1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP VIỆN
HIỆN TƯỢNG CHUYỂN ĐỔI TỪ LOẠI CÁC TỪ CHỈ BỘ
PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG TIẾNG ANH
(TRONG SỰ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)
Mã số đề tài: V2014-28
Chủ nhiệm đề tài: TS. HỒ NGỌC TRUNG
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
2
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA
THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. TS. Hồ Ngọc Trung – Chủ nhiệm đề tài
2. TS. Hoàng Tuyết Minh
3
MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng
Phần mở đầu
1
Chương 1: Cơ sở lý luận
4
1.1 Lược sử vấn đề nghiên cứu
4
1.2 Giới thiệu về sự chuyển nghĩa của từ trong tiếng Anh và tiếng Việt
5
1.3 Các phương thức tạo từ trong tiếng Anh và tiếng Việt
12
1.4 Hiện tượng chuyển đổi từ loại trong tiếng Anh và tiếng Việt
17
từ quá trình chuyển đổi từ loại các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong
tiếng Anh
80
4.1.1 Giới thiệu đối tượng khảo sát
80
4.1.2 Kết quả khảo sát
82
4.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng các từ được tạo ra từ
quá trình chuyển đổi từ loại các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng
Anh
86
Kết luận và kiến nghị
91
Tài liệu tham khảo
94
Phụ lục
98
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CĐTL: chuyển đổi từ loại
BPCTN: bộ phận cơ thể người
ĐVHT: đơn vị học trình
5
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Hiện tượng cụ thể hóa nghĩa
7
Bảng 1.2: Hiện tượng khái quát hóa nghĩa
8
Bảng 1.3: Bảng tên gọi bộ phận cơ thể người thông dụng và theo khoa
học
7
thời giúp người học nâng cao khả năng sử dụng các từ được tạo ra từ quá trình
CĐTL các từ chỉ BPCTN trong tiếng Anh và các hình thức diễn đạt tương
đương trong tiếng Việt.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Khảo sát các các từ chỉ BPCTN trong tiếng Anh có chuyển đổi từ loại.
- Nghiên cứu các đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của các từ được tạo ra từ
quá trình CĐTL các từ chỉ BPCTN trong tiếng Anh nhằm xác định các
hướng chuyển đổi nghĩa của quá trình CĐTL các từ chỉ BPCTN trong
tiếng Anh.
- Phát hiện các phương thức diễn đạt tương đương trong tiếng Việt của
các từ được tạo ra từ quá trình CĐTL các từ chỉ BPCTN trong tiếng
Anh.
- Khảo sát và tìm ra các lỗi sinh viên Khoa tiếng Anh thường mắc phải
trong quá trình sử dụng các từ được tạo ra từ quá trình CĐTL các từ chỉ
BPCTN trong tiếng Anh, cũng như trong quá trình sử dụng các hình
thức diễn đạt tương đương trong tiếng Việt.
3. Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
3.1 Phương pháp tiếp cận
Xuất phát từ hệ thống từ chỉ BPCTN trong tiếng Anh, đề tài khảo sát
các từ có hiện tượng CĐTL về phương diện nghĩa ngữ pháp và nghĩa từ vựng
trên nền tảng cứ liệu thu thập từ từ điển Anh – Anh – Việt, các văn bản văn
học và tin tức, nhằm xác định các hướng chuyển đổi từ loại, các hướng
chuyển đổi nghĩa và khái quát hóa các hình thức diễn đạt tương đương trong
tiếng Việt.
8
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng ba phương pháp nghiên cứu chính: phân tích thành tố
nghĩa, miêu tả và so sánh, với sự hỗ trợ của thủ pháp thống kê và phân tích
lỗi.
giới thiệu, chưa thể mang tính hệ thống, (ii) Đề tài chưa nghiên cứu đến mối
quan hệ giữa các nghĩa phái sinh trong cùng một từ với các trường hợp
chuyển nghĩa trong quá trình chuyển loại từ, và (iii) Đề tài chỉ mới dừng lại ở
mô tả nghĩa, chưa sử dụng đến phương pháp phân tích thành tố nghĩa để xác
định các hướng chuyển nghĩa.
Ngoài công trình này ra, điểm qua các công trình nghiên cứu trong và
ngoài nước có liên quan đến hiện tượng chuyển đổi từ loại, ví dụ như Hồ Lê
(2003); Hoàng Văn Hành, Hà Quang Năng, Nguyễn Văn Khang (1998); Lê
Biên (1995); Hoang Tat Truong (1993), Dang Tran Cuong (2001); Plag
I.(2002); Sanders G. (1988); Antrushina G.B., Afanasyeva O.V., Morozov
N.N. (1985); Meltser G.M., Grinberg L.E., Kuznets M.D., Kumacheva
A.V.(1960); chúng tôi nhận thấy hiện tượng này được đề cập đến ở một trong
hai góc độ: (i) với tư cách là một trong những phương thức tạo từ, hoặc (ii)
10
với tư cách là một hiện tượng có liên quan đến quá trình chuyển đổi nghĩa từ.
Tuy nhiên có hai vấn đề nổi bật có thể nhận thấy được từ các công trình
nghiên cứu đó là:
1. Việc nghiên cứu hiện tượng CĐTL chỉ mới dừng lại ở mức đại
cương, thuộc một phần của công trình nghiên cứu tổng quan về từ vựng – ngữ
nghĩa. Phương thức tạo từ này cho đến nay chưa được nghiên cứu chuyên sâu
trong một công trình khoa học cụ thể.
2. Ở một phạm vi hẹp hơn, hiện tượng CĐTL các từ chỉ BPCTN chỉ
được nhắc đến qua một số ví dụ liên quan đến hiện tượng CĐTL hay hiện
tượng chuyển nghĩa, chứ chưa có bất kỳ một nghiên cứu có tính hệ thống,
chuyên sâu nào.
Xuất phát từ lí do trên, nhóm tác giả dự định đi sâu tìm hiểu một cách
có hệ thống đặc điểm ngữ pháp – ngữ nghĩa và các phương thức diễn đạt
tương đương trong tiếng Việt của một góc tuy nhỏ, nhưng phổ biến của hiện
tượng CĐTL trong tiếng Anh: hiện tượng CĐTL các từ chỉ BPCTN.
1.2 Giới thiệu về sự chuyển nghĩa của từ trong tiếng Anh và tiếng Việt
onomasiological (thuộc về danh xưng học). Sự khác biệt giữa hai cơ chế này
thể hiện ở chỗ trong khi ở ngữ nghĩa học nghĩa mới được hình thành trong từ
đã có sẵn, thì ở danh xưng học sự thay đổi nghĩa sẽ dẫn đến việc hình thành từ
mới, cho dù khái niệm đã được từ vựng hóa trước đó. Nói một cách khác, cơ
chế ngữ nghĩa học cung cấp nghĩa mới cho các từ có sẵn, còn cơ chế danh
xưng học thì lại phủ lên nghĩa mới một lớp vỏ từ vựng chưa có trong kho tàng
từ vựng của một ngôn ngữ cụ thể. Trong phạm vi cơ chế ngữ nghĩa học,
Greeraerts D. (2010: 26-27) và Nguyen Hoa (2004: 103-105) đều giống nhau
khi cho rằng nghĩa của từ thay đổi ở hai phương diện: nghĩa biểu niệm / nghĩa
định danh (denotational, referential meaning) và nghĩa biểu cảm
12
(connotational meaning). Sự thay đổi nghĩa biểu niệm tiếp tục được phân ra
thành hai loại: thay đổi tương xứng (analogical) – tức nghĩa biến đổi theo
hướng dựa trên sao chép cấu trúc ngữ nghĩa của từ liên quan, và sự thay đổi
bất tương xứng (non-analogical) – quá trình chuyển nghĩa không phụ thuộc
vào cấu trúc ngữ nghĩa của từ liên quan. Trên cơ sở đó, tác giả Greeraerts D.
(2010) nêu ra bốn xu hướng chuyển đổi nghĩa chính trong ngôn ngữ nói
chung, và trong tiếng Anh nói riêng như sau:
(i) Thay đổi nghĩa biểu niệm bất tương xứng
Xu hướng thay đổi nghĩa biểu niệm bất tương xứng được thể hiện qua
hiện tượng cụ thể hóa nghĩa (specialization), khái quát hóa nghĩa
(generalization), hoán dụ (metonymy) và ẩn dụ (metaphor). Đối với hiện
tượng cụ thể hóa nghĩa, từ hình thành nghĩa mới có nội hàm hẹp hơn so với
nghĩa cũ, ví dụ:
Bảng 1.1: Hiện tượng cụ thể hóa nghĩa
Từ
Nghĩa cũ
Nghĩa mới
Phạm vi cụ thể
hóa nghĩa
đối tượng di
chuyển
pipe
ống sáo
ống / vật hình ống
hình dáng
fly
bay bằng cánh
di chuyển trong không
trung
phương thức di
chuyển
camp
trại lính
trại
đối tượng sử dụng
Với hiện tượng hoán dụ, nghĩa mới được hình thành trong mối quan hệ có
tính tương cận với nghĩa cũ (contiguity), ví dụ từ bottle có thể chỉ đến cái chai,
cái lọ (nghĩa ban đầu), nhưng cũng có thể chỉ đến chất lỏng chứa trong chai
(nghĩa mới) (quan hệ giữa vật chứa và vật được chứa), hay table có thể là cái
bàn (nghĩa ban đầu), nhưng cũng có thể là người ngồi tại bàn (nghĩa phái
sinh) (quan hệ giữa vị trí và người ở vị trí đó). Trong khi đó với hiện tượng ẩn
dụ quá trình chuyển nghĩa lại dựa trên sự giống nhau giữa nghĩa mới so với
nghĩa ban đầu của từ. Ví dụ cho sự thay đổi nghĩa qua hiện tượng ẩn dụ có thể
thấy ở từ fox khi nghĩa của từ này chuyển từ con vật con cáo sang nghĩa chỉ
thuộc tính gắn liền với con vật đó (ma manh, xảo quyệt).
Có thể thấy điểm chung của các hiện tượng vừa nêu trên là sự thay đổi
tập trung vào nghĩa biểu niệm hay nghĩa định danh, không có sự sao chép cấu
trúc ngữ nghĩa của từ liên quan.
(ii) Thay đổi nghĩa biểu cảm
thường xảy ra giữa các từ trong cùng một trường từ vựng. Ví dụ trong tiếng
Hà Lan, khi từ zwart (màu đen) phái sinh nghĩa bất hợp pháp / không chính
đáng, thì những từ khác trong trường từ vựng chỉ màu sắc ở ngôn ngữ này
cũng phái sinh ý nghĩa tương tự. Hay trong tiếng Anh khi từ catch (nắm, bắt)
15
mang thêm nghĩa hiểu thì các từ trong cùng trường từ vựng như grasp, get
cũng phái sinh nét nghĩa như vậy (Nguyen Hoa, 2004: 103).
(iv) Thay đổi nghĩa theo cơ chế danh xưng học
So với cơ chế chuyển nghĩa ngữ nghĩa học, có chế chuyển nghĩa danh
xưng học có tính toàn diện hơn, xuất phát từ thực tế là việc mở rộng phạm vi
nghĩa của từ đã có sẵn cũng chỉ là một trong những cơ chế chính dẫn đến
những thay đổi theo hướng danh xưng học (Greeraerts D., 2010: 30). Trong
tiếng Anh sự thay đổi nghĩa gắn liền với sự hình thành từ mới thường xảy ra
theo các hướng: sử dụng các phương thức tạo từ trên cơ sở biến đổi hình thái
từ, ví dụ như sử dụng phụ tố (teacher…), ghép từ (classroom); chuyển đổi
hình thức âm của từ đã có sẵn, ví dụ như rút ngắn từ (sis – sister), trộn từ
(brunch – breakfast và lunch); vay mượn từ các ngôn ngữ khác; hình thành có
tính bất chợt, ví dụ như trên cơ sở mô phỏng âm thanh hay theo tên thương
hiệu (Kodak); mở rộng nghĩa của từ đã có sẵn.
Như đã đề cập trước đó, hiện tượng chuyển nghĩa là một hiện tượng
ngôn ngữ có tính phổ quát, do vậy hiện tượng này cũng rất phổ biến trong
tiếng Việt. Điểm qua các công trình nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học nổi
tiếng như: Lê Biên (1995), Đỗ Hữu Châu (1997), Hoàng Văn Hành, Hà
Quang Năng, Nguyễn Văn Khang (1998), Nguyễn Thiện Giáp (1998), Bùi
Minh Toán (1999), Hồ Lê (2003), Lê Quang Thiêm (2008), chúng tôi nhận
thấy các tác giả vừa nêu ít nhiều đều có đề cập đến hiện tượng chuyển nghĩa
trong tiếng Việt. Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp (1998: 159-171), nghĩa của
từ tiếng Việt thay đổi theo các hướng: mở rộng (ví dụ: đẹp (về hình thức) –
đẹp (hình thức, tình cảm, tin thần, quan hệ)), thu hẹp (ví dụ: mùi (giác quan) –
mùi (hôi, thối)), chuyển đổi tên gọi (qua hiện tượng ẩn dụ và hoán dụ), xấu
chuyển nghĩa ngữ nghĩa học và danh xưng học. Trong phần 1.4 chúng tôi sẽ
trình bày sâu hơn về hiện tượng chuyển loại trong tiếng Anh và tiếng Việt.
17
1.3 Các phương thức tạo từ trong tiếng Anh và tiếng Việt
Hiện tượng thay đổi nghĩa của từ (semantic change) mà chúng tôi vừa
đề cập ở phần 1.3 có một mối quan hệ mật thiết với các phương thức hình
thành từ mới. Chính sự thay đổi nghĩa đã dẫn đến nhu cầu hình thành các tên
gọi mới có hình thức trùng (hiện tượng chuyển loại) hoặc khác so với từ cũ.
Trong tiếng Anh từ được hình thành theo nhiều phương thức khác nhau. Điểm
qua các công trình nghiên cứu có đề cập đến các phương thức tạo từ, như
Meltser G.M. (1960), Antrushina G.B., Afanasyeva O.V., Morozov N.N.
(1985), Plag I. (2002), Grinberg L.E., Kuznets M.D., Kumacheva A.V. (1960),
Hoang Tat Truong (1993), Dang Trang Cuong (2001),… chúng tôi nhận thấy
từ tiếng Anh chủ yếu được hình thành từ các phương thức tạo từ sau:
i) Phương thức sử dụng phụ tố (affixation): đây là phương thức thêm
phụ tố (tiền tố - prefix, trung tố - infix hoặc hậu tố - suffix) vào hình vị gốc.
Do hiện tượng tạo từ bằng trung tố không phổ biến, và thường kết hợp với
phương thức ghép từ (ví dụ: goodstrain, fisherman, statesman), nên khi nói
đến phương thức tạo từ bằng phụ tố ta thường nói đến phương thức tạo từ
bằng tiền tố - prefixation (ví dụ: antiwar, disconnect, unlock…) và bằng hậu
tố - suffixation (ví dụ: careful, hopeless, student…). Trong khi phương thức
tạo từ bằng tiền tố thường chỉ dẫn đến thay đổi về nghĩa từ vựng, thì phương
thức tạo từ bằng hậu tố tạo nên từ mới có nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp
khác với gốc ban đầu.
ii) Phương thức ghép từ (composition / compounding): Giống với
phương thức tạo từ bằng phụ tố, phương thức ghép từ là một phương thức tạo
từ rất phổ biến, sản sinh ra một số lượng lớn từ cho tiếng Anh (productive).
Từ được tạo theo phương thức này có thể có hơn hai hình vị gốc, tuy nhiên
phần lớn từ ghép trong tiếng Anh là từ có hai hình vị gốc – hay hai thành phần,
trong đó thành phần bên phải (determinatum) thường mang nghĩa chung hơn
khác biệt chủ yếu tập trung vào ngữ nghĩa và chức năng của từ. Chúng tôi sẽ
đi sâu phân tích các đặc trưng của phương thức tạo từ này ở mục 1.4.
iv) Phương thức rút ngắn từ (shortening / contraction): Từ mới được tạo
ra theo phương thức này thường có sắc thái ít trang trọng hơn và phổ biến
trong ngôn ngữ nói. Nhìn chung, có hai hướng rút ngắn từ trong tiếng Anh:
rút ngắn một nhóm từ bằng cách sử dụng các chữ cái đầu (acronyms, ví dụ:
MP, BBC, UN,…), và rút gọn trong phạm vi một từ (clipping, ví dụ: ad,
phone, flu,…)
v) Phương thức trộn từ (blending): Sự kết hợp giữa một phần của các từ
(thường là phần đầu của từ thứ nhất và phần đuôi của từ thứ hai) cũng là một
trong những phương thức tạo từ trong tiếng Anh, ví dụ: brunch (breakfast +
lunch), motel (motor + hotel), smog (smoke + fog),… Phương thức trộn từ
cũng có thể xem như là một cách rút ngắn từ (shortening)
vi) Phương thức láy âm (reduplication): Theo phương thức này, từ mới
được tạo ra bằng cách lặp lại một gốc từ, có thể có hoặc không có biến đổi âm.
Ở các từ như: hush-hush, pooh-pooh, blah-blah hoàn toàn không có hiện
tượng thay đổi âm, nhưng với các từ như chit-chat, walkie-talkie, riff-raff gốc
được lặp lại cùng với sự thay đổi hoặc nguyên âm, hoặc phụ âm, hoặc cả hai.
Ranh giới giữa phương thức láy âm và phương thức ghép từ nhiều khi cũng
không rõ nét. Trong một số công trình nghiên cứu phương thức láy âm được
xem như là một trong những hướng ghép từ.
vii) Phương thức phỏng âm (sound imitation / onomatopoeia): Từ được
tạo ra trên cơ sở mô phỏng âm thanh của con người, con vật, hành động, hiện
tượng thiên nhiên,…. Đó có thể là sự giống nhau giữa cấu trúc âm thanh của
từ với âm thanh của sự vật mô phỏng, ví dụ như: meow, croak,
whisper,…nhưng cũng có thể là sự liên tưởng giữa âm thanh của từ với tính
chất của hành động. Ví dụ âm thanh của các động từ glance, glide, slide, slip
có tính lướt nhẹ giống như nghĩa của các động từ này. Hay âm của động từ
20
rush, dash, flash ngắn gọn, đầy sức mạnh tương ứng với hành động lao, vụt
nguyên học (etymologists).
Một điều đáng lưu ý không ít từ tiếng Anh được tạo ra trên cơ sở tích
hợp nhiều phương thức tạo từ, ví dụ: strong (adj)
strength (n) (chuyển đổi
âm và phụ tố), democrat
democracy (chuyển đổi âm, phụ tố và dịch
chuyển trọng âm), popular (adj)
pop (n) (rút ngắn từ và chuyển đổi từ loại).
Tóm lại, trên cơ sở mô tả đặc điểm của từng phương thức chúng tôi
phân các phương thức tạo từ trong tiếng Anh ra thành ba nhóm như sau: nhóm
phái sinh có liên quan đến phụ tố (phương thức i và ix), nhóm phái sinh
không sử dụng phụ tố (các phương thức iii, iv, v, vi, vii và viii), nhóm từ ghép
21
(phương thức ix). Hiện tượng chuyển loại thuộc nhóm phương thức tạo từ
không sử dụng đến phụ tố.
Khác với tiếng Anh – một ngôn ngữ biến hình, tiếng Việt là một ngôn
ngữ đơn lập, không biến đổi hình thái. Hơn nữa, trong khi trong tiếng Anh
hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất thì trong tiếng Việt từ lại là “đơn vị nhỏ
nhất có nghĩa”, và “mỗi từ là một âm tiết” (Nguyễn Thiện Giáp, 1998: 68). Từ
sự khác biệt về mặt cấu tạo từ giữa tiếng Việt và tiếng Anh, có thể hình dung
từ tiếng Việt sẽ có những phương thức tạo từ không hoàn toàn giống với tiếng
Anh.
Theo Đỗ Hữu Châu (1997: 133) trong tiếng Việt chỉ có ba phương thức
tạo từ, đó là “từ hóa hình vị”, “ghép” và “láy”. Phương thức từ hóa hình vị là
“phương thức tạo từ tác động vào bản thân một hình vị làm cho nó có những
đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm
bớt gì cả vào hình thức của nó. Những từ như: nhà, xe, áo, người, phanh, mì
trong tiếng Việt thuộc về phương thức từ hóa hình vị - một phương thức tạo
từ đơn.
1.4 Hiện tượng chuyển đổi từ loại trong tiếng Anh và tiếng Việt
1.4.1 Hiện tượng chuyển đổi từ loại trong tiếng Anh
Như đã đề cập ở mục 1.3, hiện tượng CĐTL là một phương thức tạo từ
rất phổ biến trong tiếng Anh. Ngoài thuật ngữ ‘conversion’ ra, hiện tượng
chuyển loại còn được biết đến với tên gọi ‘functional change’, ‘zero
derivation’, ‘affixless derivation’ hay ‘non-affixational derivation’. Việc
phương thức tạo từ này có nhiều tên gọi khác nhau cho thấy các nhà nghiên
cứu có những quan điểm không đồng nhất về hiện tượng chuyển loại trong
tiếng Anh, đồng thời nói lên tính chất phức tạp của hiện tượng này.
23
Theo Plag I. (2002: 134-145), có ba vấn đề gây tranh cãi đối với hiện
tượng CĐTL trong tiếng Anh, đó là: (i) làm thế nào để biết được từ nào là từ
gốc, từ nào là từ chuyển loại, (ii) nên xem đó là hiện tượng chuyển loại
(conversion) hay là hiện tượng tạo từ sử dụng phụ tố zero (zero-affixation), và
(iii) hiện tượng chuyển loại thuộc lĩnh vực cú pháp (syntactical) hay hình thái
học (morphological).
Liên quan đến vấn đề (i), Plag I. (2002) cho rằng có 4 cách để xác định
từ gốc và từ chuyển loại:
Thứ nhất, vì từ chuyển loại (converted word) cũng giống như từ phái
sinh (derived word) thường có nghĩa phức tạp hơn từ gốc, được định nghĩa
dựa trên từ gốc (so sánh: politeness = the state of being polite, và to bottle =
to fill into a bottle), nên từ nào có nghĩa phức tạp hơn, phụ thuộc vào nghĩa
của từ còn lại sẽ là từ chuyển loại, do vậy từ còn lại sẽ là từ gốc. Trong trường
hợp động từ và danh từ bottle vừa nêu, rõ ràng động từ bottle là từ chuyển
loại từ danh từ vì để có thể đóng chai (to bottle) đòi hỏi phải có chai (bottle)
trước đã. Tất nhiên ngoài dựa vào nghĩa ra, việc xác định từ chuyển loại hay
từ gốc còn có thể căn cứ vào lịch sử hình thành và phát triển của từ. Từ nào có
trước trong từ vựng sẽ là từ gốc, còn từ nào xuất hiện sau sẽ là từ chuyển loại.
biệt giữa từ gốc và từ chuyển loại (đối với từ có hai âm tiết trở lên). Một điều
đáng lưu ý là quá trình CĐTL thường dẫn đến sự dịch chuyển vị trí trọng âm
(stress), ví dụ:
‘export (n)
to ex’port (v)
‘conduct (n)
to con’duct (v)
‘accent (n)
ac’cent (v)
‘conflict (n)
to con’flict (v)
‘contest (n)
to con’test (v)
‘contract (n)
to con’tract
25
Ở các ví dụ trên, từ gốc là danh từ, có trọng âm ở vị trí âm tiết thứ nhất,
nhưng khi chuyển loại sang động từ thì trọng âm dịch chuyển vị trí sang âm
tiết thứ hai. Mặc dầu sự dịch chuyển trọng âm trong quá trình chuyển loại
không phải lúc nào cũng xảy ra (ví dụ như ở từ đơn tiết), và cũng không hoàn
toàn là một chỉ số có độ tin cậy cao trong việc xác định hiện tượng chuyển
loại, nhưng nó cũng có thể sử dụng có tính hỗ trợ cho các tiêu chí phân biệt
khác.
Thứ tư, từ gốc và từ chuyển loại có sự khác biệt về tần xuất sử dụng.