TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM THỊ TUYẾT THANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
KHẢO SÁT ĐẶC TRƯNG TỪ, NGỮ CHỈ BỘ PHẬN
CƠ THỂ NGƯỜI TRONG TIẾNG VIỆT
LIÊN HỆ CHUYỂN DỊCH SANG TIẾNG ANH
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60.22.01 Hà Nội 2007 TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
0.1. Lý do chọn đề tài
0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
0.3. Tư liệu nghiên cứu
0.4. Phương pháp nghiên cứu
0.5. Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận, các nguồn tư liệu và phương thức thực
hiện đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Sự chia cắt thực tế khách quan trong các ngôn ngữ
1.1.2. Cách thức định danh trong ngôn ngữ
1.2. Các nguồn tư liệu
1.3 . Phương thức thực hiện đề tài
1.3.1. Phân tích các biểu thức chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng
Việt về cách thức cấu tạo
1.3.2. Phân tích biểu thức chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt
về cấu tạo nội dung ngữ nghĩa
Tiểu kết
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của các biểu thức chỉ bộ phận cơ thể
người trong tiếng Việt
2.1. Dẫn nhập
2.1.1. Từ đơn
2.1.2. Từ ghép
2.1.2.1. Từ ghép nghĩa
2.1.2.2. Từ láy âm
0
1
1
2
2
3
Tiểu kết
Chương 3: Đặc điểm nội dung ngữ nghĩa của các biểu thức chỉ bộ phận
cơ thể người trong tiếng Việt
3.1. Dẫn nhập
3.2. Cấu tạo nội dung ngữ nghĩa của các biểu thức chỉ bộ phận cơ
thể người trong tiếng Việt
3.2.1. Nghĩa của từ thể hiện qua từ điển giải thích
3.2.2. Hiện tượng đa nghĩa
3.2.3. Nghĩa biểu trưng
Tiểu kết
Chương 4: Liên hệ chuyển dịch các biểu thức chỉ bộ phận chỉ cơ thể
người trong tiếng Việt sang tiếng Anh
4.1. Dẫn nhập
4.1.1. Bản chất và đặc điểm của quá trình dịch
4.1.2. Vấn đề tương đương trong dịch thuật
4.2. Liên hệ chuyển dịch các biểu thức chỉ bộ phận chỉ cơ thể người
trong tiếng Việt sang tiếng Anh
4.2.1. Liên hệ chuyển dịch các biểu thức đơn nghĩa
4.2.2. Liên hệ chuyển dịch các biểu thức đa nghĩa.
4.2.3. Đề xuất đối với các nhà biên soạn từ điển Việt - Anh
Tiểu kết
21 22
22
25
25
29
30
97
101 1
PHẦN MỞ ĐẦU
0.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện thực trong thế giới thường có những lĩnh vực tồn tại chung và phổ
biến cho mọi dân tộc, mọi quốc gia. Tuy nhiên cũng có những tồn tại chỉ có ở
dân tộc này, quốc gia này mà lại không có ở quốc gia khác, dân tộc khác.
Nhưng cách thức gọi tên, biểu đạt ý nghĩa, hình dung, tưởng tượng về cái tồn
tại chung ấy là không giống nhau. Chính cái khác nhau này thể hiện đặc điểm
của ngôn ngữ (phương tiện của giao tiếp và tư duy) và văn hoá một cách đậm
nét nhất. Một trong những đề tài thể hiện cái chung, cái riêng trong tồn tại liên
quan đến ngôn ngữ và tư duy ngôn ngữ chính là những từ ngữ chỉ bộ phận cơ
thể người.
Trong mọi ngôn ngữ đều có những từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người,
chúng lập thành một trường từ vựng - ngữ nghĩa riêng, gọi là trường bộ phận
cơ thể người. Tính chất quan trọng của trường từ vựng - ngữ nghĩa này thể
hiện ở chỗ đa số các tên gọi trong trường đều thuộc vốn từ vựng cơ bản của
một ngôn ngữ, chúng là lớp từ thuần ngữ nhất, ít bị pha tạp hoặc biến đổi bởi
người trong tiếng Việt sang tiếng Anh.
3. TƢ LIỆU NGHIÊN CỨU
Tư liệu nghiên cứu của luận văn này bao gồm các biểu thức chỉ cơ thể
người được rút ra từ các cuốn từ điển: từ điển tiếng Việt, từ điển tiếng Anh, từ
điển Việt - Anh, từ điển Anh - Việt.
Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng các tài liệu khác như: thành ngữ, tục
ngữ, các bản dịch, các bài báo, tạp chí… được coi là các tài liệu thể hiện rõ
nét nhất về các biểu thức chỉ bộ phận cơ thể người và các nét nghĩa của các
biểu thức này trong hoạt động hành chức của chúng.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3
Các phương pháp mà chúng tôi sử dụng trong luận văn này là các
phương pháp thường được dùng trong khoa học ngôn ngữ. Cụ thể là các
phương pháp sau:
Phương pháp thống kê, định lượng: thông qua các nguồn tài liệu tin
cậy, chúng tôi tiến hành điều tra, tập hợp, thống kê các ngữ liệu, tức là các
biểu thức chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt.
Phương pháp phân tích, nhận diện đặc điểm về mặt cấu tạo và về mặt
ngữ nghĩa của các biểu thức này. Tức là phân tích cấu tạo từ, cấu tạo ngữ,
phân tích các thành tố nghĩa, kể cả phân tích liên hợp giữa đặc điểm cấu tạo
và nội dung nghĩa với cách tư duy, diễn đạt của người Việt để khái quát chỉ ra
các đặc trưng của các biểu thức chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt.
Phương pháp phân tích thành tố: nói chung phương pháp phân tích
thành tố có thể được hiểu là phương pháp nghiên cứu mặt nội dung các đơn vị
có nghĩa, được khởi thảo ra trong phạm vi ngữ nghĩa học cấu trúc và có mục
đích là phân giải ý nghĩa ra thành các thành phần ngữ nghĩa tối thiểu (hay còn
5
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, CÁC NGUỒN TƢ LIỆU VÀ
PHƢƠNG THỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Sự chia cắt thực tế khách quan trong các ngôn ngữ
Nhiều tác giả cho rằng thực tế khách quan là một dải liên tục khi đi vào
ngôn ngữ được chia thành những phân đoạn và sự chia cắt này không có
đường phân định ranh giới rõ ràng. Nhu cầu nhận thức hiện thực của con
người và tiếp đó là sự biểu hiện kết quả nhận thức bằng các phương tiện ngôn
ngữ đã đưa con người đến chỗ phải cấu trúc hoá hiện thực theo một kiểu nhất
định. Có thể tìm thấy hàng loạt sự kiện chứng tỏ thể liên tục thế giới khách
quan trong các ngôn ngữ được phân cắt theo kiểu khác nhau và được biểu
hiện một cách khác nhau bằng ngôn ngữ. Cùng một sự vật, hiện tượng có thể
được biểu hiện trong ngôn ngữ khác nhau với mức độ phân hoá khác nhau.
Một sự vật nào đó trong ngôn ngữ này có thể được thể hiện có tính nhất thể,
nghĩa là không được phân chia nhỏ hơn, nhưng trong ngôn ngữ khác lại có
thể được thể hiện theo kiểu được phân cắt thành những bộ phận nhỏ hơn có
phân biệt. Chẳng hạn, trong tiếng Anh, tiếng Đức ngón tay và ngón chân
được thể hiện phân biệt bằng hai từ riêng là finger, toe và finger, zehe còn
trong tiếng Việt lại biểu hiện nhất thể hoá hai biểu vật này chỉ bằng một từ
ngón. Khi cần cụ thể hoá, người Việt sẽ dùng đến cụm từ hoặc phương tiện cú
pháp: ngón tay, ngón chân. Sự khác nhau giữa các ngôn ngữ về vấn đề này
được thể hiện ở chỗ cách biểu hiện có phân biệt một nội dung nhất định trong
ngôn ngữ này có thể là bắt buộc, còn trong ngôn ngữ kia lại là không bắt
buộc.
cách không giống nhau, nhưng sự tri giác của từng dân tộc về thế giới hiện
thực là trùng nhau ở các dân tộc thuộc nền văn hoá và ngôn ngữ khác nhau, vì
7
nếu không, các dân tộc nói bằng ngôn ngữ khác nhau sẽ không hiểu được
nhau.
Những gì tồn tại trong thế giới gọi chung là thế giới hiện thực đều được
biểu hiện bằng vật chất cụ thể, tuy nhiên trong số này có cái là có thực trong
thế giới hiện thực, nhưng cũng có cái do con người tưởng tượng ra. Thực tại
khách quan bao gồm cả cái cụ thể và cái trừu tượng. Những thực tại gần gũi với
đời sống con người thì tương đối giống nhau ở các dân tộc, nhưng cách thức
gọi tên, biểu đạt ý nghĩa về những thực tại chung này lại không giống nhau ở
mỗi dân tộc. Có thể nói rằng, bộ phận cơ thể người là một thực tại chung tồn tại
ở tất cả các dân tộc. Về tín hiệu ngôn ngữ mà nói, mỗi dân tộc đều có cách gọi
tên và biểu đạt ý nghĩa riêng về mỗi bộ phận cơ thể người. Cùng một thực tại
nhưng cách định danh nó (nói một cách trừu tượng là cách phân chia thực tại) ở
mỗi dân tộc là không giống nhau. Mỗi dân tộc phân chia thực tế khách quan
theo cách của mình, do đó mà tạo ra cách nhìn của mình đối với thực tế và họ
biểu hiện kết quả của quá trình nhận thức thế giới khách quan này qua ngôn
ngữ theo cách của riêng mình. Đây chính là quá trình định danh.
1.1.2. Cách thức định danh trong ngôn ngữ
Khi nghiên cứu về ngôn ngữ học, người ta không thể không nói đến sự
hình thành cách định danh trong hệ thống ngôn ngữ. Vậy định danh là gì?
Thuật ngữ này thường được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Ở đây, chúng
tôi hiểu theo quan niệm của một nhà ngôn ngữ học người Nga,
Ã.Â.ấợởứàớủờốộ, định danh là “sự cố định (hay gắn) cho một ký hiệu ngôn
ngữ một khái niệm - biểu niệm phản ánh những đặc trưng nhất định của một
biểu vật - các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của các đối tượng và quá trình
số trường hợp, mỗi ngôn ngữ có thể biểu lộ thiên hướng lấy những đặc trưng
có tính chất nhất định để làm cơ sở gọi tên. Do vậy, giá trị của cùng một đặc
trưng trong từng ngôn ngữ là không như nhau.Theo kết quả thống kê của
Nguyễn Đức Tồn [40], khi định danh 211 tên gọi bộ phận cơ thể người trong
tiếng Việt, người Việt đã dựa vào sáu đặc trưng cơ bản sau:
9
Đặc trưng hình thức: đặc trưng này chiếm 52%.
Ví dụ: nhãn cầu, lá mía, xương chậu, mắt cá
Đặc trưng vị trí: số lượng tên gọi có đặc trưng vị trí chiếm gần 22%.
Ví dụ: tai trong, mang tai, nhân trung, xương sườn
Đặc trưng công cụ, chức năng: đặc trưng này là dấu hiệu khu biệt
9% số tên gọi.
Ví dụ: dây thanh, ruột thừa, bàn toạ
Đặc trưng vật lý: đặc trưng này được người Việt sử dụng trong 6,6%
số trường hợp.
Ví dụ: ruột già, ruột non, động mạch, tĩnh mạch
Đặc trưng kích cỡ, kích thước: 6,1% tên gọi bộ phận cơ thể trong
tiếng Việt được dựa trên đặc trưng này.
Ví dụ: đại não, tiểu não, đại tràng, ngón cái
Đặc trưng tản mạn khác (màu sắc, cấu tạo, hành vi ): các đặc trưng
này chiếm 3,7%.
Ví dụ: tròng trắng, huyết mạch
Có ý kiến cho rằng chính đặc điểm của loại hình ngôn ngữ cũng có ảnh
hưởng lớn đến cách thức định danh trong từng ngôn ngữ. Chẳng hạn, trong
tiếng Việt và một số ngôn ngữ khác có các loại từ như: cái, con, chiếc Khi
định danh, gọi tên các sự vật trong lời nói, người Việt sử dụng các loại từ
khác nhau tuỳ thuộc vào góc độ nhìn sự vật và hiện tượng. Ví dụ, với một bộ
theo cách riêng của mình và cùng một đối tượng trong các ngôn ngữ khác
nhau sẽ được gọi tên theo các cách khác nhau. Cùng một đối tượng có thể
được gọi tên trong các ngôn ngữ theo cách khác nhau phụ thuộc vào đối lập
kiểu nào về tâm lý, lịch sử, dân tộc và xã hội làm cơ sở cho sự định danh.
Các thủ pháp định danh là chung cho tất cả mọi ngôn ngữ trên thế giới.
Song, đặc điểm của hệ thống ngôn ngữ, đặc điểm của loại hình ngôn ngữ có
ảnh hưởng quan trọng đến đặc tính của các thủ pháp định danh. Chính các
thủ pháp này làm nên đặc trưng của hành vi ngôn ngữ. Theo
11
Â.À.ẹồðồỏðồớớốờợõ (dthông thường, người ta hay nói đến các cách định
danh sau:
Sử dụng tổ hợp ngữ âm biểu thị đặc trưng nào đó trong số các
đặc trưng của đối tượng này
Mô phỏng âm thanh (tức là tượng thanh)
Phái sinh
Ghép từ
Cấu tạo các biểu ngữ đặc biệt
Can-ke (hay sao phỏng)
Vay mượn
Theo ý kiến của Ã.Â.ấợởứàớủờốộ, một nhà ngôn ngữ học người Nga,
cần tách ra ba dạng định danh:
Định danh bằng từ và từ tổ (đây là định danh từ vựng)
Định danh bằng câu (mệnh đề)
Định danh bằng văn bản
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi xem xét dạng định danh thứ
nhất, đó là định danh bằng từ và từ tổ.
Quan niệm gọi từ, ngữ trong các ngôn ngữ không giống nhau, thậm chí
lượng không nhiều các trường hợp ngoại lệ. Với tư cách là một định nghĩa sơ
bộ, có tính chất giả thuyết để làm việc, chúng tôi chấp nhận quan niệm từ, ngữ
trong từ điển gọi là từ - từ điển. Dựa vào các cuốn từ điển chuẩn trong tiếng
Việt, chúng tôi sẽ thu thập được các tư liệu về từ, ngữ (gọi chung là các biểu
thức) chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt.
1.2. CÁC NGUỒN TƢ LIỆU
Theo quan niệm từ, ngữ như đã giới thiệu ở trên, chúng tôi tiến hành
khảo sát nguồn tư liệu.
Để tránh chủ quan và đảm bảo độ tin cậy nhất định, trước tiên chúng tôi
dựa vào các tài liệu tổng hợp, đó là các cuốn từ điển.
Về tiếng Việt, chúng tôi tiến hành thu thập các tài liệu cụ thể là các
biểu thức chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt trên cơ sở dữ liệu từ các
13
cuốn từ điển. Trong thời điểm hiện nay, chúng tôi thấy cuốn từ điển tiêu biểu
nhất là cuốn từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học - Viện Ngôn ngữ do
Hoàng Phê làm chủ biên. Cuốn từ điển này hàng năm đều được bổ sung và
tái bản, gồm 1130 trang và có bổ sung thêm 2090 mục từ mới. Ngoài ra,
chúng tôi có sử dụng thêm cuốn từ điển tiếng Việt của Văn Tân [43] và cuốn
Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý. [50]
Trong luận văn này, chúng tôi có sử dụng một số thành ngữ và tục ngữ
có các thành tố chỉ bộ phận cơ thể người, nên chúng tôi có khảo sát thêm
trong cuốn:
Từ điển thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt Nam của Nguyễn Lân xuất bản
năm 1989 của nhà xuất bản VHHN.
Nhiệm vụ của luận văn đã đề ra là nhằm thống kê, tập hợp tương đối
đầy đủ các biểu thức chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt nên chúng tôi
đã khảo sát thêm trong các sách chuyên môn về giải phẫu sinh lý người để thu
diện chủ yếu sau:
Về cách thức cấu tạo
Về nội dung ngữ nghĩa
1.3.1. Phân tích các biểu thức chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong
tiếng Việt về cách thức cấu tạo
Như đã đề cập ở trên, quan niệm về từ, ngữ trong tiếng Việt của các
nhà Việt ngữ học không giống nhau nên quan niệm về cách thức cấu tạo
chúng cũng có những khác biệt. Nhìn chung từ xưa đến nay, những tiếng độc
lập, có nghĩa ai cũng coi là từ - từ đơn tiết. Còn những tiếng không độc lập thì
được xử lý khác nhau. Nguyễn Kim Thản phân biệt từ thuần, từ pha, từ phức,
từ chắp; Đỗ Hữu Châu chia ra thành từ láy và từ ghép; Nguyễn Tài Cẩn phân
biệt từ ghép nghĩa, từ láy âm và từ ngẫu kết; Nguyễn Văn Tu phân biệt từ
ghép bổ nghĩa, từ ghép hợp nghĩa và từ ghép láy âm…Trong luận văn này,
chúng tôi tiếp thu cách phân loại từ theo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn [1],
tức là phân các đơn vị ngôn ngữ này thành: tiếng, từ ghép nghĩa, từ láy âm và
từ ngẫu kết.
15
1.3.2. Phân tích biểu thức chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong tiếng
Việt về cấu tạo nội dung ngữ nghĩa
Khi nghiên cứu về từ tiếng Việt, nghĩa đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Tính đa dạng về nghĩa của từ đã được các nhà ngôn ngữ học quan tâm từ lâu
và họ đã đưa ra khá nhiều cách phân biệt nghĩa của từ.
Nguyễn Văn Tu [43] nhấn mạnh nghĩa là phản ánh sự vật, hiện tượng
thông qua khái niệm, giá trị ngữ cảnh. Theo ông có các thành tố nghĩa của
từ sau:
Nghĩa biểu đạt
Nghĩa chủ quan
- Tầng nghĩa thực tiễn Nghĩa biểu thị ( denotational meaning)
(practical stratum) Nghĩa biểu chỉ (designated meaning)
- Tầng nghĩa biểu trưng Nghĩa biểu trưng (symbolized meaning)
(symbolized stratum) Nghĩa biểu tượng (imaginative meaning)
Có thể nói rằng đi theo hướng chức năng và tri nhận luận kết hợp với cấu
trúc hệ thống từ vựng, các kiểu nghĩa, tầng nghĩa chỉ ra trong kiến giải này là khá
chi tiết và phù hợp với thực tiễn hành chức và thể hiện chúng trong các loại hình
hoạt động phong cách chức năng và tư duy giao tiếp đa dạng của chủ thể ngôn ngữ.
Trong luận văn này chúng tôi không đi sâu vào phân tích bình diện ngữ nghĩa của
các biểu thức chỉ bộ phận người trong tiếng Việt mà chỉ nhận diện miêu tả chúng
nhằm mục đích liên hệ chuyển dịch sang tiếng Anh. Vì vậy, trong luận văn này
chúng tôi xin được khảo sát, phân tích nội dung nghĩa của các biểu thức chỉ
bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt ở hai phạm vi sau:
Nghĩa của từ thể hiện qua từ điển giải thích: đây chính là loại nghĩa
chúng tôi rút ra trong các cuốn từ điển tường giải. Dựa vào các định nghĩa
trong từ điển, chúng tôi tiến hành khảo sát các nét nghĩa trong cấu trúc ngữ
nghĩa của trường từ vựng ngữ nghĩa này. Đồng thời chúng tôi muốn xét đến
hiện tượng đa nghĩa để tiện cho việc liên hệ chuyển dịch các đơn vị ngôn ngữ
này sang tiếng Anh.
Phổ nghĩa từ vựng
(Lexical meaningful stratum)
g
17
Nghĩa biểu trưng: là loại nghĩa dành cho nội dung nghĩa những từ
mà hình thức ngữ âm (mô phỏng âm thanh) hoặc hình thức cấu âm (mô phỏng
khác nhau để đặt tên cho các sự vật, hiện tượng ấy. Tuy nhiên, trong một số
trường hợp, mỗi ngôn ngữ có thể biểu lộ thiên hướng lấy những đặc trưng có
tính chất nhất định để làm cơ sở gọi tên. Ngoài ra, đặc điểm của loại hình
ngôn ngữ cũng là một trong những nguyên nhân khiến các dân tộc có các cách
định danh khác nhau đối với cùng một sự vật. Các thủ pháp định danh là
chung cho tất cả mọi ngôn ngữ trên thế giới. Song, đặc điểm của hệ thống
ngôn ngữ, đặc điểm của loại hình ngôn ngữ có ảnh hưởng quan trọng đến đặc
tính của các thủ pháp định danh. Chính các thủ pháp này làm nên đặc trưng
của hành vi ngôn ngữ. Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi xem xét một
trong các dạng định danh đó là định danh bằng từ và từ tổ.
Định hướng của sự vận dụng vào phân tích ngữ liệu tiếng Việt chúng
tôi sẽ tiến hành hai bình diện chính là cấu tạo và ngữ nghĩa của các biểu thức
chỉ bộ phận cơ thể người( có liên hệ chuyển dịch sang tiếng Anh). Cơ sở lý
luận về cấu tạo từ và ngữ nghĩa chúng tôi đã chọn cách hiểu truyền thống, phổ
biến của các nhà Việt ngữ học nhằm khai thác ngữ liệu từ điển đã có kết hợp
với những kiến giải có tính đổi mới gần đây.Tiếp theo, luận văn cũng đã giới
thiệu các nguồn tư liệu làm cơ sở cho việc khảo sát đặc trưng các biểu thức
chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt ở trên cả hai bình diện: cách thức
cấu tạo và nội dung ngữ nghĩa trong chương tiếp theo và cuối cùng là cách
chuyển dịch sang tiếng Anh.
19
Chƣơng 2
ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA CÁC BIỂU THỨC CHỈ BỘ
nên đều có thể thống kê và xếp thành từng loại.
2.1.2. Từ ghép
Do quan niệm tiếng là hình vị, tác giả đã chủ trương tất cả các tổ hợp
âm tiết chặt chẽ, cố định đều là từ ghép (từ đa tiết).
Dựa vào mặt quan hệ giữa các thành tố trực tiếp, tác giả phân từ ghép
thành ba kiểu lớn: từ ghép nghĩa, từ láy âm và từ ngẫu kết.
2.1.2.1. Từ ghép nghĩa
Từ ghép nghĩa là kiểu từ ghép trong đó các thành tố trực tiếp được kết
hợp với nhau theo quan hệ ý nghĩa.
Ví dụ: học trò quốc gia
ngữ pháp dân số
Từ ghép nghĩa là kiểu từ phổ biến nhất trong số các từ ghép của tiếng
Việt. Nói chung, thành tố trực tiếp trong từ ghép nghĩa đều phải thuộc vào
loại có ý nghĩa. Tuy nhiên, trong thực tế có một số từ ghép nghĩa hiện nay chỉ
còn giữ lại một thành tố có nghĩa mà thôi. Ví dụ từ chợ búa chỉ còn có nghĩa
ở từ chợ, từ đường sá chỉ còn nghĩa ở từ đường. Các thành tố búa, sá hiện nay
đều đã mất nghĩa.
Từ ghép láy nghĩa: là kiểu từ ghép nghĩa trong đó có các thành tố trực
tiếp có vai trò bình đẳng với nhau và có ý nghĩa láy nhau.
Ví dụ: binh lính thị phi
hư vô thanh danh
Từ ghép phụ nghĩa: là kiểu từ ghép nghĩa có một thành tố trực tiếp
đứng làm nòng cốt rồi bên cạnh ghép thêm một thành tố khác, đứng
làm thành tố phụ.
Ví dụ: hải quan cải tiến
tương đối vô ích