Biểu tượng như một phương thức phản ánh của văn xuôi đương đại (qua tác phẩm của nguyễn huy thiệp, nguyễn bình phương, hồ anh thái) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
-------  -------

TRẦN THỊ HOÀI PHƢƠNG

BIỂU TƢỢNG NHƢ MỘT PHƢƠNG THỨC PHẢN ÁNH
CỦA VĂN XUÔI ĐƢƠNG ĐẠI
(Qua tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phƣơng,
Hồ Anh Thái)
CHUYÊN NGÀNH:
MÃ SỐ:

LÝ LUẬN VĂN HỌC
60.22.32

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS. ĐOÀN ĐỨC PHƢƠNG

HÀ NỘI - 10/2009


MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Lịch sử vấn đề 5
2.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề biểu tượng trong văn xuôi đương đại 5

2.4. Tự nhiên – nơi con người tìm về bản nguyên của mình Error! Bookmark
not defined.


2.4.1. Thiên nhiên – Những quy luật vĩnh hằng của tạo hóa Error! Bookmark
not defined.
2.4.2. Con người – hạt thiện nguyên khối Error! Bookmark not defined.
2.5. Giải huyền thoại – Những biểu tượng có tính gây hấn mạnh
Error!
Bookmark not defined.
Chƣơng 3: Phƣơng thức xây dựng biểu tƣợng – những cách tân trong nghệ
thuật tự sự
3.1. Hư cấu nghệ thuật

Error! Bookmark not defined.

3.1.1. Sự gia tăng của các yếu tố kỳ ảo Error! Bookmark not defined.
3.1.2. Tạo dựng những tọa độ không-thời gian đặc biệt Error! Bookmark not
defined.
3.2. Những cách tân trong nghệ thuật kết cấu Error! Bookmark not defined.
3. 2.1. Các kiểu kết cấu – mô hình mang ý nghĩa biểu trưng cao
Error!
Bookmark not defined.
3.2.2. Tạo dựng cái nhìn đa trị bằng việc tổ chức các điểm nhìn trần thuật
Error! Bookmark not defined.
3.2.3. Các yếu tố ngoài cốt truyện Error! Bookmark not defined.
3.3. Những phương thức sử dụng ngôn ngữ
Error! Bookmark not defined.
3.3.1. Lặp
Error! Bookmark not defined.


Tiếp cận văn xuôi đương đại từ góc độ biểu tượng còn xuất phát từ vấn đề
tiếp nhận văn học. Tiếp cận từ góc độ biểu tượng là một cách “đọc văn” rất coi
trọng vai trò “đồng sáng tạo”, phát huy trí tưởng tượng của người đọc, góp phần
nâng “tầm đón nhận” của người đọc lên một mức cao hơn. Đây là cách tiếp cận
phù hợp với văn xuôi đương đại.
Việc giải mã thế giới biểu tượng trong văn xuôi đương đại còn có một điểm
tựa sâu xa là mối quan hệ giữa văn học với các hình thái ý thức xã hội khác. Văn
học không phải là một hiện tượng tồn tại một cách biệt lập, khép kín, mà nó có
mối quan hệ mật thiết, khăng khít với các lĩnh vực phản ánh đời sống tinh thần con
người khác như văn hoá học, tâm lý học, tôn giáo, tín ngưỡng…
Chúng tôi chọn khảo sát tác phẩm của ba tác giả Nguyễn Huy Thiệp, Hồ
Anh Thái và Nguyễn Bình Phương vì đây là ba đại diện nổi bật của văn xuôi Việt
Nam kể từ sau Đổi mới.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề biểu tượng trong văn xuôi đƣơng đại
Bức tranh văn học Việt Nam từ thời kỳ Đổi mới đến nay là một bằng chứng
thể hiện rõ mối quan hệ giữa thực tiễn văn học và lý luận phê bình. Qua hơn hai
thập kỷ kể từ những ngày đầu đổi mới, đến nay nền văn học Việt Nam đã định
hình cho mình một diện mạo riêng với những thành tựu không thể phủ nhận,
nhưng cũng với nhiều vấn đề mà đến nay đã bộc lộ ra ở sự chững lại của nó.
Tương ứng với hiện thực văn học đa dạng, phong phú đồng thời phức tạp và luôn
trong trạng thái vận động biến chuyển đó, lý luận phê bình văn học sau những
bước loay hoay ban đầu cũng đã kịp thời có những bước chuyển để có thể nắm bắt
bằng sự quan sát, phân tích, bằng việc tiếp thu và ứng dụng các lý thuyết mới,
bằng việc vượt lên cải biến sức ì của những cách nhìn đã cũ, những lối tiếp cận
không còn phù hợp. Riêng đối với văn xuôi đương đại, đến nay đã có nhiều công
trình lớn nhỏ đề cập đến các phương diện: sự chuyển biến từ bối cảnh xã hội thẩm
mĩ đến quan niệm về hiện thực đời sống, quan niệm về văn chương, hệ quả là sự




phẩm có thể chưa hay nhưng có ý nghĩa khơi mở, dự báo về một quan niệm, một
mô hình, một bút pháp nghệ thuật mới” [26, tr. 214].
Trong bài viết Liêu trai hiện đại Việt Nam, tác giả Trần Lê Bảo đã tìm hiểu
về các truyện ngắn hiện đại Việt Nam có màu sắc kỳ ảo như Liêu trai của Trung
Quốc đồng thời có những yếu tố cách tân theo yêu cầu mới của thời đại. Tác giả
đã lý giải hiện tượng truyện ngắn kỳ ảo trong văn học Việt Nam từ sau 1975 từ
góc độ những biến đổi của bối cảnh xã hội đòi hỏi nhà văn phải có những cách tân
nhằm kiếm tìm phương thức thể hiện mới, đồng thời, tác giả cũng đặt hiện tượng
này trong dòng mạch phát triển của truyền thống văn xuôi kỳ ảo thời kỳ trung đại
và xem đây là một cơ sở để các nhà văn hiện đại coi cái kỳ ảo là một phương tiện
biểu hiện của văn học. Phân tích bối cảnh hiện đại hóa của văn học, trong đó diễn
ra sự giao lưu với các nền văn hóa lớn trên thế giới, còn hiện thực đời sống đặt ra
đầy rẫy những vấn đề phức tạp và mới mẻ… tác giả đã đưa ra một nhận định xác
đáng “Như vậy, chất kỳ ảo, chất liêu trai trong truyện ngắn hiện đại Việt Nam
chẳng những là phương tiện nghệ thuật mà còn là một phạm trù của tư duy nghệ
thuật, có khả năng đem lại những nhận thức mới và nhiều khoái cảm lâu dài cho
độc giả” [26, tr. 309]. Tiếp đó, tác giả đã phân tích chất liêu trai được thể hiện như
thế nào qua cách dựng truyện, qua thế giới nhân vật và qua cái mà tác giả gọi là
“các phương thức thể hiện cái kỳ lạ”: dùng mộng ảo, dùng biểu tượng và kết cấu
mở. Lưu ý rằng, khái niệm biểu tượng tác giả sử dụng ở đây mang nghĩa hẹp, chỉ
những hình ảnh biểu tượng xuất hiện trong các truyện ngắn kỳ ảo. Bên cạnh những
kiến giải xác đáng, có thể nhận thấy rõ sự lúng túng của tác giả khi nêu lên các
phương thức thể hiện chất liêu trai; sự phân tách ba yếu tố có nhiều điểm chồng
chéo lên nhau và kém phần rõ ràng. Ngoài ra, trong khuôn khổ một bài viết, những
gì tác giả chỉ ra mới mang tính chất đặt vấn đề và là một bản phác họa giới hạn
trong thể loại truyện ngắn.
Cũng là một cái nhìn từ góc độ thể loại truyện ngắn, trong bài viết đăng trên
tạp chí Nghiên cứu văn học số 5 năm 2008, Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Việt

văn học phương Tây kích thích, khơi gợi và mở ra những vùng cảm nhận mới,
những hiểu biết, cảm quan, giá trị mới; (2) sự mở rộng trong quan niệm về hiện


thực và đối tượng phản ánh của văn học “phá vỡ chủ nghĩa đề tài” trong nền văn
học thời kỳ trước đây; (3) sự mở rộng trong quan niệm về phương pháp sáng tác
và tiếp cận cuộc sống; và (4) truyền thống văn hóa, văn học dân tộc. Ở đây, khái
niệm “yếu tố kỳ ảo” đã được hiểu một cách tương đối rộng và mềm dẻo. Tuy
nhiên, ngoài việc các luận điểm còn mang tính liệt kê, bài viết của tác giả chưa đi
sâu vào cắt nghĩa “yếu tố kỳ ảo” từ góc độ bản thể luận tác phẩm văn học, chưa đi
sâu vào cấu trúc, cơ chế tạo nghĩa… của cái kỳ ảo.
Có thể thấy rằng, các bài viết, các nghiên cứu liên quan đến biểu tượng
không phải là ít, tuy nhiên bức tranh chung vẫn là một tình trạng manh mún, nhỏ
lẻ, cảm tính, thiếu một cái nhìn toàn cục và có tính hệ thống. Những phân tích và
kiến giải về cái kỳ ảo hầu hết đều nhìn từ góc độ xã hội – lịch sử, với các khái
niệm quen thuộc thường dùng là: sự thay đổi của hiện thực, sự thay đổi về quan
niệm đời sống, quan niệm nghệ thuật, mở rộng phạm vi phản ánh, sự kế thừa
truyền thống và tiếp thu phương Tây… Thiết nghĩ, tất cả những cách tiếp cận đó
đều chứa đựng những yếu tố hợp lý và mang đến một sự kiến giải có giá trị nhất
định, tuy nhiên, cái thiếu ở đây dường như là một cái nhìn sâu vào bản chất nội
sinh của khái niệm, và đi từ bản chất, cơ chế của nó để lý giải về xu hướng như
một sự lựa chọn hợp lý và tất yếu. Khi chúng tôi lựa chọn khải niệm biểu tượng
thay vì cái kỳ ảo như rất nhiều các công trình đã sử dụng, điều này hàm chứa cả sự
khác biệt trong cách tiếp cận vấn đề. Khái niệm biểu tượng chúng tôi sử dụng
nghiên cứu trong luận văn này vừa có cội nguồn văn hóa làm nền tảng cho sức tạo
nghĩa không cùng của nó, vừa là một yếu tố thuộc bản thể luận chứa đựng bản chất
và quy luật vận động bên trong của văn học.
2.2. Lịch sử nghiên cứu liên quan đến biểu tượng trong tác phẩm của
Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phƣơng
Dễ nhận thấy rằng, ba tác giả trên nằm trong số có tần suất xuất hiện nhiều

tha, đức hi sinh, hiện thân qua các nhân vật nữ trong truyện.
Nhà nghiên cứu văn học Nga T.N.Philimonova - người đã dành nhiều quan
tâm cho tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp - cũng đã có nhiều kiến giải đáng lưu ý.


Trong bài viết Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp như hình mẫu các
truyền thuyết văn học, tác giả đã chỉ ra vết tích các yếu tố dân gian trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp và đi sâu vào phân tích ảnh hưởng của truyền thuyết đối
với mười truyện trong Những ngọn gió Hua Tát. Trong luận văn này, chúng tôi
xem việc “nhại” cổ tích, truyền thuyết của Nguyễn Huy Thiệp là một phương thức
tạo dựng biểu tượng hoàn toàn có ý thức của tác giả. Trong bài Thơ trong văn
Nguyễn Huy Thiệp tác giả T.N.Philimonova nói đến thơ như một điểm nổi bật
trong văn xuôi Nguyễn Huy Thiệp, và tìm lời giải đáp cho câu hỏi: nhà văn sử
dụng thơ như thế nào, dưới dạng nào và với chức năng gì. Ông cho rằng đây là thủ
pháp Nguyễn Huy Thiệp chịu ảnh hưởng của văn xuôi cổ vùng Viễn Đông . Trong
luận văn này, chúng tôi xem thơ là một thủ pháp xây dựng biểu tượng của Nguyễn
Huy Thiệp. Ngoài ra, nhà nghiên cứu còn đưa ra một cách “giải mã” các biểu
tượng Pơriê, Gia Long và Nguyễn Du trong bài viết Lịch sử Việt Nam qua truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
Tác giả Thái Hòa trong bài Có nghệ thuật Ba-rôc trong các truyện ngắn
của Nguyễn Huy Thiệp hay không đã phân tích những biểu hiện của cảm hứng Barôc trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp .Trong những vấn đề được nêu ra, chúng
tôi quan tâm đến ý kiến của tác giả vê sự rậm rạp của các chi tiết, sự chuyển hoá
năng động của các chi tiết từ thực đến ảo, vừa ảo vừa thực; cách phối trí thiếu cân
đối giữa các chi tiêt tạo nên những hình ảnh mang tính nghịch dị, những hình hài
méo mó dị dạng. Tác giả cũng nhận xét về một số biểu tượng: dòng sông, Ngô Thị
Vinh Hoa, Mẹ Cả, con trâu đen… Ông cho rằng đây là thủ pháp của nghệ thuật
Ba-rốc và chỉ ra nguồn gốc của nó ở những truyện cổ tích thần kỳ, những tranh
tượng chùa, đền Việt Nam, những gia phả, thần phả, chuyện linh cảm, mộng mị,
bói toán, hoang tưởng trong cuộc sống hằng ngày.
Ở bài viết Đọc Nguyễn Huy Thiệp, tác giả Văn Tâm nêu lên bốn nét đặc thù

hầu hết các bài viết cắt nghĩa sức cuốn hút khó cưỡng của truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp đều ít nhiều nói đến biểu tượng và cách nhà văn tạo dựng biểu tượng.
Tuy nhiên, trong giới hạn những bài viết riêng lẻ, những nhận định của các tác giả
phần nhiều còn tản mát, cảm tính, chưa lý giải một cách hệ thống thế giới biểu


tượng trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp cũng như chưa đặt hiện tượng này
trong cả tiến trình vận động của văn học Việt Nam từ thời kì đổi mới đến nay để
có được một sự đánh giá công bằng về những đóng góp của Nguyễn Huy Thiệp
đối với thể loại truyện ngắn nói riêng và đối với văn học Việt Nam nói chung.
Sự xuất hiện của Hồ Anh Thái không chịu nhiều dông bão của dư luận như
Nguyễn Huy Thiệp, một phần vì những bước đi ban đầu của nhà văn này rất nhẹ
nhàng và bền bỉ, một phần vì khi những nét đặc trưng “gai góc” nhất của anh bắt
đầu nổi thì cũng là thời điểm bầu không khí văn học đã thông thoáng cởi mở hơn.
Từ những tác phẩm “có đẳng cấp” đầu tiên như Trong sương hồng hiện ra, Người
đàn bà trên đảo và Người và xe chạy dưới ánh trăng…, ngoài những lời khen ngợi
chung chung kiểu “quan sát tinh tế, suy nghĩ sâu sắc, nắm bắt tâm lý nhân vật giỏi,
tuổi đời còn trẻ nhưng giọng văn đã già dặn”… có nhiều ý kiến đã chỉ ra một cách
chuẩn xác những yếu tố tuy mới chỉ dạng tiềm năng nhưng sau này sẽ trở thành
yếu tố đặc trưng nhất của Hồ Anh Thái. Điều đáng nói là, tất cả những yếu tố cốt
lõi đó cũng là những phương thức xây dựng biểu tượng quan trọng trong tác phẩm
của Hồ Anh Thái mà chúng tôi đề cập đến.
Trong bài viết về tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng, nhà văn Lê
Minh Khuê đã nói đến “sắc thái lạ lùng”, “bất bình thường” dẫn đến “quái dị” và
chất “hài hước” như một thế mạnh của Hồ Anh Thái [416, Người và xe chạy dưới
ánh trăng], theo tác giả, đó là cách để nhà văn truyền đến cảm giác lo lắng, bất an
về cái ác, cái xấu. Còn tác giả Wayne Karlin, trong lời giới thiệu cho bản dịch
tiếng Anh hai tác phẩm Trong sương hồng hiện ra và Người đàn bà trên đảo của
Hồ Anh Thái đã chỉ ra một cách tinh tế và chuẩn xác: “Việc sử dụng những nhân
vật rất thực trong những tình huống giả tưởng kỳ ảo, nhằm lay động nhận thức mà

đến thủ pháp “kỳ dị hóa với đôi chút ma quái”, vừa nói đến việc “công khai” việc
dùng thủ pháp đó. Thực ra, bản thân cái hành động công khai thủ pháp ấy không
phải là chuyện người viết không có dụng ý “tung hỏa mù” với người đọc, mà bản
thân nó cũng là một thủ pháp mà hiệu ứng của nó có tác dụng tạo dựng một loại
biểu tượng mà chúng tôi sẽ đi sâu phân tích trong luận văn.


Tác giả Hoài Nam, vận dụng quan điểm về tư duy tiểu thuyết của Bakhtin
khi nói về Chất hài hước, nghịch dị trong Mười lẻ một đêm [49, tr. 299], đã phân
tích cách xây dựng tình huống nghịch dị, kiểu nhân vật nghịch dị của Hồ Anh
Thái, xem tiếng cười “suồng sã, lộn trái” ở đây là biểu hiện của một tâm thế tiếp
cận đời sống mới mẻ so với sự nghiêm túc (chất sử thi) trong văn xuôi thời kỳ
trước.
Nhìn chung, các nghiên cứu xung quanh Hồ Anh Thái xoay quanh các vấn
đề như: kiểu cấu trúc, chất quái dị và hài hước, giọng điệu giễu nhại, sự biến hóa
trong phong cách… Dù tiếp cận theo hướng nào, tính kỳ ảo, tính biểu tượng là một
mẫu số chung mà hầu hết đều có nhắc đến. Tuy nhiên, cũng như với Nguyễn Huy
Thiệp, những yếu tố này chưa được nhìn nhận một cách hệ thống như những biểu
hiện riêng của một xu hướng chung.
Về sáng tác của Nguyễn Bình Phương, ngược lại với sự hờ hững và xa cách
của phần đông độc giả, giới phê bình lại nhắc đến rất nhiều như một hiện tượng
của văn xuôi đương đại. Phần đông đều thống nhất rằng, đây là một cây bút “lạ”,
ngay từ vài cuốn tiểu thuyết đầu tiên đã định hình được chất riêng của mình, và từ
đó đến nay vẫn đi những bước đều đặn, mỗi tiểu thuyết vừa là một thử nghiệm
mới, vừa là một phần thống nhất trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Bình
Phương. Từ những góc nhìn và cách tiếp cận khác nhau, hầu hết những nghiên cứu
về tác phẩm của nhà văn này đều tập trung kiến giải yếu tố kỳ ảo, huyền hoặc, bầu
không khí “liêu trai” linh ảo. Trong đó có rất nhiều kiến giải có giá trị, chỉ ra được
đặc trưng thế giới nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương, cũng như phân tích, lý
giải một cách sâu sắc cách thức và cơ chế xây dựng nên thế giới đó của nhà văn.

tích ngôn ngữ của người điên trong Thoạt kỳ thủy, tác giả bài viết xem đây là
phương tiện, và cũng là kết quả cuộc phiêu lưu của sáng tạo văn học, đi chông
chênh giữa mơ và điên, mà ở đó, điên không còn được mô tả bằng ngôn ngữ bên
ngoài, và vì thế, không phải như một chứng bệnh, mà “điên” tự thể hiện mình
bằng ngôn ngữ, điên tự mô tả như một trạng thái hiện sinh của một cõi miền lạ
lùng nhưng tồn tại thực trong cuộc sống này. Đó cũng là chiều sâu của lòng


thương xót trong văn Nguyễn Bình Phương, tiềm ẩn phía sau giọng văn hững hờ
lạnh nhạt.
Báo cáo nghiên cứu khoa học năm 2007 của tác giả Đoàn Ánh Dương có
tên Nguyễn Bình Phương, lục đầu giang tiểu thuyết là một cái nhìn tổng quan về
thế giới nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương. Hành trình sáng tác của nhà văn qua
6 tiểu thuyết, được tác giả Đoàn Ánh Dương mô tả như hành trình của một “Lục
đầu giang”, trong đó mỗi cuốn tiểu thuyết là một chặng, một khúc, một “chi” của
dòng sông lớn đó. Tác giả nêu rõ quan niệm của mình về phương pháp tiếp cận là:
“tìm hiểu từng chi lưu, rồi phân dòng khi hợp lưu, sẽ là khả dĩ cho việc giải mã thế
giới nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”. Nếu phần “Chi lưu” tác giả đi
qua từng tiểu thuyết đặt trong tương quan với nhau, giống như những dòng chảy
kế tiếp, vừa liên quan, vừa kế thừa, vừa khác biệt, thì phần hợp lưu đi vào cái
mạch nguồn xuyên suốt những dòng chảy đó. Mạch nguồn xuyên suốt đó, theo tác
giả chính là Phương thức huyền thoại và thi pháp kết cấu. Nhìn chung, bài viết đã
dưa ra rất nhiều kiến giải giá trị, sâu sắc từ những ám ảnh nghệ thuật mà thế giới
đó gợi nên, cho đến những thủ pháp, phương thức biểu hiện mà Nguyễn Bình
Phương sử dụng… Tuy nhiên, trong hệ thống của tác giả, cái gọi là “phương thức
huyền thoại” vẫn rất gần với cái mà nhiều nhà nghiên cứu về văn xuôi đương đại
gọi là “cái kỳ ảo”, “yếu tố kỳ ảo”, và như chúng tôi đã nói ở phần trên, khái niệm
này khác với thuật ngữ biểu tượng mà chúng tôi sử dụng. Cái tác giả gọi là thi
pháp kết cấu đặc trưng của Nguyễn Bình Phương, và tách biệt nó với phương thức
huyền thoại, thì chúng tôi cho đó là một trong những phương thức xây dựng biểu

Phạm vi khảo sát của luận văn bao gồm toàn bộ truyện ngắn của Nguyễn
Huy Thiệp, một số truyện ngắn và tiểu thuyết của Hồ Anh Thái thiên về sử dụng
biểu tượng và toàn bộ tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương. Cũng xin lưu ý rằng,
không phải tất cả các tác phẩm của ba tác giả này, nhất là ở Hồ Anh Thái, đều sử
dụng biểu tượng, tuy nhiên, thành công của họ tập trung ở những tác phẩm sử
dụng phương thức biểu tượng. Đó sẽ là đối tượng khảo sát của chúng tôi. Ngoài ra,


luận văn còn mở rộng, đối chiếu với những tác giả khác nổi bật trong việc sử dụng
biểu tượng của văn xuôi đương đại.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu mà luận văn sử dụng là: Thống kê - phân
loại, phân tích – tổng hợp, so sánh.
5. Cấu trúc luận văn
Cấu trúc luận văn bao gồm các phần
Mở đầu
Chƣơng 1. Khái lƣợc về Biểu tƣợng và hành trình sáng tác của Nguyễn Huy
Thiệp, Hồ Anh Thái và Nguyễn Bình Phƣơng
1.1.

Giới thuyết khái niệm Biểu tượng
1.1.1. Một số định nghĩa về Biểu tượng:
1.1.2. Biểu tượng trong văn học nghệ thuật- một loại hình tượng đặc biệt
1.1.3. Biểu tượng và hành trình kiếm tìm phương thức biểu hiện của văn
học Việt Nam từ sau 1975

1.2. Biểu tượng và quá trình sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái,
Nguyễn Bình Phương
1.2.1. Nguyễn Huy Thiệp – “ngọn gió lạ” thời kỳ Đổi Mới
1.2.2. Hồ Anh Thái với hành trình sáng tác bền bỉ

1.1. Giới thuyết khái niệm Biểu tượng
1.1.1. Một số định nghĩa về Biểu tượng
Thuật ngữ Biểu tượng trong tiếng Việt có xuất xứ từ thuật ngữ Symbole
trong tiếng Pháp. Thuật ngữ này được dịch sang tiếng Việt thành Biểu tượng hoặc
Tượng trưng. Tuy nhiên, trong tiếng Việt, khái niệm Tượng trưng không nằm
cùng bình diện với Biểu tượng. Cách dịch thành Biểu tượng được chấp thuận rộng
rãi hơn.


Biểu tượng là một khái niệm rất quen thuộc trong đời sống thường ngày
cũng như trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Tuy vậy, đây lại là một khái
niệm vào loại rất phức tạp và chưa có sự đồng thuận trong cách hiểu cũng như
cách sử dụng. Ngày nay, trong xu thế phát triển vừa chuyên sâu vừa liên thông với
nhau, các ngành khoa học gặp gỡ nhau ở sự phát hiện và khẳng định vai trò của
biểu tượng trong đời sống con người, và cùng hợp lực trong hành trình tiếp cận
bản chất biểu tượng. Từ những góc độ của các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau,
người ta đã khám phá ở biểu tượng nhiều khía cạnh, chúng vừa bổ sung lẫn nhau,
vừa có thể trái ngược nhau, cho ta hình dung về tính năng động và sự đa diện của
khái niệm này. Sau đây, chúng tôi xin nêu lên một số định nghĩa, kiến giải tiêu
biểu về biểu tượng.
Trong Từ điển tiếng Việt, trên cơ sở khảo sát cách dùng thuật ngữ biểu
tượng trong đời sống hàng ngày, các soạn giả đã nêu lên ba nét nghĩa của biểu
tượng. Ở đây, chúng tôi chỉ nêu lên hai nét nghĩa có liên quan dến cách hiểu biểu
tượng của luận văn:
1. Hình ảnh tượng trưng.
2. Hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật
còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt.
Ở định nghĩa này, cần lưu ý: Ở nét nghĩa thứ nhất, hình ảnh tượng trưng
được hiểu là một sự vật cụ thể có hình thức hoặc tính chất thích hợp để gợi ra sự
liên tưởng đến một cái trừu tượng nào đó. Còn nét nghĩa thứ hai được rút ra từ tâm

dùng… tất cả những gì cố định năng lượng tâm thần hay huy động năng lượng ấy
vì lợi ích riêng của mình …” [4, tr. 24]. Như vậy, vật mang giá trị biểu tượng có
thể là một vật cụ thể hoặc vật trừu tượng.
Chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi phần lớn các ý kiến được trích dẫn
là của các nhà phân tâm học - những nhà tiên phong vĩ đại trong việc phát giác và
khảo sát lĩnh vực vô thức của con người. Với những khám phá táo bạo của mình,
họ đã làm sáng tỏ cấu trúc chiều sâu của đời sống tâm linh con người với sức
mạnh, vai trò của vô thức. Họ cũng đưa ra những lý giải thú vị và sâu sắc những
hiện tượng tâm linh bấy lâu vẫn chìm trong bóng tối. Biểu tượng được các nhà


Phân tâm học quan tâm một cách đặc biệt, thậm chí trở thành một trong những đối
tượng khảo sát chủ yếu, bởi rằng, theo họ, đây là những cầu nối hiếm hoi bắc từ ý
thức qua vô thức; là những tia sáng vừa phát lộ vừa che lấp phát ra từ miền nội
tâm của con người.
Freud cho rằng: “Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít
nhiều khó nhận ra niềm ham muốn hay các xung đột. Biểu tượng là mối liên kết
thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, một lời nói với ý nghĩa
tiềm ẩn của chúng” [4, tr. 24]. Như vậy, theo Freud, biểu tượng luôn là tiếng nói
của những ham muốn bị dồn nén, những xung đột chìm sâu trong vô thức con
người. Cũng cần lưu ý rằng, những ham muốn ở đây, theo Freud, là những ham
muốn tính dục.
C.G.Jung - môn đệ xuất sắc của Freud - với hướng đi riêng của mình, đã có
rất nhiều đóng góp có giá trị trong kiến giải biểu tượng. Từ lý thuyết về vô thức
tập thể, Jung cho rằng tất cả những biểu tượng của con người dù phong phú đa
dạng đến đâu, đi đến tận cùng, đều có cấu trúc là những Mẫu gốc. Mẫu gốc là
những vết tích tâm lý hình thành từ thời nguyên thuỷ, di truyền theo loài và tạo
thành những cấu trúc tâm thần phổ biến của loài người. Thực ra, đây là sự kết tinh
của vô số những kinh nhiệm, những tình huống cảm xúc của loài người. Biểu
tượng mẫu gốc, do đó, nối liền cái phổ quát với cái cá thể. Jung đã đưa ra định

trừu xuất và phân tích các chức năng của biểu tượng. Tóm lại có các chức năng
sau: 1- thăm dò những vùng miền nằm bên lề ý thức; 2- là vật thay thế “cái không
xác định của dự cảm”; 3- trung gian: nối liền thực và mộng, ý thức và vô thức, vật
chất và tinh thần, tự nhiên và văn hoá; 4- là lực thống nhất - liên kết các chiều sâu
nội tại với cái siêu tại vô tận; 5- giáo dục và trị liệu; 6- xã hội hoá, nghĩa là đưa
con người nhập sâu vào hiên thực, tạo sự lưu thông sâu sắc với môi trường xã hội;
7- cộng hưởng: tạo âm vang rung động trong ý thức cá nhân và tập thể; 8- chức
năng siêu nghiệm: kết nối, điều hoà những lực lượng đối kháng, mở đường cho sự
tiến bộ của ý thức; 9- chức năng biến đổi năng lượng tâm thần.


Đây chỉ là một sự trừu xuất có ý nghĩa thao tác. Các tác giả cũng đã lưu ý
rằng, trên thực tế, những chức năng này được thực hiện đồng thời trong một mối
quan hệ tương hợp, chi phối lẫn nhau.
Trên đây, chúng tôi đã điểm qua một số định nghĩa về biểu tượng từ góc độ
văn hoá và tất yếu không thể tránh khỏi sự sơ lược và phiến diện so với thực tế
đầy đa dạng và phức tạp. Đây là một cái “phông” không thể thiếu để chúng ta đi
vào tiếp cận khái niệm từ góc độ mỹ học, lý luận văn học.
Xuất phát từ những nên tảng triết học khác nhau, các khuynh hướng, trường
phái nghiên cứu phê bình văn học có những cách lý giải không giống nhau về biểu
tượng. Trên cơ sở tiếp thu những hạt nhân hợp lý trong những quan niệm đó, dưới
ánh sáng phản ánh luận Mac-Lênin, mỹ học, lý luận văn học Macxit đã lý giải một
cách thoả đáng vấn đề biểu tượng trong văn học nghệ thuật.
Tổng hợp những thành tựu mỹ học, lý luận văn học Macxit, Từ điển thuật
ngữ văn học đã định nghĩa biểu tượng như sau: Trong nghĩa rộng, biểu tượng thể
hiện “đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng văn học nghệ thuật”. Văn
học nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, phản ánh thế giới khách
quan theo những nguyên tắc, phương thức, phương tiện riêng. Hình tượng phương tiện phản ánh đời sống của văn học nghệ thuật - vừa là sự tái hiện thế giới,
đồng thời cũng là hiện tượng đầy tính ước lệ. Các tác giả đã lý giải: “Bằng hình
tượng, nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng”. Như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status