Biểu tượng như một phương thức phản ánh của văn xuôi đương đại (qua tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

 TRẦN THỊ HOÀI PHƢƠNG
BIỂU TƢỢNG NHƢ MỘT PHƢƠNG THỨC PHẢN ÁNH
CỦA VĂN XUÔI ĐƢƠNG ĐẠI
(Qua tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương,
Hồ Anh Thái )

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

HÀ NỘI - 10/2009

1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Lịch sử vấn đề 4
2.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề biểu tượng trong văn xuôi đương đại 4
2.2. Lịch sử nghiên cứu liên quan đến biểu tượng trong tác phẩm của Nguyễn Huy
Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương 8
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
4. Phương pháp nghiên cứu 17
5. Cấu trúc luận văn 18

Chương 1. Khái lược về Biểu tượng và hành trình sáng tác của Nguyễn Huy
Thiệp, Hồ Anh Thái và Nguyễn Bình Phương

1.1. Giới thuyết khái niệm Biểu tượng 19
1.1.1. Một số định nghĩa về Biểu tượng 19
1.1.2. Biểu tượng trong văn học nghệ thuật- một loại hình tượng đặc biệt 25
1.1.3. Biểu tượng và hành trình kiếm tìm phương thức biểu hiện của văn học Việt
Nam từ sau 1975 32
1.2. Biểu tượng và quá trình sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái,
Nguyễn Bình Phương 36

3.3.1.2. Lặp ở cấp độ hình ảnh 131
3.3.2. Giễu nhại 136
KẾT LUẬN 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO 145

3

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học đương đại tuy đã và đang vận động theo nhiều chiều hướng rất phức
tạp nhưng có thể nhận thấy những nét diện mạo riêng, một bầu không khí riêng
khác hẳn thời kỳ trước đã được định hình. Một trong những ấn tượng đặc biệt toát
lên từ bầu không khí văn học chung đó, nhất là ở những tác phẩm, tác giả xuất sắc,
đó là sức ám ảnh kỳ lạ, sự khuếch trương của tính đa nghĩa, mơ hồ, sự lôi cuốn khó
cưỡng toát ra từ những cảm thức lạ lùng đa chiều kích về đời sống… Sự vận động

thập kỷ kể từ những ngày đầu đổi mới, đến nay nền văn học Việt Nam đã định hình
cho mình một diện mạo riêng với những thành tựu không thể phủ nhận, nhưng cũng
với nhiều vấn đề mà đến nay đã bộc lộ ra ở sự chững lại của nó. Tương ứng với hiện
thực văn học đa dạng, phong phú đồng thời phức tạp và luôn trong trạng thái vận
động biến chuyển đó, lý luận phê bình văn học sau những bước loay hoay ban đầu
cũng đã kịp thời có những bước chuyển để có thể nắm bắt bằng sự quan sát, phân
tích, bằng việc tiếp thu và ứng dụng các lý thuyết mới, bằng việc vượt lên cải biến
sức ì của những cách nhìn đã cũ, những lối tiếp cận không còn phù hợp. Riêng đối
với văn xuôi đương đại, đến nay đã có nhiều công trình lớn nhỏ đề cập đến các
phương diện: sự chuyển biến từ bối cảnh xã hội thẩm mĩ đến quan niệm về hiện
thực đời sống, quan niệm về văn chương, hệ quả là sự thay đổi về hệ đề tài, hình
tượng, cảm hứng, đối tượng, và những cách tân về hình thức như kết cấu, nhân vật,
ngôn ngữ, giọng điệu… Quyển sách mới xuất bản gần đây (2006) Văn học Việt
Nam sau 1975: Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy tập hợp các bài viết về văn

5
học đương đại với nhiều góc độ, cách tiếp cận khác nhau cho ta một cái nhìn tương
đối bao quát.
Trong các công trình nghiên cứu về văn xuôi đương đại, từ những cái nhìn
bao quát cho đến những nghiên cứu về các tác giả cụ thể, có thể nhận thấy các vấn
đề xung quanh biểu tượng được đề cập đến ngày càng nhiều cho thấy mức độ quan
trọng của vấn đề. Trong đó, các hình thức, dạng thức khác nhau của biểu tượng đã
được phân tích, kiến giải từ nhiều góc độ khác nhau, mang lại cho luận văn chúng
tôi rất nhiều gợi ý và đối thoại có giá trị.
Trong bài viết của mình Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam
từ cuối thập kỷ 80 đến nay, khi nêu ra, phân tích và minh họa cho xu hướng tiểu
thuyết “trò chơi”, tác giả Nguyễn Thị Bình đã đưa ra những luận điểm mà, từ góc
nhìn của chúng tôi, có liên quan hết sức sâu sắc với vấn đề biểu tượng của văn xuôi
đương đại. Những tiểu thuyết được tác giả xem là tiêu biểu cho “những nỗ lực thể
nghiệm có khi còn dang dở, hoặc lạ lẫm, hoặc khó đọc… nhưng ít nhất chúng đang

Tiếp đó, tác giả đã phân tích chất liêu trai được thể hiện như thế nào qua cách dựng
truyện, qua thế giới nhân vật và qua cái mà tác giả gọi là “các phương thức thể hiện
cái kỳ lạ”: dùng mộng ảo, dùng biểu tượng và kết cấu mở. Lưu ý rằng, khái niệm
biểu tượng tác giả sử dụng ở đây mang nghĩa hẹp, chỉ những hình ảnh biểu tượng
xuất hiện trong các truyện ngắn kỳ ảo. Bên cạnh những kiến giải xác đáng, có thể
nhận thấy rõ sự lúng túng của tác giả khi nêu lên các phương thức thể hiện chất liêu
trai; sự phân tách ba yếu tố có nhiều điểm chồng chéo lên nhau và kém phần rõ
ràng. Ngoài ra, trong khuôn khổ một bài viết, những gì tác giả chỉ ra mới mang tính
chất đặt vấn đề và là một bản phác họa giới hạn trong thể loại truyện ngắn.
Cũng là một cái nhìn từ góc độ thể loại truyện ngắn, trong bài viết đăng trên
tạp chí Nghiên cứu văn học số 5 năm 2008, Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Việt
Nam sau 1975, thạc sĩ Phạm Thị Thanh Nga sau khi phân tích dòng chảy văn học
kỳ ảo trong tiến trình phát triển của truyện ngắn Việt Nam từ thời kỳ trung đại, đã
đề cập đến yếu tố kỳ ảo như là yếu tố đóng vai trò “xây dựng tình huống kịch tính”
trong truyện ngắn hiện đại. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, khái niệm “cái kỳ ảo” mà tác

7
giả sử dụng ở đây tương đương với thuật ngữ fantasticque trong tiếng Pháp, và gần
với các khái niệm cái huyễn tưởng, cái truyền kỳ trong tiếng Việt. Điều đó phần nào
giải thích cho việc cách tiếp cận của tác giả không có nhiều điểm chung so với cách
tiếp cận của luận văn, vì khái niệm biểu tượng chúng tôi dùng ở đây mang hàm
nghĩa rộng hơn cũng như với những tiêu chí đặc trưng khác.
Cũng đề cập đến yếu tố kỳ ảo, nhưng tác giả Phùng Hữu Hải trong bài viết
Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn VN hiện đại từ sau 1975 lại quan niệm rằng: “Ở tầm
vĩ mô, yếu tố kỳ ảo thể hiện một quan niệm mới của các nhà văn về thế giới, là sự
mở rộng và chiếm lĩnh hiện thực hết sức sinh động. Còn ở tầm vi mô, yếu tố kỳ ảo
chính là các hình thức nghệ thuật cụ thể như: đối thoại tâm linh, cổ tích hóa, liêu
trai hóa, tôn giáo hóa, huyền thoại hóa ” [11]. Nhận định chung chung này được
triển khai trong bài viết thành các luận điểm: cái kỳ ảo là phương tiện để nhà văn
hiện đại (Việt Nam) sử dụng để chuyển tải được những mảng hiện thực mới khi mở

ở đây dường như là một cái nhìn sâu vào bản chất nội sinh của khái niệm, và đi từ
bản chất, cơ chế của nó để lý giải về xu hướng như một sự lựa chọn hợp lý và tất
yếu. Khi chúng tôi lựa chọn khải niệm biểu tượng thay vì cái kỳ ảo như rất nhiều
các công trình đã sử dụng, điều này hàm chứa cả sự khác biệt trong cách tiếp cận
vấn đề. Khái niệm biểu tượng chúng tôi sử dụng nghiên cứu trong luận văn này vừa
có cội nguồn văn hóa làm nền tảng cho sức tạo nghĩa không cùng của nó, vừa là
một yếu tố thuộc bản thể luận chứa đựng bản chất và quy luật vận động bên trong
của văn học.
2.2. Lịch sử nghiên cứu liên quan đến biểu tượng trong tác phẩm của
Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương
Dễ nhận thấy rằng, ba tác giả trên nằm trong số có tần suất xuất hiện nhiều
nhất trong các công trình nghiên cứu về văn xuôi đương đại, cả những công trình
riêng về từng tác giả lẫn những nghiên cứu về văn xuôi nói chung. Trong đó, hầu
hết những nghiên cứu liên quan đến vấn đề biểu tượng đều nhắc đến Nguyễn Huy
Thiệp, Hồ Anh Thái và Nguyễn Bình Phương. Dưới đây là một số nét phác thảo cơ
bản nhất về tình hình nghiên cứu từng tác giả.

9
Người “trình làng” sớm nhất, và cũng là người chịu nhiều sóng gió nhất
trong ba tác giả chính là Nguyễn Huy Thiệp. Xuất hiện trong một bầu không khí hết
sức nhạy cảm, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã gây nên một cuộc tranh luận sôi
nổi chưa từng thấy trên văn đàn văn học nước ta thời kỳ đầu đổi mới. Theo thống kê
của các tác giả Nguyễn Hải Hà và Nguyễn Thị Bình trong bài viết Xung quanh hiện
tượng Nguyễn Huy Thiệp, từ khoảng giữa năm 1987 đến giữa 1989 đã có trên 70 bài
viết về sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, trong đó “sự đối lập giữa các ý kiến phải
nói là gay gắt, cực đoan nhất so với tất cả các cuộc tranh luận khác trong văn nghệ
kể từ 1975 trở đi”[23, tr. 517]. Năm 2001, tác giả Phạm Xuân Nguyên đã tập hợp
những bài viết tiêu biểu về Nguyễn Huy Thiệp, mà ông ước tính mới chỉ là 1/3 số
bài viết đã đăng trên các báo chí khắp nơi, thành cuốn sách Đi tìm Nguyễn Huy
Thiệp. Nhìn chung, giữa hai luồng khẳng định và phủ định, khen và chê, khuynh

Nguyễn Huy Thiệp hay không đã phân tích những biểu hiện của cảm hứng Ba-rôc
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp .Trong những vấn đề được nêu ra, chúng tôi
quan tâm đến ý kiến của tác giả vê sự rậm rạp của các chi tiết, sự chuyển hoá năng
động của các chi tiết từ thực đến ảo, vừa ảo vừa thực; cách phối trí thiếu cân đối
giữa các chi tiêt tạo nên những hình ảnh mang tính nghịch dị, những hình hài méo
mó dị dạng. Tác giả cũng nhận xét về một số biểu tượng: dòng sông, Ngô Thị Vinh
Hoa, Mẹ Cả, con trâu đen… Ông cho rằng đây là thủ pháp của nghệ thuật Ba-rốc và
chỉ ra nguồn gốc của nó ở những truyện cổ tích thần kỳ, những tranh tượng chùa,
đền Việt Nam, những gia phả, thần phả, chuyện linh cảm, mộng mị, bói toán, hoang
tưởng trong cuộc sống hằng ngày.
Ở bài viết Đọc Nguyễn Huy Thiệp, tác giả Văn Tâm nêu lên bốn nét đặc thù
của Nguyễn Huy Thiệp qua hơn 20 truyện ngắn trong tập Tướng về hưu.Trong đó,
ông nói đến cảm hứng huyền thoại mạnh: “bút pháp huyền thoại tạo nên những
giấc mơ ban ngày của nghệ sĩ, mặc nhiên hỗ trợ độc giả đọc ra một số tín hiệu
thuộc miền tinh thần tiềm ẩn, siêu thức thẳm sâu… đặng nhận diện họ thấu triệt
hơn” [23, tr. 289]. Ngoài ra, tác giả còn nói đến “tính nhiều tầng đa nghĩa cao”,
phong cách xây dựng nhân vật, cấu trúc tình tiết và sắp xếp bố cục không khép kín,

11
mang đặc trưng thơ là những thủ pháp làm nên cái ma lực, tính “nhiều chủ đề” hoặc
“không có chủ đề” của tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp.
Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Vy Khanh trong bài viết Nguyễn Huy
Thiệp: những chuyện huyền kỳ, núi, sông và nước… đã phân tích cách xử lý yếu tố
huyền thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Theo tác giả, Nguyễn Huy Thiệp
vừa hóa giải huyền thoại, vừa thực hiện huyền thoại hóa, cả hai đều là “nỗ lực vượt
thoát cái nhìn tập thể bình thường”, “vượt thoát thiên kiến áp đặt để kiêng húy”, là
cách nhà văn “phê phán những ảo tưởng, những huyền thoại dựng đứng một cách
nhân tạo, bá quyền” [23, tr. 372]. Nhà nghiên cứu cũng đã cắt nghĩa một số huyền
thoại và những yếu tố thiên nhiên: đất, núi, nước…Huyền thoại mà Nguyễn Vy
Khanh nói đến ở đây chính là một dạng thức của biểu tượng.

tố đặc trưng nhất của Hồ Anh Thái. Điều đáng nói là, tất cả những yếu tố cốt lõi đó
cũng là những phương thức xây dựng biểu tượng quan trọng trong tác phẩm của Hồ
Anh Thái mà chúng tôi đề cập đến.
Trong bài viết về tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng, nhà văn Lê
Minh Khuê đã nói đến “sắc thái lạ lùng”, “bất bình thường” dẫn đến “quái dị” và
chất “hài hước” như một thế mạnh của Hồ Anh Thái [416, Người và xe chạy dưới
ánh trăng], theo tác giả, đó là cách để nhà văn truyền đến cảm giác lo lắng, bất an
về cái ác, cái xấu. Còn tác giả Wayne Karlin, trong lời giới thiệu cho bản dịch tiếng
Anh hai tác phẩm Trong sương hồng hiện ra và Người đàn bà trên đảo của Hồ Anh
Thái đã chỉ ra một cách tinh tế và chuẩn xác: “Việc sử dụng những nhân vật rất
thực trong những tình huống giả tưởng kỳ ảo, nhằm lay động nhận thức mà gạn lọc
lấy sự thật, thường in dấu trong nhiều tác phẩm của Hồ Anh Thái”. Tác giả Philip
Gambone cũng nói đến “chất châm biếm, chất siêu thực và ngụ ngôn tràn đầy trong
nhiều cuốn sách được cấu trúc một cách tao nhã” [45, tr. 436]. Tuy nhiên, phải đến
sau này, với sự xuất hiện của các tác phẩm như Cõi người rung chuông tận thế,
Mười lẻ một đêm, Tự sự 265 ngày, Bốn lối vào nhà cười…, những yếu tố nói trên
mới được đề cập và phân tích sâu hơn.

13
Trong bài viết Giọng tiểu thuyết đa thanh [50, tr. 268]. Nhà phê bình Nguyễn
Thị Minh Thái đã chỉ ra cấu trúc đặc sắc đậm chất triết lý cũng như giọng điệu đa
thanh trong Cõi người rung chuông tận thế. Theo chúng tôi, đây chính là một trong
những thủ pháp đặc sắc để Hồ Anh Thái gây dựng một bầu không khí đậm đặc cảm
giác đương đại, ở những khía cạnh báo động đáng sợ của nó, nói cách khác, là một
cách tạo dựng biểu tượng về thành thị, về cuộc sống hiện đại… Trong một bài viết
khác về tiểu thuyết Mười lẻ một đêm, cái nhìn hắt sáng từ phía sau, nhà phê bình
Nguyễn Thị Minh Thái tiếp tục phân tích cấu trúc điểm nhìn, giọng kể vai kể ngầm
ẩn trong cấu trúc tác phẩm, cái tới và chưa tới của nó, và cho rằng thử nghiệm mới
này có dụng ý muốn mang đến một “cách nhìn thế giới khác lạ trên những sự kiện
xác thực”. Cũng trong bài viết này, tác giả đã đặt ra vấn đề về cách đọc văn, một khi

của phần đông độc giả, giới phê bình lại nhắc đến rất nhiều như một hiện tượng của
văn xuôi đương đại. Phần đông đều thống nhất rằng, đây là một cây bút “lạ”, ngay
từ vài cuốn tiểu thuyết đầu tiên đã định hình được chất riêng của mình, và từ đó đến
nay vẫn đi những bước đều đặn, mỗi tiểu thuyết vừa là một thử nghiệm mới, vừa là
một phần thống nhất trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương. Từ những
góc nhìn và cách tiếp cận khác nhau, hầu hết những nghiên cứu về tác phẩm của nhà
văn này đều tập trung kiến giải yếu tố kỳ ảo, huyền hoặc, bầu không khí “liêu trai”
linh ảo. Trong đó có rất nhiều kiến giải có giá trị, chỉ ra được đặc trưng thế giới
nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương, cũng như phân tích, lý giải một cách sâu sắc
cách thức và cơ chế xây dựng nên thế giới đó của nhà văn.
Tác giả Thụy Khuê, trên Sóng Từ trường II, trong loạt bài viết về các cuốn
tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, đã nhìn nhận yếu tố kỳ ảo trong tác phẩm của
nhà văn này từ góc độ “khuynh hướng hiện thực kỳ ảo”, đặt trong sự đối sánh với
truyền thống hiện thực kỳ ảo trong văn học phương Tây. Quan niệm thực tại huyền
ảo chính là thực tại thứ nhất được nhìn qua kích thước mộng mơ, trong bài Khuynh
hướng hiện thực kỳ ảo trong tiểu thuyết “Những đứa trẻ chết già” [17], Thụy Khuê
cho rằng tiểu thuyết Những đứa trẻ chết già là tiểu thuyết thuộc khuynh hướng này
với hai tuyến hiện thực tồn tại song song trong tác phẩm: hiện thực người sống và
hiện thực người chết. Khi phân tích chiều sâu hiện thực trong đó, tác giả Thụy Khuê

15
đã phân tích một số thủ pháp cũng như những biểu tượng đã tham gia tạo nghĩa, tạo
hiệu ứng cảm nhận ở người đọc. Bài Chất hiện thực linh ảo âm dương trong
“Người đi vắng” lại chỉ ra được căn nguyên tạo nên „chất linh ảo âm dương” nằm
trong điểm nhìn mà tác giả kiến tạo nên trong tác phẩm: cuốn tiểu thuyết là một sự
phóng chiếu những điểm nhìn, là hợp âm những giọng của đất, của nước, của cây,
của ký ức không gian, của ký ức thời gian, của cơn mưa rào, của sấm, của những
linh hồn trôi lạc ra khỏi đời thực, của những bãi tha ma… Đó là cái cơ chế chi phối
“giọng” của Người đi vắng. Những phân tích của tác giả Thụy Khuê về Trí nhớ suy
tàn nhằm chứng minh những yếu tố của tiểu thuyết mới thể hiện trong đó [trong bài

nhiều kiến giải giá trị, sâu sắc từ những ám ảnh nghệ thuật mà thế giới đó gợi nên,
cho đến những thủ pháp, phương thức biểu hiện mà Nguyễn Bình Phương sử
dụng… Tuy nhiên, trong hệ thống của tác giả, cái gọi là “phương thức huyền thoại”
vẫn rất gần với cái mà nhiều nhà nghiên cứu về văn xuôi đương đại gọi là “cái kỳ
ảo”, “yếu tố kỳ ảo”, và như chúng tôi đã nói ở phần trên, khái niệm này khác với
thuật ngữ biểu tượng mà chúng tôi sử dụng. Cái tác giả gọi là thi pháp kết cấu đặc
trưng của Nguyễn Bình Phương, và tách biệt nó với phương thức huyền thoại, thì
chúng tôi cho đó là một trong những phương thức xây dựng biểu tượng được
Nguyễn Bình Phương xử lý theo cách riêng của mình.
Nhìn chung, là những nhà văn nổi bật làm nên diện mạo của văn xuôi đương
đại, ba tác giả Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương đều đã được
nghiên cứu rất nhiều trong các công trình riêng cũng như các côôtng trình về văn
xuôi nói chung. Điểm đặc biệt là, hầu hết các công trình có giá trị đề cập đến những
thành tựu của văn xuôi đương đại đều nói đến vấn đề liên quan đến biểu tượng, và
đều nói đến ba tác giả trên như những dẫn chứng tiêu biểu. Tuy nhiên, chưa có
công trình nào tiếp cận một cách hệ thống ba tác giả với tư cách là những hiện
tượng tiêu biểu cho một xu hướng lớn nổi bật, đã có những thành tựu và còn tiến xa
trong tương lai: xu hướng sử dụng biểu tượng như một phương thức phản ánh của
văn xuôi đương đại. Góc nhìn này vừa cho ta thấy mối liên hệ đầy chiều sâu giữa
khả năng tạo nghĩa không cùng của văn chương với nền tảng sống động và đầy tiềm
năng của nền văn hóa, đồng thời cho chúng ta một cái nhìn về quy luật vận động nội

17
tại, sự thay đổi phương thức, phương tiện biểu hiện của văn xuôi đặt trong sự kế tục
dòng chảy văn xuôi thời kỳ trước. Đó chính là điều mà luận văn hướng tới từ hướng
tiếp cận của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn của chúng tôi hướng tới những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, đưa ra một cách hiểu, một ý niệm rõ ràng nhất có thể về khái niệm
biểu tượng làm công cụ cho quá trình nghiên cứu.

1.1.3. Biểu tượng và hành trình kiếm tìm phương thức biểu hiện của văn học
Việt Nam từ sau 1975
1.2. Biểu tượng và quá trình sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái,
Nguyễn Bình Phương
1.2.1. Nguyễn Huy Thiệp – “ngọn gió lạ” thời kỳ Đổi Mới
1.2.2. Hồ Anh Thái với hành trình sáng tác bền bỉ
1.2.3. Con đường tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
Chương 2: Thế giới biểu tượng trong văn xuôi Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh
Thái và Nguyễn Bình Phương
2.1. Thành thị và những huyền thoại của cuộc sống hiện đại
2.2. Biểu tượng nông thôn
2.3. Những cõi miền phi-thực-có-thực
2.4. Tự nhiên – nơi con người tìm về bản nguyên của mình
2.4.1. Thiên nhiên – Những quy luật vĩnh hằng của tạo hóa
2.4.2. Con người – hạt thiện nguyên khối
2.5. Giải huyền thoại – Những biểu tượng có tính gây hấn mạnh
Chương 3: Phương thức xây dựng biểu tượng – những cách tân trong nghệ
thuật tự sự
3.1. Hư cấu nghệ thuật
3.1.1. Sự gia tăng của các yếu tố kỳ ảo

19
3.1.2. Tạo dựng những tọa độ không-thời gian đặc biệt
3.2. Những cách tân trong nghệ thuật kết cấu
3.2.1. Các kiểu kết cấu – mô hình mang ý nghĩa biểu trưng cao
3.2.2. Tạo dựng cái nhìn đa trị bằng việc tổ chức các điểm nhìn trần thuật
3.2.3. Các yếu tố ngoài cốt truyện
3.3. Những phương thức sử dụng ngôn ngữ
3.3.1. Lặp
3.3.1.1. Lặp ở cấp độ ngôn từ

giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt.
Ở định nghĩa này, cần lưu ý: Ở nét nghĩa thứ nhất, hình ảnh tượng trưng
được hiểu là một sự vật cụ thể có hình thức hoặc tính chất thích hợp để gợi ra sự
liên tưởng đến một cái trừu tượng nào đó. Còn nét nghĩa thứ hai được rút ra từ tâm
lý học Macxit.
Ngày nay, trong các ngành PR, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm, xây dựng
thương hiệu, và cả trong kỹ thuật tuyên truyền chính trị… người ta sử dụng biểu
tượng như một hình thức tín hiệu đầy tiềm năng thông tin và có khả năng tác động
mạnh mẽ. Trong cuốn Biểu trưng, tác giả Nguyễn Duy Lẫm, trên cơ sở tìm hiểu, so
sánh, đối chiếu biểu tượng với các dạng thức tín hiệu như biểu trưng, phù hiệu, huy
hiệu, kí hiệu, huy chương, huân chương… đã kết luận: Biểu tượng là hình thức tín
hiệu có nội hàm phong phú hơn cả. Tác giả cho rằng: “Biểu tượng là những hình
tượng ẩn dụ, mang sức mạnh của tâm thức, thường được bảo tồn lâu bền trong kí
ức con người” [18].
Hầu hết các ngành khoa học, đặc biệt là các ngành khoa học xã hội và nhân
văn như lịch sử các nền văn minh, các tôn giáo, ngôn ngữ học, tâm lý học, y học …
đều quan tâm và có những kiến giải riêng về biểu tượng. Trong lịch sử phát triển
của mỗi ngành, ở các trường phái, khuynh hướng, trào lưu với những gốc rễ tư
tưởng triết học khác nhau, quan niệm về biểu tượng dĩ nhiên không thuần nhất.
Giữa một sự ngổn ngang như vậy của những cách hiểu khác nhau, các soạn
giả công trình Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới phải có một sự nỗ lực rất lớn để

21
có thể tổng thuật những thông tin cơ bản, tiêu biểu về biểu tượng xoay quanh trục
văn hoá, và có một sự tiếp cận hợp lý về mặt thuật ngữ mà không làm khái niệm trở
nên chết cứng. Sau khi so sánh biểu tượng với các dạng dấu hiệu, ký hiệu; các soạn
giả đã phân tích bản chất khó xác định và sống động của biểu tượng các chức năng
của biểu tượng và điểm qua những cách phân loại biểu tượng nổi bật. Tất nhiên ở
một mức độ nào đó, những ý kiến được lựa chọn nêu ra ở đây là phù hợp với quan
niệm các soạn giả.

cấu trúc tâm thần phổ biến của loài người. Thực ra, đây là sự kết tinh của vô số
những kinh nhiệm, những tình huống cảm xúc của loài người. Biểu tượng mẫu gốc,
do đó, nối liền cái phổ quát với cái cá thể. Jung đã đưa ra định nghĩa trong đó nêu
bật được những đặc tính, những giá trị cơ bản của biểu tượng: “Biểu tượng là hình
ảnh thích hợp chỉ ra đúng hơn cả cái bản chất ta mơ hồ nghi hoặc của tâm linh…
biểu tượng không bó chặt gì hết, nó không cắt nghĩa, nó đưa ta ra bên ngoài chính
nó đến một ý nghĩa còn nằm ở tận phía xa kia, không thể nắm bắt; được dự cảm
một cách mơ hồ, và không có từ nào trong ngôn ngữ chúng ta có thể diễn đạt thoả
đáng” [4, tr. 24]. Nói đến tính chất sống động, khả năng đánh thức những sức mạnh
tâm linh con người của biểu tượng, Jung cho rằng, biểu tượng sống là “biểu hiện
tuyệt đỉnh của cái được dự cảm nhưng còn chưa nhận ra được”, và “nó giục gọi vô
thức tham gia, nó đẻ ra sự sống và kích thích sự sống”. Vì vậy, biểu tượng có thể
tạo nên những âm vang đồng vọng sâu xa trong con người, cuốn con người tham gia
cùng nó trong một quá trình sản sinh ý nghĩa.
Định nghĩa của R.de Becker đã nói đến tính chất này của biểu tượng: “Có
thể ví biểu tượng như một khôí tinh thể phục nguyên lại theo cách khác nhau nguồn
sáng tuỳ theo từng mặt tinh thể tiếp nhận ánh sáng. Và ta còn có thể nói nó là một
thể sống, một mẫu của con người ta đang chuyển động và biến đổi. Đến cứ nhìn
ngắm nó, nắm bắt nó như là đối tượng của suy ngẫm, thì cũng tức là ta đang nhìn
ngắm chính cái quỹ đạo ta sắp lần theo, ta nắm bắt cái hướng vận động đang lôi
kéo con người ta đi tới” [4, tr. 25]. Tuy nhiên, tính chất này của biểu tượng phụ
thuộc nhiều vào chủ thể tiếp nhận. Sự thụ cảm biểu tượng đòi hỏi ở con người một

23
thái độ nhập cuộc thực sự để tham gia vào biểu tượng bằng tất cả con người mình.
Mặt khác, mỗi biểu tượng có thể xem như một vũ trụ tinh thần thu nhỏ với quy luật
riêng, toạ độ riêng của nó. Do đó, để nắm bắt biểu tượng cần phải đặt nó vào “dung
môi” nuôi sống nó, tìm ra cái tọa độ mà nó tồn tại.
Trên đây là những lý giải về biểu tượng đã được các soạn giả Từ điển biểu
tượng văn hoá thế giới trích dẫn trong phần Mở đầu của công trình. Những kiến giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status