BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TÌM HIỂU CÁC TỪ NGỮ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI
TRONG CA DAO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Vinh 2006
LỜI CẢM ƠN.
MỞ ĐẦU.
1.
Lý do chọn đề tài...................................................…...................4
2.
Lịch sử vấn đề........................................................…...................4
3.
Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu.................….........................5
4.
Phương pháp nghiên cứu...........................................…...............6
5.
Dự kiến bố cục của luận văn........................................….............7
Chương 1.
NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.
Vấn đề tên gọi và trường nghĩa chỉ người.....................…...........8
2.
Những nghiên cứu về con người trong nghệ thuật.........…........18
3.
cô giáo và bạn bè thân hữu đã giúp đỡ, động viên chúng tôi trong quá
trình thực hiện đề tài này.
Vinh, tháng 12- 2006
Tác giả: Nguyễn Thị Hà.
3
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
1.1. Ca dao Việt Nam là viên ngọc quý luôn toả sáng trong không
gian, thời gian.Với ngôn ngữ tinh tế, sinh động, duyên dáng, giàu hình
tượng và đầy chất thơ, ca dao luôn đi vào lòng người, được người
người thuộc và truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác.
1.2. Ca dao phản ánh đời sống, trí tuệ, tâm hồn, tình cảm của con
người Việt Nam. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ca dao, trong
đó có cả những công trình nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ. Trong ca
dao, có một lượng từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người rất đáng quan tâm.
Đây là đối tượng cũng đã được tìm hiểu trong một số bài viết, luận
văn... Nhưng việc tìm hiểu nhóm từ ngữ này trong ca dao thì chưa
được khảo sát đầy đủ và hệ thống.
1.3. Nghiên cứu từ ngữ trong ca dao nói chung và từ ngữ chỉ bộ
phận cơ thể người nói riêng nhằm góp phần tìm hiểu ngôn ngữ từ góc
độ tư duy, văn hoá và xã hội. Đây là những lĩnh vực có tính thời sự
hiện nay trong ngôn ngữ học.
Đó chính là những lý do cơ bản để chúng tôi lựa chọn đề tài này.
2. Lịch sử vấn đề
Trong phần này chúng tôi sẽ nêu một số hướng nghiên cứu có liên
2.2. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến trường nghĩa
chỉ người như:
Các tài liệu viết về từ vựng - ngữ nghĩa của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn
Thiện Giáp và Nguyễn Đức Tồn (2002) trong “ Tìm hiểu đặc trưng văn
hoá dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người việt “ ( trong sự so sánh
với những dân tộc khác) NXB ĐHQG HN…
2.3. Những đề tài khoá luận, luận văn có liên quan đến từ ngữ chỉ
bộ phận cơ thể người:
Luận văn thạc sỹ “Đặc trưng ngữ nghĩa của tục ngữ Việt Nam”
(1999) - Nguyễn Thị Thu Hương dưới cái nhìn chung về ngữ nghĩa của
tục ngữ, luận văn tốt nghiệp Đại học “ Khảo sát nhóm tục ngữ tiếng
Việt chứa từ chỉ bộ phận cơ thể người” - Trần Thị Thanh Hà ( khoá
2002-2006) đã đề cập khá rõ về các vấn đề thuộc từ chỉ bộ phận cơ thể
người trong tục ngữ.
Riêng việc “ tìm hiểu các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca
dao Việt Nam” đang còn là vấn đề mới mẻ, nên chúng tôi đi vào
nghiên cứu đề tài này.
3. Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
5
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Luận văn khảo sát các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người xuất hiện
trong ca dao Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu.
Nguồn tư liệu lấy từ các cuốn: “ Ca dao Việt Nam” - Nguyễn Bích
Hằng, NXB VHTT, H., 2004, cuốn “ Ca dao trữ tình Việt Nam” (do
Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào,Sưu tầm và biên soạn) , NXB
Giáo dục, 1998. Ngoài ra còn có cuốn “ Tục ngữ - Ca dao- dân ca Việt
Nam” – Vũ Ngọc Phan, NXB văn học, 2005.
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
5. Dự kiến bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những khái niệm liên quan đến đề tài.
Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể
người trong ca dao Việt Nam.
Chương 3: Đặc trưng ngữ nghĩa và vai trò của các từ ngữ chỉ bộ
phận cơ thể người trong ca dao Việt Nam.
Chương 1
NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1 .Vấn đề tên gọi và trường nghĩa chỉ người.
7
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
1.1.Vấn đề tên gọi và từ.
1.1.1. Từ và khái niệm từ:
Từ là một đơn vị quan trọng đã được bàn luận nhiều trong suốt
quá trình nghiên cứu của ngôn ngữ học. F.De.Saussure đã viết: "...Từ
là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư tưởng chúng ta như một cái gì đó
trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ, mặc dù khái niệm này khó
định nghĩa"(F.De.Saussure ,1973). Cho đến nay đã có hàng trăm
định nghĩa về từ.
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về từ nhưng có thể
thấy rằng mỗi ý kiến lại làm rõ thêm khái niệm từ ở một khía cạnh nào
đó , chứ chưa có khái niệm nhất quán , nhưng tổng hợp các ý kiến lại
thì có thể khái quát lại như sau:
" Từ là một đơn vị của ngôn ngữ , gồm một hoặc một số âm tiết có
Những vấn đề ngôn ngữ học.", Hội nghị khoa học, 2002, (NXB
KHXH) lại cho rằng: " Có thể xem tên riêng là ký hiệu ngôn ngữ đặc
biệt được tạo thành từ một hệ thống kí hiệu đã có để gọi tên cho một
đối tượng khác, có chức năng gọi tên để phân xuất và định danh riêng
cho một đối tượng cá biệt, đơn nhất so với đối tượng cùng loại".
Như vậy mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng tổng hợp lại thì
ta có thể khái quát : tên riêng là tên gọi của từng cá nhân, cá thể, nó
như là một ký hiệu để nhằm phân biệt với những cá nhân, cá thể khác
cùng loại, chẳng hạn như tên người ( Mai, Huệ, Đào); tên gọi các con
vật: con Vàng, con Vện...; tên một số loại cây : cây Na, cây Đào...; tên
gọi các hiện tượng tự nhiên như: Sao Hỏa, Sao Kim...; tên địa danh:
Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình…
1.1.2.2. Tên chung:
Có thể khái quát về tên chung như sau:
Tên chung là tên gọi thường gắn bó với một lớp đối tượng cùng
loại. Nó có mối quan hệ với khái niệm mang tính khái quát hoá ,chức
năng cơ bản của tên chung là gọi tên để thông báo, để biểu niệm.
Ví dụ: Tên người: đàn ông, đàn bà..; tên động vật, chim, thú..; tên
thực vật: cây, cỏ...; tên các hiện tượng tự nhiên: sông, núi, biển, hồ..
9
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
1.2. Trường nghĩa và trường nghĩa chỉ người
1.2.1. Vấn đề trường nghĩa - Tiêu chí để xác lập trường nghĩa.
Khi bàn về vấn đề trường nghĩa thì các nhà nghiên cứu đã có một
số ý kiến như sau:
Theo Nguyễn Thiện Giáp (8.39) thì lý thuyết trường nghĩa xuất
phát từ những tiền đề của trường phái Humboldt mới ( quan niệm mặt
nghĩa của ngôn ngữ là một kết cấu chặt chẽ được phân chia ra thành
Có nhiều cách xác lập trường nghĩa và do đó cũng có nhiều kiểu
trường nghĩa khác nhau. Một số trường nghĩa được nói tới là trường
nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa tuyến tính và
trường nghĩa liên tưởng.
Cơ sở để xác lập trường nghĩa là ý nghĩa của từ mà ý nghĩa của từ
là ý nghĩa ngôn ngữ nên tiêu chí để xác lập các trường phải dựa trên
những tiêu chí ngôn ngữ học.
Tiêu chí để phân lập trường nghĩa biểu vật là sự đồng nhất ở một
nét nghĩa biểu vật nào đó giữa các từ. Nói cách khác, những từ cùng
biểu thị các đối tượng , các hoạt động trạng thái, tính chất, đặc điểm...
thuộc cùng một phạm vi hiện thực, cùng một chủ điểm thì hợp thành
trường biểu vật.
Ví dụ: Các từ : đầu, đuôi, tay, cánh, mõm, mỏ, miệng, bụng, lòng,
vây... có sự đồng nhất ở nét nghĩa biểu vật chúng là những từ chỉ bộ
phận cơ thể người hay động vật. Nhưng giữa các từ đó lại lập thành
từng nhóm, có sự phân lập thành trường nghĩa, sự vật chỉ bộ phận cơ
thể người: đầu , tay, miệng, bụng, lòng, da,... và trường chỉ cơ thể động
vật: đuôi, cánh, mõm, miệng, bụng, lòng, vây...Nếu lấy nét nghĩa phạm
trù khác để phân lập thì cả ba trường này có thể là trường bộ phận của
trường lớn hơn, là trường nghĩa động vật, hay trường nghĩa người.
Như vậy, trong một trường nghĩa sự vật có thể bao gồm nhiều
trường nghĩa hẹp hơn, cấp độ thấp hơn với số lượng từ ít hơn nhưng lại
đồng nhất ở nhiều nét nghĩa hơn. Các từ có càng ít nét nghĩa đồng nhất
thì phạm vi các trường càng rộng và do đó số lượng từ tập hợp trong
trường càng nhiều.
11
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Để xác lập trường nghĩa biểu niệm thì phải dựa vào một nét nghĩa
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Ví dụ: lấy từ: nắm"(động từ) làm trung tâm có thể xác lập trường
nghĩa tuyết tính của nó gồm các từ : tay, vai áo, cái bánh, tóc, thời cơ,
vấn đề, nội dung, vững chắc, hời hợt , sâu sắc... Các từ này phải thoả
mãn ba điều kiện cụ thể trên, cụ thể là: các từ này khi kết hợp với từ
trung tâm: (ví dụ: nắm vạt áo: hoạt động cụ thể bằng tay, nắm vấn đề:
hoạt động của tư duy trừu tượng), các từ này đều có nét nghĩa phù hợp
với nghĩa biểu vật của từ "nắm" là liên quan đến hoạt động của bàn tay
con người và liên quan đến một khối được nén chặt hay một lượng nào
đó, các từ này có những nét nghĩa gần với trung tâm "nắm" chứ không
gồm những từ có nét nghĩa quá xa với những nét nghĩa của từ trung
tâm như: người yêu, tim đen, hoặc ví dụ: từ tuyến tính của “tay” là búp
măng, mềm, ấm, lạnh.... nắm, cầm khác từ “đi” là nhanh, chậm, tập
tễnh...
Trường nghĩa liên tưởng là sự tập hợp các từ theo quan hệ liên
tưởng phải phù hợp với một trong những nét nghĩa của từ đang xét.
Có hai loại trường liên tưởng: Trường hướng tâm và trường ly tâm.
- Trường hướng tâm: là trường mà các từ liên tưởng tới luôn có quan
hệ với từ trung tâm hoặc là điểm xuất phát để hướng tới từ trung tâm.
- Trường ly tâm: là trường liên tưởng không có định hướng các từ
được liên tưởng đến ngày càng xa với những quan hệ ngữ pháp của từ
trung tâm.
Ví dụ: Từ " bò" trong tiếng pháp gợi lên sự liên tưởng: 1- Bò cái,
bò mộng, bê, sừng, gặm cỏ, nhai trầu...; 2- Sự cày bừa, cái cày, cái ách;
3 - Những ý niệm về tính thụ động mà chúng ta gặp trong các lối so
sánh, các thành ngữ Pháp...( 4,188).
Lý thuyết về trường nghĩa có tác dụng rất lớn đối với việc miêu tả
từ vựng của các ngôn ngữ một cách có hệ thống. Vì vậy khi đi vào tìm
hiểu các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao Việt Nam thì
số trường hợp để làm cơ sở định danh bộ phận cơ thể.
Ví dụ : ruột già , ruột non, màng cứng...
- Kích thước, kích cỡ:
14
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Trong tiếng Việt có khoảng 6.1% (13/221) số tên gọi bộ phận cơ
thể người được dựa trên đặc trưng kích thước , kích cỡ.
Ví dụ: Đại não, tiểu não, ngón cái...
- Những đặc trưng tản mạn khác (màu sắc, cấu tạo, hành vi ...)
chỉ có 3.7% (8/221). Số trường hợp tên gọi bộ phận cơ thể người trong
tiếng việt dựa trên những đặc trưng này, chẳng hạn: tròng trắng , huyết
mạch...
Như vậy, các đặc trưng hình thức và vị trí được sử dụng làm cơ
sở định danh bộ phận cơ thể người nhiều hơn tất cả các đặc trưng
khác. Trong đó đặc trưng hình thức luôn luôn đứng đầu, có giá trị nhất
đối với cơ sở định danh. Điều này hoàn toàn phù hợp với những quy
luật nhận thức và biểu thị đối tượng.
* Về cấu trúc ngữ nghĩa:
Theo số liệu thống kê của Nguyễn Đức Tồn qua đối tượng phân
tích là 251 tên gọi thì trong cấu trúc ngữ nghĩa tên gọi bộ phận cơ thể
người tiếng Việt xuất hiện 10 dạng thông tin ( hay 10 loại nghĩa vị ) đó
là :
- Tên gọi chỉ loại (bộ phận chỉnh thể trực tiếp) trong trường từ
vựng tiếng việt, tần số nghĩa vị này là 57% (143/251). Chẳng hạn:
“đầu” - " phần trên cơ thể cùng thân thể con người", “tay” - " bộ phận
cơ thể phía trên con người từ vai đến ngón tay".
- Vị trí (các yếu tố cụ thể hoá ngữ nghĩa là : trên - dưới, trái phải, trong - ngoài, trước - sau...). Tần số nghĩa vị này trong tiếng Việt
Trong từ vựng tiếng Việt tần số nghĩa vị này là 11% (28/251)
chẳng hạn: “nhãn cầu” – “phần chính của mắt, hình cầu, nằm trong hõm
mắt”.
- Thuộc tính vật lý:
Nghĩa vị này chiếm 9% (23/251) trong trường từ chỉ bộ phận cơ
thể người tiếng việt.
Ví dụ: “thịt” - "phần mềm dưới da bao phủ xương trong cơ thể",
"phần mềm của cơ thể người và động vật".
- Màu sắc:
16
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Nghĩa vị này chỉ chiếm 4% (9/251) trong trường từ vựng chẳng
hạn: "máu"- "chất lỏng màu đỏ chảy trong các mạch của cơ thể người
và động vật".
- Thời gian: chiếm tần số ít nhất trong các nghĩa vị, chỉ chiếm 0.8%
(2/251). Ví dụ: "răng khôn" - "răng hàm thứ ba mọc sau 20 tuổi".
Trong từ vựng ngữ nghĩa tên gọi bộ phận cơ thể người là "nhóm
chức năng", cấu trúc của trường này được xây dựng theo bộ phận
chỉnh thể (dẫn theo Nguyễn Đức Tồn, (tr 269)). Hạt nhân cấu trúc ngữ
nghĩa của trường từ vựng chỉ bộ phận cơ thể người gồm siêu nghĩa " vị
trí", "chức năng", " tính sở thuộc" (người , động vật, hoặc cả hai).
Thuộc về ngoại vi của cấu trúc ngữ nghĩa trường này là các nghĩa vị
còn lại: "cấu trúc", "kích thước", "hình thức", "thuộc tính vật lý", "thời
gian”, "màu sắc". Cũng theo ý kiến của Nguyễn Đức Tồn qua việc
phân tích, thống kê các định nghĩa từ điển thì các tên gọi bộ phận cơ
thể con người được chia thành hai trường nhỏ: trường tên gọi bộ phận
cơ thể người đúng nghĩa của từ (chẳng hạn: đầu, tay, tai, mắt, tim,
ruột...) và trường tên gọi "khu vực " tên cơ thể người (ví dụ: vùng
thể là một nhu cầu tất yếu để con người bộc lộ hiểu biết về chính bản
thân mình về thế giới.
2. Những nghiên cứu về con người trong nghệ thuật.
Cái đẹp của thế giới tự nhiên khi đi vào trong Nghệ thuật, qua sự
sáng tạo của con người đã trở nên rực rỡ, lung linh với muôn sắc màu
khác nhau. Song có lẽ cái đẹp mà Nghệ thuật quan tâm và tập trung
chú ý hơn cả là vẻ đẹp của con người. Vẻ đẹp hình thể của con người
xưa nay luôn là đề tài hấp dẫn đối với nghệ thuật. Vì vậy ở mỗi môn
Nghệ thuật có một cách thể hiện về vẻ đẹp hình thể con người khác
nhau. Cụ thể là:
2.1. Con người trong điêu khắc.
Trong hệ thống các loại hình nghệ thuật, nếu văn học là nghệ thuật
sử dụng ngôn từ; âm nhạc dùng âm thanh; điện ảnh, sân khấu lấy cơ
thể diễn viên làm chất liệu để phản ánh thể hiện cuộc sống thì mảng
18
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
khối của những vật liệu có sẳn trong tự nhiên( đất, gỗ, đá...) hoặc vật
liệu nhân tạo (thạch cao, đồng...) lại trở thành vật liệu để xây dựng
hình tượng của nhà điêu khắc. Vẻ đẹp hình thể của con người xưa nay
luôn là một đề tài hấp dẫn đối với nghệ thuật nói chung và các nhà
điêu khắc nói riêng. Pho tượng David của Michelangelo sống mải cùng
thời gian bởi trong tác phẩm này, nhà điêu khắc đã thể hiện vẻ đẹp
hoàn hảo, tuyệt mỹ về hình thể con người. Đó là chân dung một chàng
trai với thân hình lực lưởng, cân đối, đôi mắt gợi cảm mở to vừa điềm
tỉnh vừa linh hoạt, sống mũi thẳng, vành môi dứt khoát...tất cả đều gợi
lên vẻ đẹp, sức mạnh và hạnh phúc của tuổi trẻ, khiến cho người xem
không khỏi kinh ngạc, xuýt xoa.(5,173).
2.2. Con người trong hội hoạ.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
Còn khi miêu tả vẻ đẹp của Thuý Kiều thì Nguyễn Du lại miêu tả
với một vẻ đẹp hết sức độc đáo:
Kiều càng sắc s¶o mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước , nghiêng thành
Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai.
Hay như tác giả Lê Anh Xuân đã miêu tả vẻ đẹp của cô du kích miền
Nam:
Em đẹp lắm mùa xuân bừng dậy
Súng trên vai cũng đẹp như em
Em ơi sao tóc em thơm vậy
Hay em vừa đi qua vườn sầu riêng
Ta yêu giọng em cười trong trẻo
Ngọt ngào như nước dừa xiêm.
(5.175)
20
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Như vậy, ta thấy ở mỗi loại hình Nghệ thuật có một cách thể hiện
khác nhau về hình thể con người nhưng tất cả đều khắc hoạ lên được
những hình tượng rất đẹp và đầy sức thuyết phục.
Để nghiên cứu sâu về lĩnh vực này thì đòi hỏi rất nhiều thời gian.
Đây chỉ là những giới thuyết mang tính sơ bộ giúp cho việc nghiên cứu
đề tài mà thôi.
3. Ca dao và vấn đề phản ánh của ca dao về con người
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Chim lạc bầy thương cây nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi
Ví dầu chẳng biết thời thôi
Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi thêm buồn.
Có khi ca dao được viết theo thể vãn: tuỳ theo số tiếng trong mỗi câu
từ 2,3 đến 4,5 mà có thể vãn hai, vãn ba ,vãn bốn, vãn năm. Tuy nhiên
các thể vãn hai, vãn ba ,vãn bốn thường chỉ được sử dụng trong những
bài vè kể vật, kể việc dùng cho trẻ em hát, vừa hát vừa chơi. Ca dao trữ
tình chỉ sử dụng thể vãn năm, đôi khi có xen vãn bốn:
Hỡi trời cao đất dày
Thuế sao nặng thuế này!
Làng xóm thành bóp bụng
Bán đìa nộp thuế Tây.
( Ca dao Trung bộ)
Có khi lại sáng tác theo thể tự do: tức thể có thể sử dụng số tiếng việt
một cách tự do theo cảm nhận của tác giả để phù hợp với nội dung
phản ánh:
Nước Đông ba chảy qua Đập Đá
Nước Vĩ Dạ chảy xuống ao hồ
Em chưa có chồng thì nói việc đế đô
Có chồng rồi thì khác chi trâu dại, bạ chỗ mô cũng cà.
b - Về mặt nội dung phản ánh con người trong ca dao:
Trong ca dao trữ tình, tình yêu của người dân lao động được biểu
hiện rất nhiều mặt: tình yêu giữa đôi bên trai gái, yêu gia đình, yêu
xóm làng, yêu đồng ruộng, yêu đất nước, yêu lao động, yêu giai cấp,
yêu thiên nhiên, yêu hoà bình. Không những thế ca dao còn biểu hiện
tư tưởng đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong cuộc sống xã hội,
trong những tiếp cận với thiên nhiên và sự trưởng thành của tư tưởng
tình yêu liên quan đến đồng ruộng, đến xóm làng như: nhớ người yêu
nhớ cả quê hương, nhớ cả thức ăn, thức uống, nhớ cả những công việc
vất vả hàng ngày:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
24
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Nhớ ai giải nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.
Trong cảnh lầm than, tình yêu của nhân dân lao động Việt Nam vẫn
thắm thiết, có khi còn thêm gắn bó bằng lời keo sơn, cho nên trong
sinh hoạt khó khăn và gian khổ họ vẫn hăng hái và bền bỉ.
Lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam hoà với lòng yêu những
cảnh thiên nhiên đất nước, hoà với cảnh yêu đồng ruộng, cảnh chợ,
con đò, trong tình yêu ấy nhân dân nói lên những cái đặc biệt, những
cái phong phú của từng miền như ca ngợi núi rừng hùng vĩ của Điện
Biên ca dao có câu:
Đường lên Mường - Lễ bao xa?
Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh!
- Hay nói về cảnh miền Bắc Việt nam:
Nước sông Thao biết bao giờ cạn!
Núi Ba Vì biết vạn nào cây...
Trong lao động những câu ca tiếng hát có tác dụng điều chỉnh tiết
tấu có tác động gây phấn khởi, làm cho người ta quên mệt nhọc, làm
cho lao động hoá nhẹ nhàng và có hiệu suất hơn:
Trâu ơi, ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia,