ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MOUKSIKHAM KHEMDY
KHẢO SÁT THÀNH NGỮ CÓ TỪ CHỈ BỘ PHẬN CƠ
THỂ NGƯỜI TRONG TIẾNG LÀO
(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MOUKSIKHAM KHEMDY
KHẢO SÁT THÀNH NGỮ CÓ TỪ CHỈ BỘ PHẬN
CƠ THỂ NGƯỜI TRONG TIẾNG LÀO
(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 02 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ HỒNG HẠNH
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 11 tháng 01 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Mouksikham Khemdy
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................ ii
MỤC LỤC ............................................................................................................. iii
DANH SÁCH HÌNH, BẢNG BIỂU ...................................................................... v
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài ................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................... 4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu .................................................................................... 5
6. Ý nghĩa của đề tài ............................................................................................... 6
7. Bố cục luận văn .................................................................................................. 6
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN ........................................................................... 7
1.1. Thành ngữ trong tiếng Lào .............................................................................. 7
1.1.1. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Lào .................................................... 7
1.1.2. Một số đặc điểm về thành ngữ trong tiếng Lào ........................................... 9
1.2. Thành ngữ trong tiếng Việt ........................................................................... 20
1.2.1. Quan điểm về thành ngữ ............................................................................ 20
1.2.2. Đặc điểm của thành ngữ ............................................................................. 21
3.2. Phạm vi ý niệm đích của phép ẩn dụ trong thành ngữ có chứa từ chỉ bộ phận
cơ thể ngƣời .......................................................................................................... 72
3.2.1. Phân loại ý niệm đích của phép ẩn dụ ........................................................ 72
3.2.2. Tính phổ biến và riêng biệt của phạm vi ý niệm đích................................ 75
3.3. Tiểu kết chƣơng 3.......................................................................................... 79
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 83
iv
DANH SÁCH HÌNH, BẢNG
Danh sách hình
Hình 1.1. Sơ đồ cách hiểu ẩn dụ từ bình diện ngôn ngữ học nhân chủng ................16
Danh sách bảng
Bảng 2.1. Phân loại các thành ngữ có chứa từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời ............ 31
Bảng 2.2. Thống kê các bộ phận cơ thể xuất hiện trong thành ngữ Lào ............. 34
Bảng 2.3. Phân loại các từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời xuất hiện trong thành ngữ
Lào theo đầu/mình/tứ chi ..................................................................................... 36
Bảng 2.4. Phân loại các từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong thành ngữ Lào theo bộ
phận bên ngoài/bên trong cơ thể .......................................................................... 39
Bảng 2.5. Đối chiếu số lần xuất hiện của các thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời
có cả trong tiếng Lào và tiếng Việt ...................................................................... 47
Bảng 2.6. Đối chiếu các loại từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong thành ngữ tiếng
Lào và Tiếng Việt................................................................................................. 50
Bảng 2.7. Đối chiếu các bộ phận chỉ cơ thể ngƣời trong thành ngữ tiếng Lào và
tiếng Việt theo sự phận chia bộ phận bên trong/bên ngoài cơ thể ....................... 53
Bảng 2.8. Đối chiếu về cấu tạo của thành ngữ chứa từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời
trong tiếng Lào và tiếng Việt ............................................................................... 56
thấy trong muôn mặt đời sống của cƣ dân Lào và Việt, trong đó đƣợc thể hiện rất
rõ qua kho tàng những câu thành ngữ, tục ngữ của hai dân tộc. Thành ngữ đƣợc
1
coi là một phần không thể thiếu trong ngôn ngữ thông thƣờng, nó là kết quả của
óc sáng tạo của nhân dân lao động mỗi nƣớc, nó phản ánh cuộc sống sinh hoạt
hàng ngày của ngƣời dân, phản ánh những giá trị tinh thần, tình cảm, những triết
lý nhân sinh về cuộc sống, nó là một bộ phận góp phần xây dựng nên nét văn
hoá đặc trƣng trong bản sắc văn hoá của mỗi nƣớc.
Xuất phát từ những lý do trên, ngƣời viết đã chọn đề tài “Khảo sát thành
ngữ có từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Lào (có so sánh với tiếng Việt)”
nhằm để tìm ra những nét tƣơng đồng và khác biệt trong thành ngữ hai nƣớc nói
riêng, và trong văn hoá của hai dân tộc nói chung.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Thành ngữ, tục ngữ là những sản phẩm văn hoá dân gian, là những tài sản
vô giá của dân tộc Lào cũng nhƣ Việt Nam cần lƣu giữ và phát huy. Vì thế việc
nghiên cứu về những nét văn hoá, giá trị, ý nghĩa trong kho tàng tục ngữ, thành
ngữ của mỗi nƣớc cũng nhƣ đối chiếu giữa hai nƣớc là việc rất cần thiết, góp
phần bảo tồn, phát huy đƣợc những nét đẹp trong văn học dân gian của hai nƣớc.
Cho đến nay việc nghiên cứu về tục ngữ, thành ngữ của Lào cũng nhƣ Việt Nam
đã đƣợc quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn.
Tại Lào, công trình nghiên cứu đƣợc coi là sớm nhất và rất có gí trị đó là
một số cuốn truyện thơ, ca dao, thành ngữ, tục ngữ Lào do Ma hả Xi La Vị La
Vông và nhóm những ngƣời bạn trí thức Tây học của ông đã sƣu tầm, biên soạn
từ những năm 1940.
Đến năm 1987, Uỷ ban Khoa học Xã hội Lào phối hợp với Viện Nghiên
cứu Đông Nam Á trực thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam đã xuất bản
cuốn “Văn học Lào” dày 527 trang. Đây đƣợc coi là một công trình đầu tiên ở
Tuyết Phƣợng, Đinh Kim Cƣơng, Võ Quang Nhơn biên soạn và dịch năm 1981.
Trong đó có trình bày nội dung về văn hoá dân gian Lào, bao gồm thành ngữ và
tục ngữ của Lào.
Bên cạnh đó còn một số bài nghiên cứu trên các tạp chí nhƣ bài viết “Sơ bộ
tìm hiểu luật hiệp vần và vần trong xú pha xít Lào” của Trịnh Đức Hiển năm 1991,
đăng trên Tạp chí Văn hoá dân gian, số (1); cũng của tác giả Trịnh Đức Hiển là bài
viết “Một số hình thức thể hiện tính hình tượng trong xú pha xít Lào” trên Tạp chí
Văn hoá dân gian, số (2); “Tìm hiểu mảng tục ngữ Việt và xú pha xít Lào về văn hoá
3
ứng xử” của tác giả Trần Văn Thông trên Tạp chí Văn hoá dân gian, số (1), năm
1998; “Tìm hiểu lối nói của người Việt và người Lào qua tục ngữ” cũng của tác giả
Trần Văn Thông trong Tạp chí Văn hoá dân gian, số (2) năm 2003.
Ngoài ra còn một số luận văn, luận án nhƣ luận văn thạc sĩ “Tìm hiểu tục
ngữ Việt và xú pha xít Lào về văn hoá ứng xử” của Nguyễn Văn Thông năm
2002, chuyên ngành Lý thuyết và lịch sử văn học; Luận án tiến sĩ “So sánh tục
ngữ Việt và tục ngữ Lào”, chuyên ngành Văn học dân gian, cũng của tác giả
Nguyễn Văn Thông năm 2009; Luận văn chuyên ngành Ngôn ngữ học “Đối
chiếu thành ngữ có yếu tố chỉ tên gọi động vật trong tiếng Lào với hình thức
tương đương tiếng Việt” của Thipphavanh Soulinthavong.
Nhƣ vậy có thể thấy các công trình nghiên cứu chi tiết, đối chiếu về thành
ngữ Lào và Việt chƣa nhiều, chƣa có đề tài nào dành riêng nghiên cứu về thành
ngữ có chứa từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong tiếng Lào. Vì thế trên cơ sở kế thừa
các nghiên cứu của các tác giả đi trƣớc, ngƣời viết nghiên cứu vấn đề “Khảo sát
thành ngữ có từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Lào (có so sánh với tiếng
Việt)” với hy vọng sẽ góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về
thành ngữ, tục ngữ Lào - Việt nói riêng và văn hoá Lào - Việt nói chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là thành ngữ có chứa từ chỉ bộ phận
cơ thể trong thành ngữ Lào và có so sánh với tiếng Việt.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào thành ngữ của Lào có chứa các từ chỉ bộ phận cơ
thể con ngƣời thông qua các đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa và so sánh, đối
chiếu thành ngữ này giữa tiếng Lào và tiếng Việt về mặt văn hoá.
5. Ph
ng ph p nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp và thủ pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Thủ pháp thu thập tài liệu: Luận văn đã nghiên cứu, thu thập các câu
thành ngữ của Lào có chứa các từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời.
- Thủ pháp thống kê: Trên cơ sở những câu thành ngữ đã thu đƣợc, ngƣời
viết tiến hành thống kê số lƣợng và phân loại theo các tiêu chí cụ thể, góp phần
trình bày một cách khoa học về vấn đề nghiên cứu.
- Phƣơng pháp phân tích miêu tả: Phân tích, miêu tả đặc điểm cấu trúc và
ngữ nghĩa của từ chỉ bộ phận cơ thể trong thành ngữ tiếng Lào
- Thủ pháp so sánh - đối chiếu: Để góp phần tìm nội hàm văn hóa có trong
những thành ngữ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong tiếng Lào, trong một mức độ
nhất định, có so với thành ngữ tƣơng đƣơng trong tiếng Việt, từ đó rút ra những
điểm giống và khác trong văn hoá của hai dân tộc Lào và Việt.
5
6. Ý nghĩa của đề tài
6.1. Ý nghĩa khoa học
Luận văn đã góp phần làm sáng tỏ hệ thống cơ sở lý thuyết về thành ngữ
trong tiếng Lào, phân biệt giữa thành ngữ, tục ngữ từ đó giúp ngƣời đọc hiểu rõ
thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh, khó có thể thay đổi; thành ngữ biểu hiện
một khái niệm tƣơng tự nhƣ đơn vị từ, dùng để tạo thành phần câu nhƣ từ, hay
nói cách khác, nó có chức năng nhƣ từ, ngƣời ta có thể thay thế nó bằng một từ
tƣơng ứng với nó trong câu,..
Trong tiếng Lào, theo truyền thống nghiên cứu, các nhà folklore Lào hầu
nhƣ không chú ý phân chia thành ngữ, tục ngữ riêng biệt mà gọi chung là xú pha
xít - lời dạy có tính chất giáo huấn. Khái niệm xú pha xít của ngƣời Lào đồng
nghĩa với khái niệm tục ngữ và khái niệm thành ngữ của ngƣời Việt, tức là trong
xú pha xít có hai bộ phận, một bộ phận là thành ngữ, bộ phận còn lại là tục ngữ.
Trong luận văn này ngƣời viết thực hiện so sánh đối chiếu giữa xú pha xít trong
tiếng Lào và thành ngữ tiếng Việt. Tuy nhiên để thuận tiện về cách dùng từ cũng
nhƣ tƣơng ứng với cách gọi thành ngữ trong tiếng Việt, luận văn sẽ sử dụng từ
“thành ngữ” đối với cả tiếng Lào và tiếng Việt thay vì dùng xú pha xít.
“Xú pha xít” của Lào là những lời có ý nghĩa nhƣng ngắn, nó xuất phát từ
tác phẩm điêu khắc cổ xƣa của Bruce Hahn. Trong đó thành ngữ tiếng Lào là
đơn vị tiêu biểu của ngữ cố định trong tiếng Lào, do ngƣời Lào sáng tạo và lƣu
truyền. Cũng nhƣ thành ngữ của các dân tộc khác, thành ngữ Lào có kết cấu ổn
định, ý nghĩa hoàn chỉnh, hình thức giản tiện, nhƣng khả năng biểu đạt cô đọng,
7
súc tích, hàm ẩn, hình tƣợng, sinh động và đọc đáo. Nó góp phần nói lên văn hóa
ngôn ngữ, giao tiếp đậm đà bản sắc dân tộc của ngƣời Lào, cùng đó là cách nhìn,
đánh giá về mọi việc trong tự nhiên và xã hội của họ.
Trong giáo trình “Tiếng Lào và văn học lớp 6” (Bộ giáo dục và thể thao)
cho rằng: thành ngữ là những lời nói có ý nghĩa sâu sắc nhƣng ngắn do ngƣời
dân sáng tạo từ thời xƣa. Thành ngữ là một thể loại văn học cổ truyền của Lào
mà tác giả thƣờng sử dụng các từ ngắn có liên hệ với nhau để ngƣời nghe dễ hiểu
và dễ nhớ lâu. Nội dung của thành ngữ là lời khuyên để con ngƣời nhìn nhận lại
thành lối sống đã đƣợc phản ánh trong thành ngữ cổ truyền của Lào.
1.1.2. Một số đặc điểm về thành ngữ trong tiếng Lào
1.1.2.1. Đặc điểm cấu tạo:
Đặc trƣng của thành ngữ Lào (xú pha xít) có nhiều nét tƣơng đồng với
thành ngữ Việt.
- Về mặt cấu tạo: Thành ngữ Lào thƣờng là một ngữ, một cụm từ cố định,
làm thành phần cấu tạo câu. Kết cấu thành ngữ Lào đơn giản hơn của Việt, nó có
thể tối giản chỉ còn 1 vế, nhƣng thƣờng là có 2 vế có thể đối nhau song song, có
thể lệch nhau. Ví dụ:
+ “Tà nhày quà thoọng” (Mắt to hơn bụng). Câu thành ngữ đƣợc cấu tạo
với một vế đơn giản gồm có: Chủ ngữ (mắt) + Cụm vị ngữ (to hơn bụng).
+ “Chếp khư tắt xịn” (Đau nhƣ cắt thịt). Câu thành ngữ đã đƣợc tối giản ngắn
gọn, lƣợc bớt chủ ngữ, với cấu tạo gồm: Vị ngữ (đau) + Bổ ngữ (nhƣ cắt thịt).
+ “Nhín cắp hủ, đu cắp tà” (Nghe với tai, nhìn với mắt”. Câu thành ngữ
gồm 2 vế đã đƣợc lƣợc giảm chủ ngữ ở mỗi vế. Trong đó: Cụm vị ngữ 1 (Nghe +
với tai), Cụm vị ngữ 2 (Nhìn + với mắt).
- Về mặt chức năng: Thành ngữ Lào thƣờng miêu tả một hành động, sự
vật, sự việc, tính chất, trạng thái,… của ngƣời hay vật, sự vật. Nội dung những
miêu tả đó thƣờng mang tính chất ngẫu nhiên và riêng lẻ; Thành ngữ thƣờng
mang chức năng gọi tên (định danh) sự vật, hiện tƣợng.
Nhƣ vậy thành ngữ Lào có kết cấu của một cú/ngữ , khi đọc hoặc nghe có
thể hiểu nghĩa và có thể rút ra bài học kinh nghiệm, vì nghĩa của câu thành ngữ
đều là những bài học kinh nghiệm đƣợc rút ra qua quá trình lao động, cuộc chiến
đấu để cải thiện tự nhiên và xã hội, hơn nữa nó còn là việc nâng cao trình độ hiểu
9
biết của con ngƣời. Vì vậy, có thể nói là câu thành ngữ trong văn học dân gian của
Lào là những lời nói tốt đẹp nhƣng ngắn, là những lời khuyên trong cuộc sống.
Tác giả Hà Công Tài trong Từ kí hiệu học đến thi pháp học quan niệm:
“Biểu trưng là một sự vật mang tính chất thông điệp được dùng để chỉ ra một cái
ở bên ngoài, theo một quan hệ ước lệ, tức võ đoán (không tất yếu) giữa sự vật
trong thông điệp và bên ngoài” [45].
Nói đến khía cạnh sâu hơn về biểu trƣng, ở bình diện biểu trƣng nghệ
thuật, tác giả Đỗ Hữu Châu nói: “Nguồn gốc của ngôn ngữ không có gì khác
chính là sự sử dụng những yếu tố, những chi tiết của đời sống hiện thực vào mục
đích thẩm mỹ. Khi đi vào tác phẩm (câu nói) dưới dạng ngôn từ những yếu tố,
những chi tiết ấy sẽ không còn là bản thân nó như trong thực tại, mà trở thành
hình thức do một nội dung ý nghĩa mang tính khái quát, vượt ra ngoài phạm vi
ngữ nghĩa thông dụng của những yếu tố ngôn từ được sử dụng. Ta gọi đó là ý
nghĩa biểu trưng nghệ thuật” [2].
Gần gũi hơn, trong cuộc sống và đặc biệt là trong văn học, chúng ta
thƣờng bắt gặp hình ảnh biểu trƣng của các con vật nhƣ: chim bồ câu: biểu trƣng
cho sự hòa bình; chim đại bàng biểu trƣng cho sự kiêu hãnh, dũng mãnh; con cò
gợi lên hình ảnh ngƣời nông cần mẫn, chăm chỉ làm lụng kiếm ăn;... Hay các đồ
vật biểu trƣng cho quan niệm của ngƣời phƣơng Đông nhƣ: màu trắng tƣợng
trƣng cho sự tang tóc; màu đỏ tƣợng trƣng cho sự ấm áp, chiến thắng, viên mãn;
cán cân biểu trƣng cho công lý;... Thành ngữ là một đơn vị định danh bậc hai,
nghĩa là nội dung của thành ngữ không nhắc đến trong nghĩa đen của từ ngữ, mà
gợi ý điều gì đó suy ra từ chúng. Hay nói cách khác qua cách cấu tạo, cách dùng
ngƣời ta đã thổi vào đó những giá trị biểu trƣng, những ý nghĩa trừu tƣợng dƣới
hình thức những sự vật cụ thể. Giá trị biểu trƣng trong thành ngữ chính là những
giá trị ngữ nghĩa nhất định mà cộng đồng ngƣời bản ngữ gán cho một sự vật, một
hiện tƣợng một thuộc tính thế nào đó theo cách cảm nhận và suy nghẫm của họ.
Chính nghĩa biểu trƣng này đã tạo nên hiện tƣợng nhiều nghĩa của thành ngữ.
Chẳng hạn, có một thành ngữ Lào phản ánh những tình cảm gắn bó giữa
những ngƣời thân ruột thịt, ghi nhớ nguồn gốc, nguồn cội của mình: “Nốc mì
động, sinh hoạt, do sự trải nghiệm của ngƣời dân, phản ánh lối sống, in dấu lối
nghĩ, tiêu biểu cho lối nói của ngƣời lao động Lào.
Sự phản ánh những đặc trƣng văn hóa dân tộc Lào trong thành ngữ đƣợc
thể hiện qua quá trình biểu trƣng hóa. Trong đó có hai loại biểu trƣng hóa là:
13
- Biểu trƣng hóa dựa vào quan hệ tƣơng thích giữa âm và nghĩa, gọi là giá
trị biểu trƣng hóa ngữ âm.
- Biểu trƣng hóa dựa vào quan hệ tƣơng đồng và tƣơng cần trong quá trình
liên hội ngữ nghĩa, gọi là biểu trƣng hóa ngữ nghĩa. Hình thái liên hội ngữ nghĩa
theo quan hệ tƣơng đồng là so sánh. Và nghĩa của thành ngữ thƣờng là kết quả
của hình thái biểu trƣng hóa:
+ Hình thái tỉ dụ (so sánh). Những thành ngữ có cấu trúc là một cấu trúc
so sánh. Ví dụ nhƣ các thành ngữ: Hột khư xửa (Dữ nhƣ hổ); Kin khư meo (Ăn
nhƣ mèo); Ngô khư ngua (Ngu nhƣ bò); Đạy mia xàng pan kẹo khun hươn
(Đƣợc vợ khéo nhƣ đƣợc ngọc đầy nhà).
+ Hình thái ẩn dụ (so sánh ngầm). Bản thân những thành ngữ so sánh
cũng chứa đựng tính ẩn dụ, do đó luận văn chủ yếu khảo sát tính ẩn dụ trong cả
thành ngữ ẩn dụ lẫn thành ngữ mang tính ẩn dụ.
Ẩn dụ đƣợc sử dụng rất nhiều trong ngôn ngữ và lời nói. Theo Đại từ
điển Bách Khoa, phần “Ngôn ngữ học” định nghĩa: “Ẩn dụ là cơ chế của lời
nói thể hiện trong cách dùng từ, biểu hiện một lớp sự vật, hiện tƣợng nào đó...
để định tính hoặc gọi tên những đối tƣợng thuộc một lớp khác, hoặc gọi tên
một lớp đối tƣợng khác tƣơng đồng với lớp đã cho trong một quan hệ nào đó.
Với nghĩa rộng, thuật ngữ ẩn dụ đƣợc áp dụng cho bất cứ cách dùng từ nào với
nghĩa bóng” [6, tr. 279].
Nhiều nhà nghiên cứu nhƣ Đỗ Hữu Châu, Cù Đình Tú, Đinh Trọng
Lạc... đã coi “ẩn dụ là phép hay cách thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so
ngữ loại này không phản ánh cái nghĩa đích thực của chúng. Cấu trúc đó, có
chăng chỉ là cơ sở để nhận ra một nghĩa “sơ khởi”, “cấp một” nào đó, rồi trên
nền tảng của “nghĩa cấp một” này ngƣời ta mới rút ra, nhận ra và hiểu lấy ý
nghĩa đích thức của thành ngữ.
Một trong những quan điểm quan trọng có thể áp dụng trong nghiên cứu
tính ẩn dụ trong thành ngữ đó là quan điểm của Z. Kövecses [62]. Ông không chỉ
nghiên cứu cơ chế của ẩn dụ mà còn chú ý đến các phƣơng diện văn hóa xã hội
trong ẩn dụ, và cách tiếp cận của ông gần giống với ngôn ngữ học nhân chủng.
Ông cho rằng nếu văn hóa đƣợc hiểu là một tập hợp các hiểu biết đƣợc chia sẻ
nhằm đặc trƣng hóa một nhóm ngƣời nhỏ hơn hay lớn hơn và nếu ẩn dụ theo
15
quan điểm của Lakoff và John không phải thuộc về ngôn ngữ mà thuộc về tƣ duy
thì những hiểu biết đƣợc chia sẻ có thể hiểu là những hiểu biết mang tính ẩn dụ.
Từ đó ông cho rằng mối quan hệ giữa ẩn dụ và văn hóa là ở chỗ: có những ẩn dụ
mang tính phổ niệm và có những biến thể mang tính riêng biệt trong các nền văn
hóa khác nhau. Đây là một trong những quan điểm quan trọng mà luận văn sẽ áp
dụng trong nghiên cứu, khảo sát về tính ẩn dụ trong thành ngữ có chứa từ chỉ bộ
phận cơ thể ngƣời trong tiếng Lào tại các chƣơng sau. Cũng trên cơ sở quan
điểm của Kövecses, tác giả Trần Thị Hồng Hạnh đã đƣa ra một sơ đồ về cách
hiểu ẩn dụ từ bình diện ngôn ngữ học nhân chủng, đây cũng là nội dung đƣợc
luận văn áp dụng trong nghiên cứu chƣơng 3.
Hình 1.1. S đồ c ch hiểu ẩn dụ từ bình diện ngôn ngữ học nhân chủng
(Nguồn: Trần Thị Hồng Hạnh, 2011 [20]
Ý niệm nguồn của ẩn dụ:
Ẩn dụ mang tính phổ niệm: Theo Chu Văn Tuấn nghĩa của ẩn dụ trong
thành ngữ đƣợc xây dựng từ sự liên tƣởng dựa trên các yếu tố: Hiện tƣợng tự
Miệng, lòng (thuộc bộ phận cơ thể ngƣời); Phật, quỷ (thuộc sự vật, văn hóa đặc
trƣng). Câu thành ngữ có nội dung: Ngƣời bên ngoài tỏ ra tốt bụng, hiền lành,
nói lời hay, nhƣng bên trong con ngƣời là một ngƣời nham hiểm, độc ác. Trong
câu thành ngữ đã xuất hiện từ “Phật”, đó cũng là một hình ảnh thể hiện đƣợc nét
17
đặc trƣng văn hóa của dân tộc Lào. Hay trong thành ngữ không xuất hiện những
con vật nhƣ công, loan, phƣợng, nhƣng những con vật này lại xuất hiện nhiều
trong thành ngữ tiếng Việt và đƣợc ngƣời Việt đề cao, gắn với những hình ảnh
đẹp, thiêng liêng, cao quý và mang ý nghĩa biểu trƣng tích cực. Ví dụ nhƣ câu:
“Lọng vàng che nải chuối xanh, tiếc con chim loan phượng đậu nhành tre khô”;
“Sáo mượn lông công”... Đây cũng là một nét đặc trƣng, khác biệt trong tƣ duy
của ngƣời Lào và ngƣời Việt.
Ý niệm đích của tính ẩn dụ: Đặc điểm văn hóa xã hội không chỉ phản
ánh trong ý niệm nguồn mà còn trong ý niệm đích. Khi phân loại thành ngữ, tác
giả Cù Đình Tú đã căn cứ vào sựu tƣơng tác đặc trƣng từ loại giữa thành ngữ và
từ để phân chia thành ngữ tiếng Việt thành: Thành ngữ biểu thị sự vật, thành ngữ
biểu thị tính chất, thành ngữ biểu thị hành động. Tác giả Kövecses cùng với việc
đƣa ra 13 ý niệm nguồn phổ biến trong tiếng Anh, cũng đã đƣa ra danh sách 13
phạm vi ý niệm đích phổ biến của ẩn dụ trong tiếng Anh gồm: Tình cảm, mong
muốn, chuẩn mực đạo đức, tƣ duy, xã hội, tôn giáo, chính trị, kinh tế, quan hệ
con ngƣời, giao tiếp, sự kiện và hành động, thời gian, cuộc sống và cái chết [63].
Tác giả Trần Thị Hồng Hạnh trên cơ sở lấy con ngƣời làm trung tâm, trên
cơ sở kết hợp cách phân loại truyền thống và hiện đại đã phân loại ý niệm đích
trong thành ngữ Việt thành các nội dung sau: Ngoại hình và sức khỏe; Trạng thái
tâm lý, tình cảm, cảm xúc; Tính cách, phẩm chất (Thuộc tính con ngƣời); Cuộc
sống (Vật chất và tinh thần); Quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời; Thời gian;
Hành động, sự việc, trạng thái; Tính chất sự vật [20].