều còn là con ngời vũ
trụ (thiên - nhân nhất thể: quan niệm thiên nhiên - con ngời là một). Trong
Truyện Kiều, nhân vật Thuý Kiều gắn chặt với thiên nhiên. Qua đoạn Kiều ở
lầu Ngng Bích, Thuý Kiều là thiên nhiên và thiên nhiên là con ngời Thuý
Kiều. Hay khi miêu tả sắc đẹp nàng Kiều, sắc của Kiều đợc đo bằng thiên
nhiên, quan hệ với thiên nhiên. Và thiên nhiên cũng không phải là nhờng
mà là ghen, là hờn: Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh, một vẻ đẹp
nh dự báo trớc những tai ơng sẽ gặp phải trong đời.
Tài năng miêu tả nhân vật của Nguyễn Du thể hiện sâu sắc nhất khi
ông miêu tả con ngời tài hoa. Trớc thế kỷ XVIII, trong văn học cha xây dựng
hình tợng con ngời tài hoa. Đến văn học thế kỷ XVIII mới có ngời tài, nhân
vật tự xng tài và ngời đời cũng xng tài để khẳng định mình, khẳng định cá
nhân (Kiều, Từ Hải, Kim Trọng,).

19


2/ Ngôn ngữ tiểu thuyết: Ngôn ngữ văn xuôi có hai loại: Ngôn ngữ
truyện (Truyện Lục Vân Tiên, Thạch Sanh, các truyện nôm khuyết danh) và

đến nghìn năm; Từ Hải thì giọng anh hùng gắn với đất trời; Kim Trọng thì
giọng điệu mê gái; Thúc Sinh thì si tình, sợ vợ; Sở Khanh thì xỏ lá;

20


Ngôn ngữ tác giả trong Truyện Kiều cũng đóng vai trò vô cùng quan
trọng. Nguyễn Du trong tác phẩm của mình vừa phân tích sự kiện vừa phân
tích tâm lý nhân vật và có khi phân tích cả tâm lý của chính mình.
3/ Thể thơ lục bát Truyện Kiều: Lục bát là thể thơ dân tộc. Nguyễn Du
đã nâng cấp lục bát dân gian thành lục bát Truyện Kiều. Vần bằng của thể lục
bát tạo nên nhịp điệu, vần điệu, âm điệu nhịp nhàng, uyển chuyển, êm ái, đằm
thắm Nguyễn Du đã sử dụng những đặc điểm, đặc sắc đó của lục bát dân
gian đa vào tác phẩm. Nhịp điệu trong Truyện Kiều thờng sau một đoạn 2/2
đổi nhịp 3/3, 4/4 (diễn tả cái mạnh) và cứ thế rồi tiếp tục trở lại, tránh đợc sự
nhàm chán, tạo ra đợc các phần khác nhau rõ ràng trong tác phẩm Truyện
Kiều.
Nói tóm lại, Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tác phẩm lớn, chứa
đựng trong nó những giá trị nội dung, nghệ thuật độc đáo, sâu sắc và mới
mẻ. Vì vậy, cho đến nay Truyện Kiều vẫn luôn là một đối tợng hớng đến
của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc. Chúng tôi, trong giới hạn của
một luận văn, chỉ xin đề cập đến một số vấn đề cơ bản mang tính khái quát
về Truyện Kiều còn chủ yếu là đi sâu vào nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời
đã đợc tác giả sử dụng trong tác phẩm.
1.2. Các khái niệm từ vựng - ngữ nghĩa học liên quan đến đề tài
Đề tài này chủ yếu đi sâu nghiên cứu phơng diện ngữ nghĩa của nhóm
từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều nên một số khái niệm công
cụ đợc xác định cách hiểu trong luận văn này:
1.2.1 Trờng nghĩa
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, trờng nghĩa là:

lên, còn gọi là từ nhiều nghĩa, đối lập với từ đơn nghĩa là từ chỉ có một nghĩa
[22, 337 - 338].
Nguyễn Văn Tu trong Từ vựng học tiếng Việt hiện đại thì cho rằng
Khi nói về từ nhiều nghĩa là nói về một từ có nhiều nghĩa khác nhau [19,
81]. Còn Đỗ Hữu Châu trong Giáo trình Việt ngữ (tập 1, Nxb Giáo dục, 1962)
thì định nghĩa Từ đa nghĩa là một từ, có sự thống nhất về nội dung và hình
thức. Trong một giai đoạn lịch sử nhất định các nghĩa khác nhau của một từ đa
nghĩa vẫn có liên hệ chặt chẽ với nhau và không thoát li nghĩa chính [tr. 85
86]. Hay nh ý kiến của Hà Quang Năng trong Giữ gìn sự trong sáng của
tiếng Việt: Nếu từ tham gia vào những lớp tổ hợp, đợc dùng với những chức
năng điển hình, đặc trng cho một từ loại nhất định thì đó là dấu hiệu của hiện
tợng nhiều nghĩa của từ (tập 2, tr.51). Còn theo Nguyễn Thiện Giáp, Từ đa
nghĩa có thể vừa có nghĩa tự do, vừa có nghĩa hạn chế [7, 170 - 171]; theo
Mai Ngọc Chừ, Từ đa nghĩa là những từ có một số nghĩa biểu thị những đặc
điểm , thuộc tính khác nhau của một số đối tợng , biểu thị nghĩa đối tợng khác
nhau của thực tại [5, 205]; theo Nguyễn Ngọc Trâm, Từ đa nghĩa là từ dùng
một vỏ âm thanh diễn đạt nhiều nghĩa khác nhau nhng có quan hệ gắn bó với
nhau. (Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, Nxb KHNV, H, 1981)

22


Tóm lại, nói đến từ đa nghĩa trớc hết là nói tới số lợng nghĩa, từ đó
phải có hai nghĩa trở lên và các nghĩa phải có quan hệ với nhau, theo một
trong hai quan hệ là ẩn dụ và hoán dụ, trên cơ sở các nét nghĩa của chúng.
Ví dụ: Chân ( 22, tr. 140) theo Từ điển tiếng Việt có các nghĩa:
(1) - Bộ phận dới cùng của cơ thể ngời hay động vật dùng để đi, đứng,
thờng đợc coi là biểu tợng của hoạt động đi lại của con ngời. VD: Gãy chân.
(2) - Chân con ngời, coi là biểu tợng của cơng vị, phận sự của một ngời
với t cách là thành viên của một tổ chức. Ví dụ: Có chân trong hội đồng. Thiếu

Quan hệ giữa nghĩa gốc và nghĩa phái sinh có tính chất biện chứng:
một nghĩa có thể là nghĩa phái sinh của từ này nhng đồng thời lại có thể trở
thành nghĩa gốc của nghĩa kia (nghĩa tiếp theo). Nghĩa là ở đây sự biến đổi
nghĩa giữa nghĩa đầu tiên và các nghĩa mới diễn ra theo kiểu móc xích (xâu
chuỗi). Tức là từ nghĩa đầu tiên chuyển sang nghĩa thứ hai, từ nghĩa thứ hai
chuyển sang nghĩa thứ ba, từ nghĩa thứ ba chuyển sang nghĩa thứ t,phân biệt
với kiểu thứ hai là toả ra (hớng tâm). Tức các nghĩa mới của từ đợc tạo ra
đều từ nghĩa ban đầu (dựa vào nghĩa đầu tiên mà xuất hiện).
Ví dụ 1: Thẻ (từ đa nghĩa kiểu xâu chuỗi):
Nghĩa 1: Mảnh gỗ, tre đợc dùng để viết.
Nghĩa 2: Mảnh xơng, ngà ghi chức tớc mà các quan đeo ở ngực (thời trớc).
Nghĩa 3: Giấy chứng nhận t cách thành viên của một tổ chức nào đấy.
Ví dụ 2: Miệng (từ đa nghĩa kiểu hớng tâm):
Nghĩa 1: Bộ phận trên mặt ngời hay ở phần trớc của đầu động vật, dùng
để ăn và (ở ngời) để nói : Miệng nói tay làm.
Nghĩa 2: miệng ăn nhân khẩu: nhà có năm miệng ăn.
Nghĩa 3: (giao tiếp bằng) lời nói trực tiếp, không phải viết.: Dịch miệng,
trao đổi miệng
Nghĩa 4: phần trên cùng, chỗ mở ra thông với bên ngoài của vật có
chiều sâu: Miệng bát, miệng giếng,
1.2.3.2. Phân biệt các loại nghĩa từ quan điểm đồng đại
Xem xét nghĩa của từ trong một giai đoạn lịch sử nhất định, dựa vào
mối quan hệ giữa từ và đối tợng từ phản ánh, ta có nghĩa trực tiếp và nghĩa
chuyển tiếp.
Nghĩa trực tiếp: là nghĩa phản ánh sự vật hiện tợng một cách trực tiếp
không thông qua ý nghĩa nào khác của từ này (còn đợc gọi là nghĩa đen).
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học: nghĩa đen là nghĩa từ
vựng của từ theo đúng nghĩa của nó, khác với nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ, bóng
bẩy và cũng khác với nhứng sắc thái cảm xúc, biểu cảm đi kèm theo nó.
Nghĩa đen đồng thời cũng là nghĩa ban đầu, nghĩa xuất phát, không có căn cứ,

Nghĩa lâm thời là nghĩa từ vựng của từ chỉ xuất hiện trong một ngữ
cảnh nhất định nào đó. [22. 146]
Hay nói một cách khác, nghĩa lâm thời đợc hiểu là nghĩa đợc tạo ra tại
một hoàn cảnh nhất định nào đó trong quá trình sử dụng nghĩa, nó tồn tại một
cách nhất thời, mang tính sáng tạo, tính cá nhân và đợc hình thành trên cơ sở
nghĩa ổn định. Loại nghĩa này có ý nghĩa đặc biệt trong ngôn ngữ văn học
nghệ thuật.
Ví dụ: Đầu xanh:
Nghĩa 1: Mái đầu
Nghĩa 2: Chỉ thời đầu tóc còn đen, tức thời tuổi trẻ.(Ngời trẻ tuổi)
Đầu xanh đã tội tình gì?

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status