ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THU HÀ
SỰ GIAO THOA GIỮA THƠ VÀ VĂN XUÔI
TRONG TRUYỆN NGẮN VÀ TẢN VĂN CỦA
NGUYỄN QUANG THIỀU LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34 Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Xuân Thạch
Hà Nội – 2013
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
TẢN VĂN NGUYỄN QUANG THIỀU 85
3.1. Cái tôi trữ tình 86
3.1.1. Cái tôi trăn trở về sự suy kiệt của thế gian trong thời đại công
nghiệp hóa, đô thị hóa 88
3.1.2. Cái tôi hồi tưởng nặng lòng với kí ức tuổi thơ 95
3.2. Giọng điệu trữ tình 99
3.2.1. Giọng giáo huấn sắc lẹm 100
3.2.2. Giọng trò chuyện tâm tình 102
3.3. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu 104
3.3.1. Ngôn ngữ giàu hình ảnh 104
3.3.2. Ngôn ngữ giàu nhịp điệu 107
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, xã hội Việt Nam có những biến
chuyển mạnh mẽ trên nhiều phương diện. Nền kinh tế thị trường, xu thế
“toàn cầu hóa” và sự bùng nổ thông tin đã tạo nên diện mạo mới cho một
xã hội hiện đại, dân chủ. Cùng với những thay đổi cơ giới là sự chuyển
biến sâu xa trong thế giới nội cảm, trong cách nghĩ, lối sống và tư tưởng cá
nhân, trong tâm thức văn hóa cộng đồng. Sự rộng mở của một thế giới đa
chiều kích còn dẫn đến những biến đổi quan trọng trong thế giới quan, nhân
sinh quan của người cầm bút. Văn học giai đoạn này đã trải qua những
chấn động mạnh mẽ với những cuộc lột xác trong tư duy và trong cách thức
biểu đạt thế giới. Đổi mới, cách tân trở thành khát vọng tự thân thôi thúc
người nghệ sĩ tìm tòi, sáng tạo. Không chỉ mở rộng biên độ phản ánh, khám
phá hiện thực ở bề sâu, các nhà văn còn nỗ lực phá vỡ các khuôn mẫu nghệ
thuật truyền thống. Một trong những nỗ lực ấy là việc xóa nhòa ranh giới
Đoxtoiepxki. Đặc biệt, ngay từ năm 1941, trong bài viết Tiểu thuyết như
một thể loại văn học (in trong chuyên luận Lí luận và thi pháp tiểu thuyết),
tuy không dùng đến khái niệm tương tác thể loại nhưng M. Bakhtin đã đưa
ra những luận điểm quan trọng về một“cuộc đấu tranh sâu sắc hơn và
mang tính lịch sử hơn giữa các thể loại, sự biến thái và phát triển nòng cốt
thể loại của văn học” [4]. Ông đề cao vai trò của tiểu thuyết trong việc tác
động, khuấy đảo, tạo nên những quan hệ không hài hòa giữa các thể loại:
lấn át thể loại này, thu hút thể loại kia vào trong cấu trúc của mình, biện
giải lại và sắp xếp trọng tâm cho chúng. Tiểu thuyết xúc tác làm đổi mới tất
cả các thể loại khác. Do vậy, vào những thời đại tiểu thuyết thống ngự, tiểu
thuyết về nhiều phương diện, đã và đang báo trước sự phát triển của tương
5
lai của toàn bộ văn học. Trong công trình này, M. Bakhtin cũng nêu quan
điểm về tính uyển chuyển, linh hoạt, tính vượt rào và tính không quy phạm
của thể loại này.
Công trình tiếp theo có thể kể tới là Logic học về các thể loại văn
học của nhà nghiên cứu người Đức, Kate Hamburger do Vũ Hoàng Địch,
Trần Ngọc Vương dịch. Trong tác phẩm lý luận này, Kate Hamburger đã
đưa ra một cách phân chia thể loại văn học khác với cách phân chia truyền
thống với tiêu chí dựa trên một sự phân biệt các kiểu sử dụng hoặc kiểu
chức năng của ngôn ngữ. Theo đó, “việc sử dụng ngôn ngữ về mặt văn học
hoặc được dùng để kiến tạo những dạng hiện thực hư cấu hoàn toàn, và
một cách rất đặc thù, những nhân vật hoạt động không phải với tư cách là
những đối tượng của các lời phát ngôn, mà với tư cách chủ thể được ưu đãi
bằng sự tự tại (đó là trường hợp của hư cấu tự sự hoặc kịch), hoặc được
dùng để sản sinh ra những lời phát ngôn về hiện thực mà chức năng của
chúng không phải để truyền đạt, mà là để kiến tạo một kinh nghiệm từng
nếm trải không thể tách rời được với sự phát ngôn của nó, và nguồn gốc
của nó về bản chất là không thể xác định được, nghĩa là không thể gắn cho
Đây là những tiền đề lý luận quan trong trong việc triển khai vấn đề. Muốn
nhận thức về sự giao thoa thể loại thì trước hết cần nắm được đặc trưng của
từng thể, cũng như từng loại; phải nhận chân cho được cái nòng cốt bất
biến của mỗi loại/ thể. Ngoài ra, có ý nghĩa rất lớn đó là bài viết: Đặc điểm
của truyện ngắn hiện đại. Trong bài viết này tác giả nêu rõ trong những đặc
điểm của truyện ngắn hiện đại có đến hai đặc điểm thể hiện sự thâm nhập
của các thể loại vào truyện ngắn: Truyện ngắn hiện đại gần với thơ và
truyện ngắn hiện đại gần với kịch. Luôn luôn tồn tại bên cạnh tiểu thuyết và
rất khó khu biệt rạch ròi về ranh giới thể loại với tiểu thuyết, đó chính là
7
truyện ngắn. Với quan niệm tương tác thể loại nằm trong chính đặc trưng
của loại thể, công trình Truyện ngắn - Lý luận tác gia và tác phẩm của Lê
Huy Bắc trong khi đề cập đến Truyện ngắn như một thể loại đã lưu tâm đến
những tác phẩm có sự giao thoa của hai thể loại trên. Bài viết cũng đề cập
đến sự ảnh hưởng qua lại giữa truyện ngắn và thơ.
Đề tài cấp bộ: Sự tương tác của các thể loại trong văn học Việt Nam
từ đầu thế kỷ XX đến 1945 do TS.Tôn Thất Dụng chủ nhiệm đề tài là công
trình đầu tiên đặt vấn đề diện mạo và đặc điểm văn học một giai đoạn từ
hướng nhìn tương tác thể loại. Qua bức tranh sinh động của đời sống tương
tác thể loại được chứng minh bằng nhiều cứ liệu tác giả, tác phẩm; các tác
giả đề tài giúp chúng ta có cái nhìn khái quát và sâu sắc hơn về diện mạo
văn học. Cùng với đề tài của Tôn Thất Dụng, qua bài viết: Sự tương tác
giữa các thể loại văn học và thể thơ văn xuôi trong thơ mới 1932 - 1945,
Nguyễn Phong Nam đã đi sâu xem xét sự giao thoa thể loại trong một
phong trào thơ có nhiều thành tựu. Ở đây, ông đã tập trung phân tích về sự
tác động của các thể loại đối với việc hình thành những thể thơ rất đa dạng
và đầy sáng tạo trong Thơ mới.
Dưới góc độ văn học sử còn có nhiều bài viết, trực tiếp hoặc gián
tiếp quan tâm đến vấn đề này. Từ những tiền đề lý luận của M. Bakhtin, Vũ
thập niên đầu thế kỷ, đó còn là sự hội ngộ của truyện và kí để tạo ra thể loại
truyện - kí trong văn học 1945 - 1975. Ngoài ra, dấu hiệu của giao thoa thể
loại, đặc biệt là giữa thơ và văn xuôi còn được khẳng định rải rác trong
nhiều bài viết như: Quan niệm về thể tài truyện ngắn trong văn học Việt
Nam sau 1975 của Phùng Ngọc Kiếm, Chất thơ trong ngôn ngữ tiểu thuyết
Việt Nam đương đại của Nguyễn Thị Ninh, Thơ văn xuôi và văn xuôi thơ
của Rosa Chacel…
9
Bên cạnh các cuốn sách quy tụ, tập hợp nhiều ý kiến là các luận án đi
sâu nghiên cứu về sự giao thoa, tương tác thể loại. Tiêu biểu là luận án Sự
tương tác thể loại trong văn xuôi Việt Nam từ 1986 đến nay của Trần Viết
Thiện. Chọn hai thể loại chủ đạo của văn xuôi Việt Nam từ 1986 đến nay là
tiểu thuyết và truyện ngắn, luận án đã cho thấy một bức tranh tương tác,
giao thoa thể loại với những chiều, những kiểu, những cấp độ tương tác
vừa phong phú vừa độc đáo. Từ đó, tác giả đi đến những khái quát quan
trọng về những tín hiệu mới của văn xuôi Việt Nam từ 1986 đến nay. Có
thể nói, đây là công trình nghiên cứu trực diện và sâu sắc về vấn đề tương
tác thể loại trong văn học hiện đại. Luận án của Nguyễn Thị Bình quan tâm
đến: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 - khảo sát
trên nét lớn, trong đó có một nét lớn quan trọng, đó là đổi mới về phương
diện thể loại. Luận án: Những đặc điểm của văn xuôi Việt Nam cuối những
năm 80 đầu những năm 90 của Hoàng Thị Hồng Hà lại đề cập đến những
đặc điểm của văn xuôi, trong đó có: Một quan niệm mới về con người,
những đổi mới về ngôn ngữ và giọng điệu. Tác giả cũng cho ta cái nhìn
sinh động về diện mạo văn xuôi trong những năm có nhiều đột phá của văn
học dân tộc.
2.2. Tình hình nghiên cứu, phê bình tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều.
Từ sau khi tập thơ Sự mất ngủ của lửa được Hội nhà văn Việt Nam
trao giải thưởng vào năm 1993, tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều được
của thơ Thiều là cái giọng lơ lớ Tây” [28].
Thứ ba là, những tác giả trẻ chịu ảnh hưởng của thơ Nguyễn Quang
Thiều: Trong bài phỏng vấn Vi Thùy Linh mong một bữa tối với Nguyễn
Quang Thiều, nói về Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ Vi Thùy Linh thừa
nhận: “Tôi nghĩ rằng đó là nhà thơ đáng đọc nhất của nền thơ ca đương
11
đại Việt Nam. Ông có từ trường rất mạnh. Tôi không chịu ảnh hưởng của
ông nhưng tôi biết có rất nhiều người làm thơ, không chỉ những người mới
vào nghề mà kể cả những người kỳ cựu, cũng chịu ảnh hưởng từ ông hay
bắt chước ông” [33]. Nhà thơ Dạ Thảo Phương khi trả lời phỏng vấn báo
vnexpress.net cũng không ngần ngại cho rằng: “Người có ảnh hưởng mạnh
nhất đến ý thức sáng tác của tôi là nhà thơ Nguyễn Quang Thiều”.
Về truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều: Có một số bài viết mang
tính tổng quát như: Truyện ngắn - Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể
loại. Ở đây, nhà phê bình Bùi Việt Thắng đã nhận định: “Về khía cạnh thi
pháp, truyện ngắn 1986 - 2000 đã trở nên phong phú về hình thức, phong
cách và bút pháp…Hình thức đa dạng “có truyền kỳ hiện đại “Bến trần
gian” (Lưu Sơn Minh), “Hai người đàn bà xóm Trại” (Nguyễn Quang
Thiều)”. Trong bài “Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975”, PGS.TS
Nguyễn Bích Thu cũng khẳng định Nguyễn Quang Thiều cùng với nhiều
nhà văn khác như Tạ Duy Anh, Y Ban, Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Thị
Thu Huệ… đã tạo nên một diện mạo mới cho truyện ngắn thời kì đổi mới.
Lê Thị Hường trong bài viết: Các kiểu kết thúc của truyện ngắn hôm nay
(Tạp chí văn học, số 4 -1995) cũng đã khảo sát và đánh giá kết thúc của
truyện ngắn Mùa hoa cải bên sông của Nguyễn Quang Thiều: “Cách kết
thúc của Nguyễn Quang Thiều tiêu biểu cho kiểu kết thúc của truyện ngắn
hôm nay và là mô hình kết thúc phổ biến”. Nguyễn Khắc Viện cũng đã đọc
và phân tích truyện ngắn Gió dại trong tập truyện Người đàn bà tóc trắng
của Nguyễn Quang Thiều và ông nhận định: “Chỉ qua một truyện ngắn mà
tiếng nói khách quan trong việc đánh giá vai trò, vị trí của Nguyễn Quang
Thiều trong nền văn chương đương đại.
13
Đạt được những mục đích trên, luận văn sẽ có ý nghĩa như một tư
liệu tham khảo để những độc giả quan tâm đến sự nghiệp văn học của
Nguyễn Quang Thiều có thể sử dụng để hiểu rõ hơn những nét đặc sắc
trong mảng sáng tác văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong luận văn này là các tác
phẩm văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều từ 1990 đến nay, giới hạn tác
phẩm văn xuôi trong khuôn khổ truyện ngắn và tản văn. Về truyện ngắn,
tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều đã được in đi in lại và tuyển chọn trong
nhiều tập truyện của các nhà xuất bản. Mới đây, năm 2011, Nhà xuất bản
Phụ nữ đã tập hợp phần lớn truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều để in
trong cuốn: Nguyễn Quang Thiều, tác phẩm chọn lọc. Luận văn sẽ tập
trung tìm hiểu 30 truyện ngắn được chọn lọc trong cuốn sách này, ngoài ra
cũng không quên khảo sát thêm một số truyện khác được in trong các tập
truyện đã xuất bản trước đây. Về tản văn, các tác phẩm của Nguyễn Quang
Thiều được in rải rác trên các báo, tạp chí điện tử… nhưng vào năm 2012
đã được tuyển in thành cuốn sách mang tiêu đề Có một kẻ rời bỏ thành phố
. 28 tản văn trong cuốn này sẽ là cơ sở để luận văn tìm hiểu sự giao thoa
giữa thơ và văn xuôi trong tản văn của Nguyễn Quang Thiều. Ngoài ra, bộ
phận thơ của Nguyễn Quang Thiều cũng được luận văn xem xét trong thế
so sánh với truyện ngắn và tản văn để thấy được sự thống nhất trong nội
dung và phong cách của cây bút này.
5. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thể loại và giao thoa thể loại trong sáng tác của một tác
giả văn học, đề tài trước hết ứng dụng phương pháp loại hình nhằm phân
loại các loại/ thể làm cơ sở cho việc nhận thức sự giao thoa thể loại. Theo
1.1. Tiền đề lý thuyết
1.1.1. Hiện tượng giao thoa thể loại trong văn học
Cơ sở của hiện tượng giao thoa thể loại:
Thể loại văn học được hiểu là một hiện tượng loại hình của sáng tác
và giao tiếp văn học, hình thành trên cơ sở sự lặp lại có quy luật của các
yếu tố tác phẩm. Trong giáo trình Lý luận văn học (Phương Lựu chủ biên),
Trần Đình Sử khẳng định: “Thể loại thể hiện một giới hạn tiếp xúc với đời
sống, một cách tiếp cận, một góc nhìn, một trường quan sát, một quan niệm
đời sống, đồng thời cũng là nguyên tắc xây dựng thế giới nghệ thuật” [34].
Nhiều nhà nghiên cứu cũng thống nhất về khái niệm thể loại như một hình
thức chỉnh thể có tính quy luật của loại hình.
Sự phân loại văn học là bước đầu tiên để nhận thức các qui luật thể
loại. Khi phân chia thể loại (hay thể tài) tác phẩm văn học, người ta thường
căn cứ vào ba tiêu chí chủ yếu: 1, tố chất thẩm mĩ chủ đạo; 2, giọng điệu;
3, dung lượng và cấu trúc chung của tác phẩm [54]. Một tổng hòa các tiêu
chí như vậy làm nên “nòng cốt” (hay mô hình) thể loại. Các nhà lý luận bậc
thầy từ Aristotle cho đến Boileau đều xuất phát từ ba phương thức phản
ánh hiện thực mà phân chia toàn bộ tác phẩm văn học thành ba loại: Tự sự,
trữ tình, kịch. Trong quá trình phát triển của đời sống văn học nói chung và
đời sống cụ thể của văn học Việt Nam nói riêng đã sản sinh ra các “thể” ,
các “tiểu loại” phong phú mà những cách phân loại trước đó tỏ ra bất cập,
thiếu khả năng bao quát. Trong công trình Lý luận văn học, Trần Đình Sử
đã khắc phục những nhược điểm trên bằng cách chia một cách qui ước
thành năm loại. Ngoài ba loại theo cách “chia ba”, bổ sung vào hai loại mới
là: Ký và văn chính luận. Đó là nấc thang đầu tiên để tiến đến việc phân
16
chia thể hoặc thể loại tác phẩm. Các nhà nghiên cứu thống nhất chia loại ra
các “thể” và xem “thể” như là một thể loại. Yếu tố ổn định, truyền thống
cho ta những tiêu chí để phân biệt cái cốt lõi bất biến của từng loại thể:
Thực tế đời sống văn học cho thấy mỗi một “nòng cốt thể loại” tồn
tại như những mô chuẩn nghệ thuật ít nhiều mang tính quy ước, chỉ có ý
nghĩa tương đối, và luôn có khả năng biến đổi. Vì vậy, nhà văn khi sáng tác
một thể loại nào đó, một mặt luôn tôn trọng, tuân thủ những mô chuẩn nghệ
thuật quy ước, mặt khác - ít hoặc nhiều luôn có nhu cầu thoát bỏ khỏi
những mô chuẩn quy ước ấy, bằng cách “nhìn sang” những thể loại xung
quanh, rút tỉa lấy tinh hoa của chúng, tổng hợp khinh nghiệm của hai hay
nhiều thể loại, tạo ra những tác phẩm “lệch chuẩn”. Nếu nhà văn thành
công, anh ta sẽ có những tác phẩm hay hơn, mới hơn; nếu chưa thành công
thì những thử nghiệm như vậy ít ra cũng là một gợi ý, một sự chuẩn bị cho
bước chuyển của những tác phẩm sau này. Chẳng hạn, đúc kết từ chính
thực tế sáng tác của mình, nhà văn Nguyễn Kiên cho rằng, truyện ngắn
trong khi phát triển, đã “nhìn sang” tiểu thuyết, bởi: “ Truyện ngắn, trong
suốt quá trình phát triển, luôn luôn đứng trước một thách thức: Phải làm
sao sức chứa và sức nặng vượt thoát ra ngoài cái khuôn khổ nhỏ bé mà
nghệ thuật khuôn nó vào. Lẽ dĩ nhiên truyện ngắn phải tự tìm tòi, đồng thời
nó cũng nhìn sang tiểu thuyết, được tiểu thuyết kích thích và dần dần nảy
nở một loại truyện ngắn tôi tạm gọi là truyện ngắn - triết lí”. Nhiều nhà
văn, nhà nghiên cứu văn học cũng cho rằng một thể loại, trong quá trình
hình thành, phát triển có thể tổng hợp vào nó đặc điểm hay ưu thế của một
vài thể, loại khác, chẳng hạn: “Kí là sự hợp nhất của truyện và nghiên
cứu” và trong kí, “vừa có những yếu tố của truyện, vừa có sự tham gia
trực tiếp của tư duy nghiên cứu”, hoặc: “Người viết tiểu thuyết có thể vận
18
dụng nhiều phương thức: tự sự, trữ tình, kịch ”; hoặc: “ ở một khía cạnh
nào đó, truyện ngắn gần với thơ. Ở một khía cạnh khác, truyện ngắn gần
với kịch ”. Cho nên, việc thoát bỏ mô hình thể loại, mang thêm vào tác
phẩm những yếu tố của thể loại khác sẽ góp phần điều chỉnh mô hình, nắn
lại nòng cốt thể loại của tác phẩm, tránh được sự xơ cứng, thúc đẩy sự vận
Giao thoa giữa loại với loại, loại với thể tạo ra những thể loại trung
gian, lưỡng hợp, mang đắc điểm “kép” của cả hai phương thức phản ánh
đời sống, hai hình thức kĩ thuật, chất liệu phản ánh đời sống vốn rất khác
biệt nhau. Ví dụ: Giao thoa giữa loại trữ tình và loại kịch tạo nên kịch thơ;
tương tác giữa loại tự sự với loại trữ tình tạo nên truyện thơ (hay thơ - tiểu
thuyết, như thể nghiệm của Trần Dần vào đầu những năm 60 của thế kỷ
XX); giao thoa giữa thể truyện ngắn và loại trữ tình tạo nên loại hình
truyện ngắn đậm chất trữ tình (như những truyện ngắn - trữ tình hóa của
Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, ); giao thoa giữa thể truyện ngắn
với loại kịch tạo nên loại hình truyện ngắn giàu kịch tính (như những
truyện ngắn - kịch hóa của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, ).
Giao thoa giữa thể với thể cũng tạo ra những thể loại trung gian, tổng
hợp mang đặc điểm “kép” của hai nòng cốt hay mô hình thể loại. Ví dụ:
Tương tác giữa thể truyện ngắn với thể tiểu thuyết tạo nên truyện ngắn -
tiểu thuyết hóa, truyện ngắn viết dài hoặc tiểu thuyết viết ngắn; giao thoa
giữa truyện ngắn với các thể văn học “ngắn”, cực “ngắn” (chỉ gồm 56 chữ,
28 chữ, 20 chữ, như thơ thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, lục ngôn tứ
tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt, ) tạo nên những thể loại “mi-ni” (truyện ngắn
“mi-ni”: “truyện cực ngắn” một vài trăm chữ, hay “truyện rất ngắn” chừng trên
dưới một ngàn chữ, ; thơ “mi-ni”: Kiểu thơ “mi-ni” của Trần Dần, hoặc thơ
lục bát bốn dòng mà một số người làm thơ hiện đại vẫn thường sử dụng).
Giao thoa giữa các yếu tố thuộc nhóm thể loại sáng tác có hư cấu
(fiction) như tiểu thuyết, truyện ngắn, và các yếu tố thuộc nhóm thể loại
20
sáng tác không hư cấu (non fiction) như hồi kí, kí sự, nhật kí, ghi chép,
tạo nên các thể loại đan xen giữa các yếu tố hư cấu với yếu tố không hư cấu
(như truyện kí, tự truyện, tiểu thuyết tự thuật, ).
Xét về hình thức giao thoa, sự giao thoa thể loại có thể diễn ra theo
các hình thức chính: 1) hình thức tổng hợp thể loại (thể loại hòa nhập lám
hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là dấu hiệu tiêu
biểu của thơ trữ tình.
Còn thuật ngữ văn xuôi được Từ điển thuật ngữ văn học giải thích:
“Văn xuôi trong nghĩa rộng chỉ loại văn đối lập với văn vần, và trong
nghĩa hẹp chỉ các tác phẩm văn phân biệt với kịch, thơ bao gồm một phạm vi
rộng từ tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, kí, tiểu phẩm chính luận” [16].
Sự khác biệt giữa thơ và văn xuôi:
Về phương diện tiếp cận và chiếm lĩnh hiện thực: Nhóm tác giả Từ
điển văn học (bộ mới) cho rằng: Tác phẩm văn học nào cũng biểu hiện tư
tưởng tình cảm của con người trong cuộc sống, nhưng thơ trữ tình biểu
hiện tư tưởng tình cảm theo cách riêng. Ở tác phẩm văn xuôi tự sự, tác giả
dựng lên những bức tranh xã hội, trong đó các nhân vật có những đường đi
và số phận riêng. Ở thơ trữ tình có điều khác, thế giới bên trong của con
người: cảm xúc, tâm trạng, nỗi niềm, suy tư được trình bày trực tiếp và làm
thành nội dung chủ yếu của tác phẩm. Như vậy, biểu hiện trực tiếp thế giới
chủ quan của con người là cách phản ánh hiện thực một cách riêng biệt của
thơ trữ tình, còn ở văn xuôi tự sự, nhà văn tái hiện đời sống trong toàn bộ
tính khách quan của nó.
Về nguyên tắc tổ chức tác phẩm: Tư tưởng, tình cảm, tâm trạng, cảm
xúc trong thơ không thể hiện một cách bộc trực, trần trụi mà thường hòa
tan, biến hóa trong những hình tượng, biểu tượng nghệ thuật mới lạ, gợi
22
cho người đọc nhiều liên tưởng thú vị. Có được điều đó là nhờ tứ thơ. Tứ
thơ là điểm tựa cho kết cấu của bài thơ, mang cách nhìn, cách cảm, cách
nghĩ của nhà thơ. Trái lại, nét đặc thù của các tác phẩm văn xuôi như
truyện ngắn, tiểu thuyết là vai trò tổ chức của trần thuật: Nó thông báo về
các biến cố, các tình tiết như thông báo về một cái gì đó đã xảy ra và được
nhớ lại, đồng thời mô tả hoàn cảnh hành động và dáng nét các nhân vật,
nhiều khi còn có thêm cả những lời bàn luận. Hình thức tự sự dựa vào các
của nó đã nằm rất sâu trong cội nguồn, trong tâm thức con người Việt Nam.
Chất trữ tình có lẽ đã được kết lắng thành trầm tích trong hằng số văn học
dân tộc. Mỗi con người, mỗi nhà văn Việt Nam do vậy, tự căn cốt đã tiềm
ẩn một nhà thơ trong mình. Tổng kết về thành tựu văn học viết Việt Nam
qua mười thế kỷ, Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh khái quát: Trong truyền
thống văn học Việt Nam loại hình trữ tình vẫn trội hơn tự sự, sự kết tinh
nghệ thuật thể hiện ở những tác phẩm cỡ nhỏ hơn là những tác phẩm cỡ
lớn. Đó là một thực tế đã được chứng minh bằng đời sống văn học. Chất trữ
tình, đặc biệt là thơ thâm nhập vào truyện ngắn, tản văn với sự đậm nhạt
khác nhau, với những kiểu dạng khác nhau tạo nên dấu ấn và hiệu ứng
thẩm mỹ đậm nét. Nhà nghiên cứu người Nga - Kuranop - cho rằng: Trong
nền văn học hôm nay, chúng ta chứng kiến sự xích lại gần nhau giữa thơ và
văn xuôi. Sự xích lại này lằm cho văn xuôi chúng ta thêm nồng ấm, run
rẩy, nhiều chất hội họa, cô đọng hơn trong những ẩn dụ thấm vào từng câu,
từng đoạn.
Những ảnh hưởng của thơ vào văn xuôi:
Cái tôi trữ tình: Sự tham gia của thơ vào cấu trúc truyện, trước hết
được thể hiện ở cái tôi tác giả. Đó không phải là cái tôi tự sự khách quan
mà là một hình tượng cái tôi độc đáo: Cái tôi cảm xúc, cái tôi cảm nghĩ, cái
24
tôi đầy suy tư. Chúng ta dễ nhận thấy cái tôi trữ tình của thơ qua một đặc
điểm nổi bật: Rất nhiều truyện ngắn trần thuật ở ngôi thứ nhất. Đặc biệt,
trong tản văn, cái tôi trữ tình luôn hiện diện một cách trực diện nhất. Trong
nhiều trường hợp, cái tôi ấy trùng khít với cái tôi tác giả. Ở những trường
hợp khác, tác giả gửi gắm góc nhìn này vào nhân vật. Chính điểm nhìn ấy
là khởi nguồn của dư vị trữ tình, tạo nên thế giới cảm xúc thấm đẫm trên
trang văn.
Thế giới của biểu tượng: Hình ảnh mang tính chất biểu tượng không
phải là đặc quyền của các thể loại trữ tình nhưng những biểu tượng có tính