NGHIÊN CỨU NGỮ CỐ ĐỊNH TIẾNG HÁN CÓ TỪ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ VÀ VẬN DỤNGTRONG DẠY HỌC TIẾNG HÁN CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGỮ VIỆT NAM - Pdf 25

NGHIÊN CỨU NGỮ CỐ ĐỊNH TIẾNG HÁN
CÓ TỪ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ VÀ VẬN DỤNG
TRONG DẠY HỌC TIẾNG HÁN CHO SINH VIÊN
CHUYÊN NGỮ VIỆT NAM
TS. CẦM TÚ TÀI

PHẦN MỞ ĐẦU
0.1. Lý do lựa chọn đề tài và mục đích của nghiên cứu
Tiếng Hán đã ghi chép lại những đặc trưng nổi bật của nền văn
hóa Trung Hoa, trong đó không thể không kể đến sự góp mặt của ngữ
cố định. Thông qua tiếng Hán nói chung và ngữ cố định tiếng Hán có
từ chỉ bộ phận cơ thể nói riêng, chúng ta sẽ quan sát được một số biểu
hiện đặc sắc trong bức tranh sinh động của nền văn hóa Trung Hoa,
qua đó có thể tiến sâu hơn vào việc nghiên cứu bản sắc văn hóa truyền
thống, mối liên hệ tích hợp của lịch sử văn hóa Trung Hoa và tiếng
Hán.
Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng có mối quan hệ
truyền thống lâu đời. Trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, bản sắc
văn hóa của mỗi nước đều được lưu dấu ấn rõ nét trong tiếng Việt và
tiếng Hán. Sự giao lưu văn hóa giữa hai nước luôn luôn được thể hiện
trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ. Những năm gần đây, số lượng
người Việt Nam học tiếng Hán và số lượng người Trung Quốc học
tiếng Việt ngày càng nhiều. Việc dạy học, nghiên cứu, so sánh tiếng
Hán và tiếng Việt càng nhận được sự quan tâm của nhiều người.
Nghiên cứu tiếng Hán, cụ thể là nghiên cứu ngữ cố định tiếng Hán có
các từ chỉ bộ phận cơ thể, ở một khía cạnh nhất định có thể hỗ trợ công
việc đối chiếu hai ngôn ngữ Hán-Việt và góp phần tăng cường sự hiểu
biết về văn hóa của Việt Nam và Trung Quốc. Ở Việt Nam từ trước đến
nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ, văn hóa, tất
nhiên trong đó bao gồm cả thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca của
tiếng Việt và tiếng Hán. Tuy vậy, vẫn chưa có công trình nào chuyên đi

Nam. Đây chính là giả thiết khoa học làm xuất phát điểm để đề tài tập
trung vào hướng nghiên cứu và đối tượng cụ thể sau:
Nghiên cứu ngữ cố định tiếng Hán, chú trọng tới những đặc trưng
văn hóa dân tộc Trung Hoa được biểu hiện trong tầng sâu lớp từ vựng
tiếng Hán - các ngữ cố định có từ chỉ bộ phận cơ thể.
Tư liệu phục vụ nội dung nghiên cứu là các công trình nghiên cứu
về ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc, các nghiên cứu về từ chỉ bộ
phận cơ thể và ngữ cố định tiếng Hán, đặc biệt là những nghiên cứu về
ngữ cố định có từ chỉ bộ phận cơ thể xuất hiện trong Thành ngữ, Ngạn
ngữ, Quán ngữ, Yết hậu ngữ Cơ sở tham chiếu là các sách, các từ
điển thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt, từ điển ngôn ngữ đất nước học
tiếng Hán, từ điển tiếng Hán, từ điển tiếng Việt, tham khảo ý kiến của
một số học giả Việt Nam và Trung Quốc.
0.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
130
Nội dung nghiên cứu tập trung vào các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
0.3.1. Nghiên cứu về ngữ cố định tiếng Hán;
0.3.2. Phân tích, miêu tả một số ngữ cố định tiếng Hán có từ chỉ bộ
phận cơ thể;
0.3.3. Từ một số ngữ cố định Hán có từ chỉ bộ phận cơ thể liên hệ với
tiếng Việt, để thấy được các đặc điểm giống và khác nhau, qua
đó nhìn nhận sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa trong hai ngôn ngữ
Việt-Hán;
0.3.4. Khảo sát việc vận dụng ngữ cố định tiếng Hán của sinh viên
Khoa Ngôn ngữ & Văn hóa Trung Quốc tại trường ĐHNN -
ĐHQGHN, qua đó nắm bắt tình hình học tập, nêu lên một số
phương pháp thích ứng trong dạy học tiếng Hán cho sinh viên
chuyên ngữ Việt Nam.
0.4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận nền tảng tri thức của ngôn ngữ học, ngôn ngữ

- Đặt cơ sở cho việc nghiên cứu, so sánh, đối chiếu ngôn ngữ cử
chỉ, ca dao trong tiếng Hán và tiếng Việt trong các công trình nghiên
cứu sau này.
- Rèn luyện phương pháp luận nghiên cứu khoa học, thực hành
phương pháp nghiên cứu độc lập và tổ chức nghiên cứu theo nhóm.
0.6. Nội dung mới của đề tài
Miêu tả được một số nội hàm văn hóa, so sánh được đặc điểm
giống và khác nhau của ngữ cố định có từ chỉ bộ phận cơ thể trong hai
ngôn ngữ Hán-Việt. Bước đầu lập bảng thống kê, đối dịch một số các
từ, ngữ cố định chỉ bộ phận cơ thể trong hai ngôn ngữ Hán-Việt. Khảo
sát, điều tra, nắm bắt tình hình dạy-học ngữ cố định tiếng Hán của
sinh viên chuyên ngữ Việt Nam, tìm hiểu các lỗi có liên quan, nguyên
nhân phát sinh lỗi, từ đó nêu ra các biện pháp khắc phục lỗi để nâng
cao hiệu quả dạy học và giao tiếp ngôn ngữ.
0.7. Cấu trúc
Phần mở đầu.
Nội dung chính:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và tổng quan nghiên cứu.
- Chương 2: Nghiên cứu ngữ cố định tiếng Hán có từ chỉ bộ phận
cơ thể
- Chương 3: Ngữ cố định Hán có từ chỉ bộ phận cơ thể trong sự liên
hệ với tiếng Việt.
- Chương 4: Những ứng dụng và việc tổ chức dạy học Ngữ cố định
tiếng Hán cho sinh viên chuyên ngữ Việt Nam.
Kết luận.
Tài liệu tham khảo.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Ngôn ngữ với đặc trưng văn hóa dân tộc

hợp mang tính trừu tượng, mắt thường của chúng ta rất khó quan sát,
chỉ có các bộ phận cơ thể là chúng ta rất dễ dàng quan sát và hình
dung ra được. Xét từ góc độ chỉnh thể, cơ thể người phân thành các
phần đầu, cổ, thân (mình) và tứ chi (chân tay). Phân chia cụ thể hơn,
phần đầu bao gồm: tóc, đầu lâu, sọ, não/óc (đại não, các bán cầu não
…), mặt (mắt, mũi, tai, trán, thái dương, má, cằm, mồm (miệng), mép,
môi, lông mi, lông mày, con ngươi, râu, tóc, lưỡi, răng, lợi, ngạc,
khoang miệng …); Phần cổ bao gồm: cổ họng, yết hầu, thực quản, khí
quản, gáy; Phần thân bao gồm: phía trước là ngực (vú), bụng (thai, rốn
133
và bộ phận sinh dục), phía sau là lưng (cột sống), hông (mông, cật,
hậu môn), hai bên cạnh là vai, sườn, nách, vòng quanh là eo, bên trong
là lục phủ ngũ tạng (tim, gan, phổi, mật, ruột/lòng/tràng; thận, dạ dày);
Phần chi bao gồm: tay (cánh tay, bắp tay, khuỷu tay, cùi tay, cổ tay,
bàn tay, lưng bàn tay, lòng bàn tay, các ngón tay, các đốt ngón tay,
vân tay, móng tay), chân (đùi, đầu gối, cẳng chân, khuỷu chân, cổ
chân, mắt cá chân, gót chân, mu bàn chân, lòng bàn chân, ngón chân,
đốt ngón chân, móng chân, vân chân). Ngoài ra còn có xương, sụn,
tủy, tụy, khớp, cơ, gân, mạch, vành, da, lông, máu, mỡ, mồ hôi, thất
khiếu (hai lỗ tai, hai lỗ mũi, hai mắt và mồm/miệng). Các bộ phận trên
cơ thể động vật cũng được lưu ý tới, như: đuôi, cánh, mào, mang, vây,
vẩy, móng/vuốt, sừng, trứng Tuy nhiên chỉ xét tới ở góc độ tham
chiếu, tần suất xuất hiện cũng không nhiều. Trên cơ sở phân chia này,
xem xét chức năng của các bộ phận cơ thể kết hợp với khả năng cấu
tạo từ và hiện diện trong các ngữ cố định, từ góc độ ngôn ngữ học,
tâm lý học, ngôn ngữ và văn hóa, chúng tôi tiếp tục đi sâu miêu tả,
phân tích về các từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Hán và tiếng Việt.
1.2.2. Nhận diện các từ chỉ bộ phận cơ thể
Từ chỉ bộ phận cơ thể là những từ, bao gồm cả các cụm từ cố định
gọi tên các bộ phận cơ thể. Trong tiếng Hán và tiếng Việt, từ vựng

(B) Phần cổ
(3) Lớp từ vựng tầng thứ ba: 咽喉/yết hầu, 咽头/cổ họng, 上颚/vòm
họng, 食管/thực quản, 气管/khí quản, 颈背/后脑勺/gáy.
(C) Phần thân
(3) Lớp từ vựng tầng thứ ba: 肩膀/vai, 胸/ngực, 腋窝/nách, 腹部/
肚子/bụng, 背/lưng, 肋/sườn, 腰/eo, 臀/mông, 生殖器/phận sinh dục.
(4) Lớp từ vựng tầng thứ tư: 胸腔/lồng ngực; 腋毛/lông nách; 乳
房 /vú; 腹 腔 /khoang bụng, 腹 膜 /màng bụng, 胎 /thai, 心 脏 /tim,
肝/gan, 肺/phổi, 胆/mật, 肠/ruột/lòng/tràng, 肾/thận, 胃/dạ dày, 上腹/
bụng trên, 下腹/bụng dưới; 肚脐/rốn, 脐带/cuống rốn; 背椎骨/xương
cột sống, 背脊/sống lưng; 左肋/sườn trái, 右肋/sườn phải, 肋间肌/cơ
sườn, 肋骨/xương sườn; 肛门/hậu môn; 阴茎/dương vật, 阴囊/bìu
dái, 睾丸/精巢/tinh hoàn, 阴户/âm hộ, 阴道/âm đạo, 阴唇/âm thần,
尿道/niệu đạo, 膀光/bọng đái, 子宫/tử cung, 卵子/trứng, 卵巢/buồng
trứng, 处女膜/màng trinh.
(5) Lớp từ vựng tầng thứ năm: 乳头/đầu vú, 乳腺/tuyến sữa, 肺膜/
màng phổi, 肺叶/lá phổi, 肺管/cuống phổi, 小肠/ruột non, 大肠/ ruột
già, 盲肠/ruột thừa, 直肠 /trực tràng, 结肠/kết tràng, 十二指肠/tá
tràng.
(D) Tứ chi (tay, chân)
(3) Lớp từ vựng tầng thứ ba: 手/tay, 脚/足/chân
(4) Lớp từ vựng tầng thứ tư: 手臂 /cánh tay, bắp tay, 肘子/khuỷu
tay, 手腕/cổ tay, 手掌/bàn tay; 大腿/đùi, 膝盖/đầu gối, 小腿/cẳng
chân, 脚腕/cổ chân, 脚踝/mắt cá chân, 脚跟/gót chân, 脚掌/bàn chân
(5) Lớp từ vựng tầng thứ năm: 手心/lòng bàn tay, 手背/mu bàn tay,
手指/ngón tay, 手纹/vân tay; 脚心/lòng bàn chân, 脚背/mu bàn chân,
脚趾/ngón chân
135
(6) Lớp từ vựng tầng thứ sáu: 拇指/ngón cái, 食指/ngón trỏ, 中指/
ngón giữa, 无名指/ ngón áp út, 小指/ngón út, 指尖/指头/đầu ngón

đạt các khái niệm trừu tượng, mọi người sẽ vay mượn các từ chỉ thực
thể, trong đó đương nhiên là có sự hiện diện của các từ chỉ bộ phận cơ
thể để diễn đạt. Cơ thể người được chúng ta tiếp xúc, cảm nhận trực
tiếp và thường xuyên nhất trong sinh hoạt hàng ngày. Con người sinh
tồn, tiến hóa trong tự nhiên và xã hội thì lẽ đương nhiên là phải có sự
1
转引自:古敬恒 “
人体词语与人类的秘密
”. 团结出版社. 2000 (6 页)
(Sđd: Cổ Kính Hằng. Từ chỉ bộ phận cơ thể và bí mật của con người. Nxb
Đoàn kết, 2000. Tr.6)
136
tồn tại của các từ ngữ để biểu đạt các bộ phận cơ thể người. Trái đất là
trung tâm của vũ trụ, con người lại là trung tâm của sự sống trên trái
đất, vì vậy lớp từ chỉ bộ phận cơ thể người mang một sức sống mạnh
mẽ. Lớp từ này không những biểu đạt cho bản thân con người, mà còn
biểu đạt những động tác, hành vi, trạng thái, tính chất, tình cảm, nhận
thức của con người về chính bản thân mình và mối liên hệ với vạn vật
xung quanh. Vì vậy lớp từ vựng chỉ bộ phận cơ thể đã trở thành hiện
tượng xã hội - bộ phận phản chiếu đặc trưng văn hóa dân tộc. Ngôn
ngữ học xã hội đã nhận định: “Bất cứ xã hội nào cũng đều không thể
tách rời khỏi văn hóa. Văn hóa là cơ sở sinh tồn và phát triển của xã
hội loài người. Kết hợp ngôn ngữ và văn hóa lại với nhau, đi sâu vào
nghiên cứu tính ứng chiếu giữa chúng, càng có thể miêu tả sâu sắc
hơn và rộng hơn về thuộc tính xã hội của ngôn ngữ, đồng thời cũng
giúp con người hiểu biết sâu hơn về các chức năng văn hóa của ngôn
ngữ”
2
. Trước đây, người Trung Quốc đã từng nói “心之官则思” (con
tim tức là tư duy). Vì vậy chúng ta có thể thấy người Trung Quốc

mồm/miệng có liên quan tới sự phát âm tạo nên lời nói, vì vậy xuất
hiện các từ: 快嘴/nhanh mồm/ nhanh miệng, 口碑/bia miệng, 舌战/斗
口/顶嘴/đấu khẩu, 开口/mở miệng, 启齿/cạy răng, 牙慧/răng khôn,
嘴严/kín mồm kín miệng, 守口如瓶/giữ miệng như bình: giữ mồm
giữ miệng, giữ kín như bưng. Khả năng hoạt động của chân tay là rất
linh hoạt, vì vậy xuất hiện các từ: 出 手 /ra tay, 劈 手 /chém tay, 甩
手/vung tay, 罢手/dừng tay, 手记/chép tay, 手写/viết tay, 歇脚/nghỉ
chân, 蹑手蹑脚/nhón chân nhón tay: rón ra rón rén, 手忙脚乱/ chân
tay luống cuống: lúng túng như thợ vụng mất kim, 笨手笨脚/ vụng
chân vụng tay: chân tay vụng về
Kết quả phân loại và phân tích trên tạo tiền đề để chúng tôi tiếp
tục nghiên cứu sự hiện diện của từ chỉ bộ phận cơ thể trong ngữ cố
định tiếng Hán và có sự liên hệ tới ngữ cố định tiếng Việt.
Hướng nghiên cứu cụ thể sẽ xuất phát từ các bộ phận cơ thể → Từ
vựng chỉ các bộ phận cơ thể → Đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ
dụng của lớp từ vựng, bao gồm ngữ cố định có chứa từ chỉ bộ phận cơ
thể → Tri thức triết học, ngôn ngữ và văn hóa trong chiều sâu ngữ
nghĩa của lớp từ vựng, bao gồm ngữ cố định có chứa từ chỉ bộ phận
cơ thể → So sánh ngữ cố định có từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng
Hán và tiếng Việt→ Liên hệ với thực tiễn tổ chức dạy học ngữ cố định
tiếng Hán.
1.3. Nhận diện về ngữ cố định
Có một số tên gọi khác như: từ tổ cố định, tổ hợp từ cố định, cụm
từ cố định, thục ngữ, đặc ngữ. Trong nội dung của đề tài này, chúng
tôi lấy tên gọi chung là “Ngữ cố định”. Được định nghĩa như sau:
Theo định nghĩa trong “辞海” (Từ hải), một cuốn từ điển ghi chép
tương đối đầy đủ về tiếng Hán đã ghi: Ngữ cố định là chỉ các cụm từ
hoặc câu được định hình trong ngôn ngữ. Khi sử dụng thường không
được tùy tiện thay đổi kết cấu của chúng. Gồm có các chủng loại như
thành ngữ, ngạn ngữ, cách ngôn, yết hậu ngữ. (熟语是指 “语言中定

Tổng hợp từ các định nghĩa và nội dung trên, chúng tôi sơ bộ rút
ra nhận xét: ngữ cố định được định hình từ thói quen sử dụng thường
xuyên của mọi người. Xét theo đặc tính ngôn ngữ của từ vựng ta thấy
nằm trong tổng hòa lớp từ vựng phổ thông và từ vựng cơ bản. Đây là
đơn vị ngôn ngữ với đầy đủ chức năng của đơn vị từ, thậm chí là đạt
tới chức năng của câu, đặc biệt khi sử dụng chúng có cấu trúc ổn định,
ý nghĩa hoàn chỉnh, không được tùy tiện bóc tách ra để sử dụng, do
vậy có thể coi đây là một đơn vị từ vựng đặc biệt, được xếp vào trong
đối tượng nghiên cứu của từ vựng học. Phần lớn ngữ cố định có nguồn
gốc cổ xưa, lịch sử lâu dài, ý nghĩa biểu đạt phong phú, ghi nhận
những trầm tích lịch sử văn hóa của một dân tộc. Phạm vi sử dụng của
3
王勤 “
谈论汉语熟语
”. 山东教育出版社, 2006 (9 页) (Sđd: Vương
Cần, Bàn về ngữ cố định tiếng Hán. Nxb Giáo dục Sơn Đông, 2006. Tr. 9)
4
Đỗ Hữu Châu, Từ vựng - Ngữ nghĩa tiếng Việt. Nxb Giáo dục, 1999.
Tr. 71
139
ngữ cố định trải trên diện rộng, đặc điểm rõ nét, giúp cho phong cách
biểu đạt của ngôn ngữ thêm chau chuốt và đa dạng. Ngữ cố định
thường được phân chia thành: Thành ngữ, quán ngữ, ngạn ngữ (tục
ngữ)
5
, trong tiếng Hán còn có thêm yết hậu ngữ (cách nói/câu/bỏ lửng)
và cách ngôn, trong tiếng Việt còn có thêm cách gọi khác về ngữ cố
định định danh, các đơn vị cụm từ trung gian
6
Tần suất sử dụng của

đều ủng hộ ý kiến qui về cùng một chủng loại.
6
Nguyễn Thiện Giáp, Lược sử Việt ngữ học - Tập 1. Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2004. Tr. 215
140
头咬着都疼/mười ngón tay cắn vào đều đau: tay đứt ruột đau.
1.5. Tổng quan nghiên cứu về Ngữ cố định tiếng Hán
1.5.1. Nghiên cứu về Ngữ cố định tiếng Hán
Các học giả Trung Quốc đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
ngữ cố định tiếng Hán
7
. Bắt đầu từ đời nhà Hán - Thời kỳ sơ khai
(năm 206 - năm 317) đã xuất hiện những tài liệu nghiên cứu, tập hợp
những ngôn từ lưu hành trong dân gian có liên quan đến ngạn ngữ/tục
ngữ trong ngữ cố định. Tác phẩm tiêu biểu gồm có “通俗文/Thông
tục văn” của Phục Kiềm (đời Hán), được đánh giá như một cuốn “Tự
điển Tục ngữ” tiếng Hán cổ của Trung Quốc.
Thời kỳ từ năm 420-1644 được gọi là: Thời kỳ phát triển trong
lĩnh vực nghiên cứu ngữ cố định tiếng Hán. Xuất hiện tác phẩm “齐民
要术/Tề dân yếu thuật” của Giả Tư Hiệp (đời Bắc Ngụy) đã đề cập
đến những ngạn ngữ/tục ngữ tiếng Hán có liên quan đến lĩnh vực đời
sống sản xuất nông nghiệp. Thời kỳ phát triển đỉnh cao về ngôn ngữ,
văn học nghệ thuật đời nhà Đường xuất hiện tuyển tập “ 义山 杂纂
/Nghĩa sơn tạp soạn” của Lý Thương Ẩn. Cuốn sách đã sưu tầm, tập
hợp được một số lượng lớn (khoảng 392 mục) ngữ cố định tiếng Hán
lưu truyền trong dân gian có liên quan đến các hành vi, sự việc trong
cuộc sống, đặc điểm gần giống với Yết hậu ngữ ngày nay. Tương tự,
đời Tống có “杂 纂续 /Tạp soạn tục” của Vương Quân Ngọc đã thu
thập, miêu tả, giải thích hơn 139 ngữ cố định. Đời Thanh có “杂纂三
续/Tạp soạn tam tục” của Hoàng Doãn Giao đã thu thập, miêu tả, giải

“恒 言 广 证 /Hằng ngôn quảng chứng” của Trần Chiên (1814) đã bổ
sung nội dung dẫn chứng về ngữ cố định tiếng Hán cho cuốn “恒言录/
Hằng ngôn lục”. “迩言/Nhĩ ngôn” của Tiền Đại Siêu (đời Thanh) đã
nói rõ nguồn gốc và giải thích một số quán ngữ, thành ngữ tiếng Hán.
“释谚/Thích ngạn” của Bình Bộ Thanh (đời Thanh), “语窦/Ngữ đậu”
của Hồ Thức Ngọc (đời Thanh), “古谣谚/Cổ dao ngạn” của Đỗ Văn
Lạn (đời Thanh) ngoài ngạn ngữ ra còn sưu tập cả ca dao tiếng Hán,
“俗说/Tục thuyết” của La Trấn Ngọc (đời Thanh) đã bổ sung nội dung
cho một số trước tác trước đó. “俗语考源/Tục ngữ khảo nguyên” của
Lý Giám Đường (1937) đã tập hợp, chú giải và dẫn ví dụ của hơn 1280
mục từ, thành ngữ, ngạn ngữ, quán ngữ, yết hậu ngữ tiếng Hán và sắp
xếp theo thứ tự các bộ chữ. Tôn Cẩm Tiêu (1913) đã xuất bản cuốn “通
俗常言疏证/Thông tục thường ngôn sơ chứng” sắp xếp phân loại theo
ý nghĩa các từ và ngữ cố định tiếng Hán (40 loại, 5775 mục từ). “中华
谚海/Trung Hoa ngạn hải” của Tương Tai (1927) đã sưu tầm 12424
ngạn ngữ tiếng Hán thuộc nhiều lĩnh vực và nhiều địa phương khác
nhau. “国文成语辞典/Quốc văn thành ngữ từ điển” của Trang Thích
(1916), “俗语典/Tục ngữ điển” của Phổ An (1922) đã chỉ ra xuất xứ
một số ngữ cố định từ trong các văn bản cổ.
Giai đoạn hiện đại (từ năm 1949 đến nay): Có thể nói đây là thời kỳ
phồn vinh trong nghiên cứu ngữ cố định tiếng Hán. Hàng loạt bài viết
chuyên khảo, sách nghiên cứu, từ điển về Thành ngữ, Tục ngữ, Yết hậu
ngữ, Quán ngữ đã được phát hành và biên soạn ở Trung Quốc cũng
như ở nước ngoài. Nội dung chuyên sâu, chất lượng rất cao, số lượng
vô cùng lớn. Chúng tôi chỉ có thể kể ra một số từ điển, sách tiêu biểu,
như: “ 汉 语 成 语 小 词 典 /Tiểu từ điển thành ngữ tiếng Hán” (Nxb
142
Thương vụ quán TQ, 1996). Cuốn từ điển này đã thu thập được 3.559
thành ngữ tiếng Hán, đưa ra các chú giải kèm theo các ví dụ minh họa
dễ hiểu. Bài nghiên cứu về “Thành ngữ và việc sử dụng thành ngữ” của

Đại học Bắc Kinh, 1999). “汉语惯用语词典/Từ điển Quán ngữ tiếng
Hán” của Mã Trung Lâm và Dương Quốc Phong chủ biên (Nxb Hiện
đại, 1991) thống kê được rất nhiều câu nói quen thuộc dân gian thường
dùng trong tiếng Hán, giúp cho người sử dụng tiếng Hán, nhất là những
người học tiếng Hán ở các nước khác ngoài Trung Quốc nắm bắt và sử
143
dụng chính xác những kiểu câu nói quen thuộc dân gian thường dùng
mà người dân Trung Quốc sử dụng trong giao tiếp hàng ngày. “Tinh
hoa văn hóa Trung Quốc” của tác giả Vương Kiến Huy và Dịch Học
Kim (Nxb Thế giới, 2004) trong nội dung nghiên cứu về văn hóa Trung
Hoa có đề cập đến Thành ngữ “Muối” trong tiếng Hán. “中国熟语 大
典/Đại từ điển Ngữ cố định Trung Quốc” của tác giả Thẩm Quân chủ
biên, (Nxb Văn nghệ Thượng Hải, 1990) đã thống kê, thông qua các
câu chuyện lịch sử chú giải nguồn gốc, ý nghĩa của 719 ngữ cố định
tiếng Hán, trong đó có 85 ngữ cố định xuất hiện từ chỉ bộ phận cơ thể.
Nhận xét các công trình nghiên cứu về ngữ cố định tiếng Hán theo
tuyến lịch đại chúng ta nhận thấy một số đặc điểm như: Thời kỳ đầu
số lượng rất ít, do giai cấp thống trị xuất phát từ thái độ xem thường
ngôn ngữ dân gian nên đã không chú trọng việc tổ chức khảo cứu, sưu
tầm ngôn từ của quần chúng. Thời kỳ tiếp theo cùng với sự phát triển
của xã hội và ngôn ngữ, ngữ cố định tiếng Hán đã được các học giả
chú ý sưu tầm nghiên cứu, nhưng chưa thành hệ thống và phân ngành
độc lập, cũng chưa có sự thống nhất về tên gọi. Các nghiên cứu chủ
yếu là sưu tập, giải thích xuất xứ của các từ trong ngữ cố định theo các
điển cố, trước tác. Bắt đầu từ thế kỷ XVII, việc nghiên cứu ngữ cố
định tiếng Hán mới đi vào quĩ đạo. Các nghiên cứu mang tính chỉnh
thể, nội dung tương đối phong phú, chủng loại mang tính thống nhất.
Sự phát triển thịnh vượng thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu
từ những năm 80 thế kỷ trước cho đến nay. Các học giả Trung Quốc
đã đề nghị chính thức đặt tên gọi cho phân ngành nghiên cứu này là

1.5.3. Nghiên cứu đối chiếu về từ và ngữ cố định có từ chỉ bộ phận
cơ thể trong tiếng Hán với các ngôn ngữ khác
Có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu đối chiếu từ chỉ bộ
phận cơ thể của tiếng Hán với các tiếng nước ngoài khác, trong đó bao
gồm cả ngữ cố định có từ chỉ bộ phận cơ thể. Yiliman Aimumaiti
trong bài viết “Những liên tưởng văn hóa của từ chỉ bộ phận cơ thể
trong tiếng Nhật và tiếng Hán” (Đại học sư phạm Tân Cương. Tháng
12/2003) đã so sánh một số từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Nhật và
tiếng Hán từ góc độ tương đồng giá trị ngữ nghĩa, nhưng khác nhau về
hình thức, những hiện tượng miêu tả diện mạo tưởng chừng giống
nhau nhưng ý nghĩa thực tế lại khác nhau, những hiện tượng ví von
khác biệt nhau. Thông qua nội dung so sánh, tác giả giúp chúng ta
nắm bắt được đặc trưng văn hóa dân tộc và nhìn nhận ra sự giống
nhau và khác nhau về nội hàm văn hóa giữa hai dân tộc Nhật và Hán.
Đạo Nhĩ Cát, Quách Chí Cúc trong bài viết “Bàn về đặc điểm và
nội hàm văn hóa của từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Hán và tiếng
Mông Cổ” (Tạp chí Khoa học xã hội Nội Mông Cổ. Tháng 11/2003)
đã xuất phát từ những nội dung và hình thức biểu đạt đa dạng mang
đặc trưng dụng học khác nhau của từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng
Hán và tiếng Mông Cổ để miêu tả những nhận thức của người xưa về
con người, những ghi nhận về quan niệm, tư tưởng, phong tục tập
quán trong trầm tích văn hóa Hán và Mông Cổ.
Vương Mẫn trong bài “Nghiên cứu đối chiếu những nhận thức về
145
từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Anh và tiếng Hán” (Đại học kỹ thuật
dạy nghề Kính Môn, tháng 3/2005) xuất phát từ cơ sở lý luận ngôn
ngữ học nhận thức và văn hóa tiến hành nghiên cứu về tư duy nhận
thức chung và sự khác biệt văn hóa trong nội dung chuyển nghĩa của
các từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Anh và tiếng Hán.
Thẩm Cảnh Vân trong bài “So sánh ý nghĩa đối dịch thành ngữ,

1993), đã sưu tập những câu thành ngữ và tục ngữ xuất hiện trong
tiếng Việt phản ánh phong tục, tập quán, nghi lễ, tôn giáo, truyền
thống văn hóa và lối tư duy riêng của dân tộc; Phản ánh kho tàng kinh
8
Nguyễn Văn Khang, Bùi Như Ý. “Từ điển Thành ngữ Hoa-Việt”.
Nxb Văn hóa, 1994. Tr.4
146
nghiệm dân gian về nếp sống, cách ứng xử xã hội, kinh nghiệm về
trồng trọt, chăn nuôi, làm ruộng, làm nghề thủ công, buôn bán, tục
cưới gả, văn hóa ẩm thực, kinh nghiệm về dự đoán thời tiết, phong
cách kiến xây dựng nhà cửa Cuốn từ điển đã thống kê các thành
ngữ và tục ngữ đồng nghĩa, gần nghĩa để nói lên tính đa dạng, tinh tế
với lối nói của dân gian; Giải thích ý nghĩa các từ cổ, từ địa phương,
từ Hán-Việt, từ chỉ sự vật, động vật, thực vật, hiện tượng không
quen thuộc với những người trẻ tuổi; Đưa ra những tri thức tham khảo
về bối cảnh văn hóa-ngôn ngữ để hiểu về xuất xứ của thành ngữ, tục
ngữ. Thông qua cuốn từ điển này, bên cạnh hiểu biết được về nội hàm
văn hóa dân tộc xuất hiện trong các câu thành ngữ và tục ngữ tiếng
Việt, chúng ta cũng thấy được sự ảnh hưởng, giao lưu xâm nhập của
Thành ngữ và Tục ngữ tiếng Hán và tiếng Việt.
Đỗ Hữu Châu trong “Từ vựng - Ngữ nghĩa tiếng Việt” (Nxb Giáo
dục, 1999) đã chỉ ra đặc điểm cố định hóa mang tính thành ngữ, tính
tương đương với cấp độ từ nhưng nhiều khi lại có cấu tạo là các câu,
có những đơn vị trung gian giữa ngữ cố định và cụm từ tự do (quán
ngữ) cũng được cố định hóa, mặc dù có sự biến thể chút ít, nhưng
không phá vỡ kết cấu và các liên hệ ngữ nghĩa vốn có. Trên cơ sở
phân loại ngữ cố định, tác giả đã căn cứ theo thành phần trung tâm để
chia nhỏ các kết cấu cụm từ trong ngữ cố định và tổng kết ra những
giá trị ngữ nghĩa của ngữ cố định.
“Tân từ điển thành ngữ tiếng Việt” (Nxb Giáo dục, 2002) của tác

Thành ngữ so sánh. Thông qua giá trị và nghệ thuật sử dụng của thành
ngữ để quan sát đặc trưng văn hóa của người. Bên cạnh đó ông đã lựa
chọn, sưu tập một số lượng đáng kể thành ngữ theo hệ thống ba kiểu
loại trên, tạo nên một tập hợp cơ sở dữ liệu phong phú về thành ngữ
tiếng Việt.
Tác giả Nguyễn Lực trong “Thành ngữ đồng nghĩa tiếng Việt”
(Nxb Thanh niên, 2005) đã lấy tiêu chí giống nhau về ý nghĩa từ vựng,
thống kê, giải thích 836 nhóm thành ngữ đồng nghĩa. Giúp độc giả
nhận diện thành ngữ đồng nghĩa là: Những thành ngữ khác nhau cùng
chỉ một hiện tượng, hoặc: những thành ngữ giống nhau về mặt từ
vựng (chứ không phải về mặt ngữ pháp)
10
.
Trong “Từ vựng tiếng Việt thực hành” (Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2005), tác giả Trịnh Đức Hiển đã nhận định: “Thành ngữ là cụm
từ cố định có tính hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa, có chức năng
định danh như từ, dùng để gọi tên sự vật, hành động, tính chất”
11
. Căn
cứ vào đặc điểm cấu trúc, tác giả đã chia thành ngữ tiếng Việt thành
ba kiểu: Thành ngữ đối; Thành ngữ so sánh; Thành ngữ thường. Về
mặt ý nghĩa, nghĩa bóng của thành ngữ có tính chất khái quát, tượng
trưng cho toàn bộ tổ hợp, và có tầm quan trọng đặc biệt trong nội
dung phản ánh về tự nhiên, xã hội, đất nước, con người Việt Nam.
9
Nguyễn Thiện Giáp. “Lược sử Việt ngữ học - Tập 1”. Nxb Giáo dục,
2004. Tr. 378
10
Nguyễn Lực. “Thành ngữ đồng nghĩa tiếng Việt”. Nxb Thanh niên, 2005.
Tr.5

ĐHQGHN), Thạc sĩ Giang Thị Tám đã nghiên cứu về sự hiện diện của
các con số trong thành ngữ tiếng Hán để miêu tả đặc trưng văn hóa
Trung Hoa. Thông qua đó so sánh liên hệ tới thành ngữ có chứa các con
số trong tiếng Việt để làm rõ đặc trưng văn hóa của người Việt Nam.
Nguyễn Thị Tân trong bài “Các dạng thức tồn tại của thành ngữ
gốc Hán trong tiếng Việt” (Kỷ yếu hội nghị khoa học 2003: Những
vấn đề ngôn ngữ học. Nxb Khoa học xã hội, 2005) đã khảo sát, thống
kê 2710 đơn vị thành ngữ gốc Hán, bắt đầu từ đời Đường cho đến nay
đã du nhập, tồn tại và phát triển trong thành ngữ tiếng Việt. Tác giả đã
phân thành 6 loại: [1] Thành ngữ Hán-Việt; [2] Thành ngữ giữ nguyên
dạng gốc nhưng đọc theo âm địa phương Trung Quốc; [3] Thành ngữ
giữ nguyên hình thái cấu trúc và nghĩa, nhưng thay đổi một vài yếu tố;
149
[4] Thành ngữ thay đổi cấu trúc; [5] Thành ngữ dịch; [6] Thành ngữ
do người Việt tự tạo ra từ các yếu tố gốc Hán. Kết quả tác giả đạt
được giúp chúng ta nhận diện rõ nét hơn tất cả các thành ngữ gốc Hán
này xuất hiện với diện mạo trung thực hơn trong các thành ngữ tiếng
Việt.
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Thọ trong bài viết “Về việc đổi mới phương
pháp dạy-học cụm từ cố định tiếng Pháp” (Tạp chí khoa học ĐHQG
HN, Ngoại ngữ, T.XXII, số 4, 2006) đã khảo sát thực trạng việc dạy
học cụm từ cố định tiếng Pháp ở trường/khoa chuyên ngữ Việt Nam.
Kết quả điều tra cả ở phía giáo viên và học sinh cho thấy, đa số sinh
viên và giáo viên đều coi cụm từ cố định (thành ngữ) là những đơn vị
từ vựng đặc biệt, gây rất nhiều khó khăn trong dạy học, có sự liên
quan chặt chẽ tới văn hóa, cần đặt trong ngữ cảnh cụ thể để giải nghĩa
và sử dụng, tỉ lệ sinh viên trả lời “không biết nghĩa” của 10 cụm từ cố
định là khá cao. Tác giả đã kiến nghị cần giảng dạy cụm từ cố định
một cách hệ thống, có sự phân loại khoảng cách lớn, nhỏ và gần kề, sử
dụng các thành tố của ngữ cảnh và tình huống để nhận biết ngữ nghĩa,

tiếng Việt” (Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống. Số 9/2003) đã miêu tả sự
kết hợp của loại từ tiếng Việt với các từ chỉ bộ phận cơ thể người.
Như: cái, quả, trái, lá, con, khuôn, bộ, hòn, tấm, chiếc, mái, vầng, củ,
buồng Tác giả nhận xét và lí giải việc chiếm ưu thế về số lượng của
loại từ “cái” trong sự kết hợp.
Đỗ Anh Vũ “Mông má” (Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống. Số
11/2003) đã mượn hình ảnh gây chú ý cảm quan của “mông” và “má”
trên bộ phận cơ thể để lí giải ý nghĩa trong thực tế cuộc sống xã hội
của từ ghép “mông má”, qua đó cho thấy sự phong phú, linh hoạt và
tính sáng tạo đầy thú vị của tiếng Việt.
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác của Nguyễn
Xuân Hòa, Hiểu thêm về thành ngữ “nuôi ong tay áo” (Ngôn ngữ &
Đời sống. Tổng mục 2004. 1+2 [99+100]); Trần Văn Nam, Thành ngữ
Ruột thắt gan bào trong ca dao Nam Bộ (Ngôn ngữ & Đời sống. Tổng
mục 2004. 11 [109]); Phan Hồng Liên, Từ "ruột" trong các tổ hợp từ
chỉ quan hệ thân tộc của người Việt. (Kỉ yếu Ngữ học Trẻ năm 2004),
v.v
1.6.3. Nghiên cứu so sánh về từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Việt
với các ngôn ngữ khác
Đàm Tú Quỳnh “So sánh từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Hán
và tiếng Việt” (Luận văn thạc sĩ Trường ĐH Sư phạm Hoa Đông
Trung Quốc, 2004) đã tiến hành so sánh cấu trúc và ngữ nghĩa của các
từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Hán và tiếng Việt, chỉ ra một số đặc
điểm giống nhau và khác nhau trong lớp từ vựng này.
Chúng tôi cũng đã tham khảo tới một số công trình nghiên cứu
của các tác giả khác, như Đỗ Hoàng Ngân (1996) đối chiếu Thành ngữ
có từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Nga và tiếng Việt; Nguyễn Thị
Thu (1997) so sánh đối chiếu Thành ngữ có từ “tay” trong tiếng Nga
với tiếng Anh và tiếng Việt; Lê Sỹ Sen (1999) đối chiếu Thành ngữ
tiếng Nga có từ “mắt” với các đơn vị tương đương trong tiếng Anh và

đảm nhận chức năng tiếp nhận, thao tác gia công, xử lý các thông tin
trong hoạt động nhận thức. Quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai (dạy
học ngoại ngữ) chủ yếu được thực hiện qua ba giai đoạn: giai đoạn
người học xử lý mối quan hệ giữa tri thức ngôn ngữ tiếp thu (đầu vào)
và tri thức ngôn ngữ bản thân vốn có; những biểu hiện của người học
về tri thức ngôn ngữ thứ hai (ngoại ngữ); mối quan hệ giữa tri thức
ngôn ngữ thứ hai (ngoại ngữ) và vấn đề sản sinh ngôn ngữ (đầu ra)
của người học.
Qui luật nhận thức của con người luôn phát triển theo hướng mở
152
rộng từ gần ra xa, đi từ thực thể đến phi thực thể, từ đơn giản đến
phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng. Chính vì vậy trong dạy học ngôn
ngữ, nhà ngôn ngữ học tâm lý Morten đã đưa ra kết luận: “Mô hình
sản sinh từ vựng đã nhấn mạnh cơ chế xuất hiện từ và ý nghĩa từ việc
kích hoạt các thông tin tác động đến thính giác, thị giác và các thông
tin ngữ cảnh. Thông qua lớp từ vựng để hình thành và diễn đạt các
khái niệm trong nhận thức của con người”. Một trong những đặc tính
vốn có trong khái niệm biểu đạt của từ vựng là cơ chế ẩn dụ, ví von và
so sánh được bắt nguồn từ kinh nghiệm cá nhân và từ các kinh nghiệm
xã hội, giúp cho mục tiêu nhận thức của con người trở nên phong phú
và đầy đủ hơn. (Lakoff và Johnson, 1980)
Trong lĩnh vực dạy học ngôn ngữ, thầy dạy và học sinh là những
chủ thể tham gia vào quá trình này. Đối tượng thầy dạy truyền thụ tri
thức, hướng dẫn học tập nắm bắt kiến thức và rèn luyện kỹ năng ngôn
ngữ, chủ thể thụ đắc tri thức và vận dụng giao tiếp chính là học sinh.
Xét về khía cạnh tâm lý học, học sinh là những cá nhân cụ thể, có điều
kiện vật chất, tố chất tâm lý tình cảm, độ tuổi, mức độ hoạt động,
phương pháp học tập, khả năng nhận thức, vận dụng độc lập và khác
nhau. Cá nhân học sinh thông qua các hoạt động tâm lý như tri nhận,
lưu nhớ, tư duy và tưởng tượng để học tập, lĩnh hội và vận dụng ngôn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status