Nghiên cứu tính chất hấp thu của đá ong và khả năng ứng dụng trong phân tích xác định các kim loại nặng - Pdf 26



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

NGÔ THỊ MAI VIỆT
NGHIÊN CỨU TÍNH CHẤT HẤP THU CỦA ĐÁ ONG
VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRONG PHÂN TÍCH
XÁC ĐỊNH CÁC KIM LOẠI NẶNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ HOÁ HỌC

HÀ NỘI – 2010
2.1. Mục tiêu nghiên cứu………………………………… … … …33 4
2.2. Nội dung nghiên cứu………………………………… … 33
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu………………………… … …… … 34
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu thành phần hoá học……………….… 34
2.3.2. Các phương pháp nghiên cứu cấu trúc……………… …… 34
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu quá trình hấp thu 35
2.3.4. Các phương pháp nghiên cứu khả năng hấp thu 35
2.4. Hoá chất, thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 36
2.4.1. Hoá chất 36
2.4.2. Thiết bị 37
2.4.3. Dụng cụ 38
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
3.1. Khảo sát đá ong tự nhiên 39
3.1.1. Chuẩn bị đá ong 39
3.1.2. Phân tích thành phần hoá học của đá ong 39
3.1.3. Các tính chất hoá lý và khả năng hấp thu của đá ong 39
3.2. Biến tính đá ong tự nhiên thành vật liệu hấp thu 39
3.2.1. Biến tính đá ong bằng cách sử dụng chất hoạt động bề mặt 40
3.2.2. Biến tính đá ong bằng cách sử dụng đồng thời các dung dịch muối:
sắt (III) nitrat, natri silicat và natri photpha……………………….…….41
3.2.3. Biến tính đá ong bằng cách sử dụng đồng thời các dung dịch muối:
sắt (III) nitrat, natri silicat, natri photphat và đất hiếm xeri…………… 43
3.3. Nghiên cứu thành phần và cấu trúc của đá ong tự nhiên và đá
ong biến tính 45
3.3.1. Nghiên cứu thành phần của đá ong tự nhiên và đá ong biến tính 45
3.3.2. Nghiên cứu cấu trúc của đá ong tự nhiên và đá ong biến tính … 47
3.4. Nghiên cứu khả năng hấp thu của đá ong tự nhiên và đá ong biến 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT AAS: Atomic Absorption Spectrocopy
AES: Atomic Emission Spectrocopy
BET: Brunaur – Emmetle – Teller
EDTA: Ethylene Diamine Tetra Aceticacid
F-AAS: Flame Atomic Absorption Spectrocopy
GF-AAS: Graphite Furnace Atomic Absorption Spectrocopy
HPLC: High Performance Liquid Chromatography
ICP-MS: Inductively Coupled Plasma Mass Spectrocopy
IR: Infrared Spectroscopy
PE : Polietilen
SEM: Scanning Electron Microscopy
SPE: Solid Phase Extraction
UV-Vis: Ultraviolet Visble
XRD: X-ray Diffration


của M3 68
Bảng 3.9. Dung lượng hấp phụ Cu
2+
, Pb
2+
, Cd
2+
, Co
2+
và Ni
2+
của M4 69
Bảng 3.10. Dung lượng hấp phụ Cu
2+
, Pb
2+
, Cd
2+
, Co
2+
và Ni
2+
của M6 70
Bảng 3.11. Dung lượng hấp phụ Cu
2+
, Pb
2+
, Cd
2+
, Co

2+
trên mỗi phân đoạn thể tích 92
Bảng 3.26. Hàm lượng của ion Ni
2+
trên mỗi phân đoạn thể tích 93
Bảng 3.27. Dung lượng hấp phụ động của Cu
2+
, Pb
2+
, Cd
2+
, Co
2+

và Ni
2+
93
Bảng 3.28. Dung lượng hấp phụ động thực của Cu
2+
, Pb
2+
, Cd
2+
, Co
2+
và Ni
2+
96

Bảng 3.29. Kết quả phân tích mẫu giả và hiệu suất thu hồi…… 97

Hình 3.3. Bề mặt vật liệu M4…………………………… … 47
Hình 3.4. Bề mặt vật liệu M6…………………………… ……… 47
Hình 3.5. Bề mặt vật liệu M8………………………………… … 47
Hình 3.6. Giản đồ phân tích nhiệt của M5(0), M4 và M6…… … 49
Hình 3.7. Giản đồ nhiễu xạ Rơnghen của M
0
, M4 và M6….…… 51
Hình 3.8. Phổ hồng ngoại của M
0
và M5(0)…………………… 53
Hình 3.9. Phổ hồng ngoại của M
0
và M4…………………… 53
Hình 3.10. Phổ hồng ngoại của M
0
và M6………………… …… 54
Hình 3.11. Đồ thị xác định điện tích bề mặt vật liệu M4…….… … 57
Hình 3.12. Đồ thị xác định điện tích bề mặt vật liệu M6…… … 57
Hình 3.13. Đồ thị xác định điện tích bề mặt vật liệu M5(0)… … 58
Hình 3.14. Đường chuẩn xác định Cu…………………… … 63
Hình 3.15. Đường chuẩn xác định Pb…………………………… 64
Hình 3.16. Đường chuẩn xác định Cd……………………… … 64
Hình 3.17. Đường chuẩn xác định Co……………………………… 65
Hình 3.18. Đường chuẩn xác định Ni…………………………… 65
Hình 3.19. Phương trình tuyến tính Langmuir của M3………… 74
Hình 3.20. Phương trình tuyến tính Langmuir của M4……………… 75
Hình 3.21. Phương trình tuyến tính Langmuir của M6…………… 77
Hình 3.22. Phương trình tuyến tính Langmuir của M5(0)… ……… 78
Hình 3.23. Phương trình tuyến tính Freundlich của M3………………80
Hình 3.24. Phương trình tuyến tính Freundlich của M4……… 81

1
PHẦN I: MỞ ĐẦU

Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ không ngừng của sản
xuất công nghiệp và nông nghiệp, cuộc sống của con người ngày càng
được nâng cao. T heo đó, môi trường đã và đang bị ô nhiễm nghiêm
trọng, trong đó có sự ô nhiễm các kim loại nặng. Các kim loại nặng (Cu,
Pb, Cd, Co, Hg…) khi xâm nhập vào cơ thể đều gây độc hại cho sức khoẻ
con người [4, 15, 34, 50, 62, 78]. Bởi vậy, việc phân tích hàm lượng của
chúng trong các đối tượng môi trường, để từ đó đánh giá chất lượng môi
trường là việc làm hết sức cần thiết.
Hàm lượng các kim loại nặng có trong nước thường rất nhỏ, khó có
thể xác định trực tiếp chúng ngay cả bằng các thiết bị phân tích hiện đại,
nên chi phí phân tích rất tốn kém. Vì lẽ đó, cần nghiên cứu xây dựng quy
trình phân tích các kim loại nặng bằng phương pháp làm giàu sử dụng
nguồn vật liệu mới đạt hiệu quả cao, đơn giản, dễ thực hiện và đặc biệt
phải kinh tế [22]. Bởi vậy, các vật liệu hấp phụ có nguồn gốc tự nhiên với
giá thành rẻ đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học [37, 38, 39,
46, 54, 64, 68, 91].
Đá tổ ong (thường gọi là đá ong, tên tiếng Anh là laterite) là nguồn
khoáng liệu rất phổ biến ở Việt Nam và có tính hấp phụ vì: độ xốp tương
đối cao, bề mặt riêng lớn, nhưng việc nghiên cứu, ứng dụng và chuyển
hoá đá ong thành vật liệu hấp phụ hầu như chưa được nghiên cứu nhiều.
Chính vì vậy, việc chuyển hoá đá ong thành chất hấp phụ có ý
nghĩa đặc biệt cả về khoa học và kinh tế, vừa tận dụng được nguồn
nguyên liệu tự nhiên sẵn có, vừa tạo ra được vật liệu có ứng dụng trong
phân tích và trong xử lí môi trường.


3
PHẦN II: NỘI DUNG LUẬN ÁN
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHẤT HẤP PHỤ
1.1.1. Chất hấp phụ. Cơ sở và ứng dụng [19, 77]
Chất hấp phụ (adsorbent) là những chất có bề mặt tiếp xúc lớn, có
khả năng hút các chất khí hay chất tan trong pha lỏng lên bề mặt. Khả
năng hấp phụ của mỗi chất tuỳ thuộc vào bản chất, điện tích bề mặt riêng
của chất hấp phụ, nhiệt độ, pH và bản chất của chất tan. Quá trình tích lũy
vật chất lên bề mặt chất hấp phụ gọi là sự hấp phụ. Chất được tích lũy lên
bề mặt chất hấp phụ gọi là chất bị hấp phụ. Ngược với quá trình hấp phụ
là quá trình giải hấp. Đó là quá trình giải phóng chất bị hấp phụ khỏi lớp
bề mặt chất hấp phụ.
Tuỳ theo bản chất của lực tương tác giữa chất hấp phụ và chất bị
hấp phụ mà có sự hấp phụ vật lý và sự hấp phụ hoá học.
+ Hấp phụ vật lý được gây ra bởi lực vandecvan giữa các phân tử
chất hấp phụ và các phân tử chất bị hấp phụ. Liên kết trong hấp phụ vật lý
thường rất yếu và dễ bị phá vỡ.
+ Hấp phụ hoá học được tạo nên do ái lực (liên kết) hoá học giữa
chất hấp phụ với chất bị hấp phụ. Liên kết trong hấp phụ hoá học bền,
khó bị phá vỡ hơn hấp phụ vật lý.

hấp phụ càng lớn thì phần tiếp xúc giữa chất tan và chất hấp phụ càng
lớn, chất tan lưu lại trên bề mặt chất hấp phụ càng nhiều. Như vậy độ xốp
và diện tích bề mặt chất hấp phụ là các yếu tố vật lý quan trọng của quá
trình hấp phụ.
+ Ảnh hưởng của nhiệt độ: Khi nhiệt độ tăng, sự hấp phụ trong
dung dịch thường giảm, nhưng ở mức độ thấp hơn so với hấp phụ khí.
Tuy nhiên, đối với cấu tử hoà tan hạn chế mà khi tăng nhiệt độ, độ tan
tăng lên thì khả năng hấp phụ cũng có thể tăng lên, vì nồng độ của nó 5
trong dung dịch tăng lên.
Với mục đích hấp phụ thì việc lựa chọn chất hấp phụ phải dựa trên
đường đẳng nhiệt hấp phụ. Việc tính toán đường đẳng nhiệt hấp phụ dựa
trên các phản ứng giữa chất hấp phụ và chất bị hấp phụ; dựa vào cấu trúc
hay kích thước của chất hấp phụ. Để mô tả sự ảnh hưởng cơ bản giữa chất
hấp phụ và chất bị hấp phụ người ta đưa ra các yếu tố sau. Đây cũng
chính là các yếu tố để mô tả chất hấp phụ.
Thứ nhất là năng lượng phản ứng thế. Thứ hai là nhiệt hấp phụ.
Thứ ba là sự ảnh hưởng của các thông số của chất bị hấp phụ (độ phân
cực, mô men lưỡng cực và mô men tứ cực). Thứ tư là dựa trên các yếu tố:
độ phân cực, điện tích, lực vandecvan, kích thước lỗ xốp và hình dạng
của chất hấp phụ.
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ứng dụng của
các chất hấp phụ. Các chất hấp phụ có tính thương mại như than hoạt tính
(activated carbon), zeolites, silica gel hay nhôm oxit hoạt tính (activated
alumina) được ứng dụng rộng rãi trong tách các kim loại, các chất hữu cơ
ở dạng khí và lỏng (bảng 1.1) [77].

Bảng 1.1. Ứng dụng của các chất hấp phụ
6
Bảng 1.1. (Tiếp)

Gas Purification
H
2
O/olefin-natural gas, air… Silica, alumina, zeolite
CO
2
/C
2
H
4
, natural gas Zeolite, carbon molecular sieve
Hydrocarbons, halogenated organics, Activated carbon, silicalite
solvents/vent streams
Sulfur compounds/natural gas, Zeolite, activated alumina
hydrogen…
SO
2
/vent streams Zeolite, activated carbon
Odors/air Silicalite
Liquid Bulk Separations
Normal paraffins/isoparaffin, Zeolite
aromatics
p-xylene/o-xylene, m-xylene Zeolite
Fructose/glucose Zeolite
Liquid Purifications

than tro bay hay các khoáng liệu thuần tuý tự nhiên như đất sét, zeolit
[70, 88, 90, 92] , các quặng phốt phát, phốt phát tổng hợp [38, 64]… hay
các sản phẩm phụ của quá trình chế biến hải sản như vỏ tôm, vỏ cua
Nhìn chung, các vật liệu trên ít khi được sử dụng trực tiếp làm vật
liệu hấp phụ mà thường phải qua một quá trình biến đổi hoá lý nào đó,
nhằm tạo bề mặt có khả năng hấp phụ tốt. Các tác nhân dùng để biến tính
các vật liệu đó thường là các axit như HNO
3
, H
2
SO
4
[20], các chất oxi hoá
như H
2
O
2
, H
2
S
2
O
8
hoặc các axit hữu cơ hay NaOH [26, 66]
Chẳng hạn, khi biến tính vỏ trấu bằng các tác nhân hoá học, tác giả
Nguyễn Văn Nội và cộng sự [32] đã thu được một vật liệu có khả năng
hấp phụ khá tốt các ion kim loại Cu
2+
, Pb
2+

8
nhà khoa học nghiên cứu. Ví dụ, than hoạt tính từ cây bồ đào đã được các
tác giả [83, 84] nghiên cứu và ứng dụng để hấp phụ các kim loại: Hg(II),
Cr(III), Cu(II), Cd(II), NI(II), Co(II), Mn(II) Than hoạt tính chế tạo từ
xơ dừa đã được tác giả Kadirvelu [69] dùng để hấp phụ Hg(II). Dung
lượng hấp phụ Hg(II) của vật liệu này khá cao, tới 154mg Hg/1g vật liệu.
Vật liệu hấp phụ chế tạo từ tro của vỏ trấu đã được Qingge Feng và cộng
sự [75] nghiên cứu. Các ion kim loại Pb
2+
và Hg
2+
đã được các tác giả sử
dụng để đánh giá khả năng hấp phụ của loại vật liệu này. Dung lượng hấp
phụ Pb và Hg của vật liệu lần lượt là 9,86mg/g và 3,05mg/g.
Than tro bay là chất thải rắn được tạo ra trong quá trình đốt than ở
các nhà máy nhiệt điện. Các nhà máy nhiệt điện hàng năm thải ra hàng
triệu tấn tro bay, tuy vậy chỉ có một phần nhỏ trong số đó được sử dụng
làm vật liệu xây dựng, phần lớn còn lại gây ô nhiễm môi trường và cản
trở sản xuất. Chính vì vậy, việc chuyển hoá tro bay thành chất hấp phụ
được rất nhiều nhà khoa học quan tâm. Tác giả Đặng Xuân Tập [26] đã
chuyển hoá than tro bay thành chất hấp phụ các ion kim loại nặng. Dung
lượng hấp phụ cực đại đối với Co
2+
, Ni
2+
, Hg
2+
và Pb
2+
lần lượt là:

chitosan gấp 6 đến 10 lần lượng dùng để tách Cu. Các tác giả [51] đã điều
chế chitosan dạng hạt xốp với hai cỡ hạt là 1mm và 3mm để hấp phụ ion
Cd
2+
trong nước. Dung lượng hấp phụ Cd cực đại của hai cỡ hạt lần lượt
là 518mg/g và 188mg/g. Tác giả Nguyễn Xuân Trung và cộng sự [21, 33]
đã nghiên cứu khả năng hấp phụ một số ion kim loại nặng độc hại trên
chitosan biến tính và dùng vật liệu này để xử lý kim loại nặng trong một
số nguồn nước.
Các loại vật liệu có nguồn gốc tự nhiên như zeolit, đất sét hay các
oxit tự nhiên cũng có khả năng hấp phụ các ion kim loại.
* Zeolit là những tinh thể aluminosilicat của kim loại kiềm và kiềm
thổ, có cấu trúc tứ diện và được nối với nhau bởi các nguyên tử oxi ở các
đỉnh tứ diện [26]. Trong tự nhiên có khoảng 40 loại zeolit. Loại khoáng
liệu này đã được nghiên cứu từ những năm 70 của thế kỷ trước, hiện nay
các nhà khoa học đã tổng hợp các zeolit nhân tạo. Các zeolit nhân tạo
được sử dụng nhiều trong công nghệ hấp phụ, lọc và xúc tác.
Dung lượng hấp phụ một số ion kim loại nặng của hai zeolit tiêu
biểu được trình bày trong bảng 1.2.
10
Bảng 1.2. Dung lượng hấp phụ các ion kim loại của zeolit

Vật liệu
Dung lượng hấp phụ (mg/g)
Cd
2+
Cr


* Đất sét được chia làm 3 loại chính là smectites, kaolinite và
micas. Ngoài ra còn có ilite, bentonite Đất sét cũng có khả năng hấp
phụ khá tốt một số ion kim loại (bảng 1.3) [88, 92].
Bảng 1.3. Dung lượng hấp phụ một số ion kim loại trên đất sét

Vật liệu
Dung lượng hấp phụ (mg/g)
Pb
2+
Cd
2+
Zn
2+
Cr(VI)
Sr
2+
Smectites
0,68
0,72
4,98
-
-
Kaolinite
0,12
0,32
1,25
-
-
Bentonite

Sơn Tây, Hà Tây)

Hình 1.1. Mặt lớp cắt đá ong tự nhiên
12
Đã có rất nhiều tài liệu nói về đá ong và có nhiều ý kiến khác nhau
về nguồn gốc hình thành loại khoáng chất này. Đa số các tác giả đồng
tình với quan điểm cho rằng đá ong hình thành là do các oxit sắt theo các
mạch nước ngầm di chuyển từ những nơi khác đến và cũng do sự ngấm
dần các oxit sắt từ tầng đất trên xuống phía dưới. Do sự thay đổi mực
nước ngầm trong đất, kết hợp với quá trình oxi hoá làm cho đất bị khô lại
và kết cấu thành đá ong.
Đá ong có thể hiểu là những tầng phong hoá ở những miền nhiệt
đới. Trong đá ong có chứa nhiều nguyên tố như Fe, Al, Si, các kim
loại kiềm và kiềm thổ, ngoài ra còn có lượng nhỏ các kim loại khác
như Mn, Cr, V, Ti… Các tầng phong hoá này có thể chặt cứng như đá
tảng, nhưng khi ở trạng thái phân bố tự nhiên chúng lại rất mềm, có
thể cắt được bằng dao, kéo. Ở những nơi trồi lên bề mặt thì các tầng
đá ong mềm sẽ đông cứng lại.
Do có chứa các oxit nhôm, sắt và silic và có nhiều đặc tính hấp phụ
tốt như: độ xốp tương đối cao, bề mặt riêng lớn… nên đá ong đã được
nghiên cứu và sử dụng làm vật liệu hấp phụ asen. Tác giả Frederick
Partey và cộng sự đã nghiên cứu thành công sự ảnh hưởng của nhiệt độ
lên khả năng hấp phụ asen trên đá ong do đông kết cùng với sắt. Khi nhiệt
độ tăng, dung lượng hấp phụ asen cũng tăng, ở cùng nhiệt độ, dung lượng
hấp thu asenit luôn cao hơn asenat [49]. Tác giả Trần Hồng Côn (Trường
Đại học KHTN – ĐHQG Hà Nội) đã biến tính đá ong thành vật liệu hấp
phụ asen tương đối tốt (khoảng 60mg asen bị hấp phụ trên 1g đá ong biến

FeS
4
) [48, 53].
Trong cơ thể sinh vật, đồng thường có ở một vài protein như:
cytochrome oxidaza, tyrosinaza và laccaza. Trong nước, đồng có thể tồn
tại ở ba dạng: hạt lơ lửng, dạng keo và dạng hòa tan. Dạng tan là ion tự
do hoặc phức có phối tử là vô cơ hay hữu cơ [22].
Chì (Pb) là kim loại nhóm IVA, có màu xám thẫm, mềm, dễ dát
mỏng và dẫn điện tốt. Chì là nguyên tố phân bố khá rộng rãi trong thiên
nhiên ở dạng kết hợp với các kim loại khác, đặc biệt là với Ag và Zn. Trữ
lượng của chì là 10
-4
% so với tổng số nguyên tử của vỏ trái đất.
Trong tự nhiên người ta ít thấy chì ở dạng nguyên chất mà thường
thấy ở dạng hợp chất như sunfua, cacbonat, photphat hoặc clorua.
Khoáng vật quan trọng nhất của chì là galen (PbS). Ngoài ra còn có các
khoáng vật khác là cerusit (PbCO
3
), anglesit (PbSO
4
) và pyromophit
(Pb
5
Cl(PO
4
)
3
).
Cadimi (Cd) là kim loại thuộc nhóm IIB (cùng với Zn, Hg). Nó
được phát hiện vào năm 1817 bởi một nhà khoa học người Đức. Đây là

lượng sản xuất coban trên thế giới chỉ vào khoảng 20 ngàn tấn mặc dù
coban là vật liệu chiến lược nhất đối với kỹ thuật quốc phòng 7.
Coban được sử dụng trong kỹ nghệ thuỷ tinh màu, trong công
nghiệp đồ sứ, luyện kim để chế tạo những hợp kim và thép đặc biệt (thép
có mặt coban sẽ tăng độ rắn, độ chịu nhiệt, chịu axít ). Coban và các hợp
chất của nó được dùng làm chất xúc tác cho nhiều quá trình hoá học.
Muối của coban thường được sử dụng làm chất màu trong hội hoạ, đồ
gốm Đồng vị phóng xạ nhân tạo Co
60
được sử dụng rộng rãi trong y học
(chữa bệnh ung thư), trong kỹ thuật quân sự Flo (bis(3-florua
salixilandehit)) etyldiamin coban (II) được dùng như nguồn cung cấp oxi
cho phi công lái máy bay ở độ cao. 15
Niken (Ni) là nguyên tố phân nhóm phụ nhóm VIII B, chu kỳ 4
trong bảng hệ thống tuần hoàn. Trong vỏ trái đất, niken chiếm khoảng
0,03% so với tổng số các nguyên tử và chiếm khoảng 2,96% khối lượng
vỏ trái đất. Những khoáng vật quan trọng của niken là nikelin (NiAS),
milerit (NiS) và penladit ((Fe,Ni)
9
S
8
). Khoáng vật của niken và coban
thường lẫn với nhau và lẫn với khoáng vật của đồng, sắt và kẽm. Những
nước giàu quặng niken là Cuba, Canada, Philippin, Indonexia và
Ôxtraylia.
Những hợp kim quan trọng chứa niken thường được sử dụng
rộng rãi là nicrom, nikelin (31% Ni), constatan (40% Ni và 60% Cu)

gây ra một số ảnh hưởng đối với sức khoẻ con người. Nhiễm độc đồng
trong thời gian ngắn có thể gây rối loạn dạ dày và nôn mửa. Việc sử dụng
nước có nồng độ đồng vượt quá giới hạn cho phép trong nhiều năm có thể
gây ra những bệnh về gan và thận. Khi cơ thể người hấp thụ một lượng
đồng lớn sẽ có biểu hiện của bệnh Wilson. Đây là căn bệnh do đồng tích
đọng trong gan, não và da gây nên chứng đãng trí và thần kinh. Ngoài ra,
những người làm công việc thường xuyên tiếp xúc với đồng dễ mắc bệnh
ung thư phổi.
1.3.2.2. Độc tính sinh học của chì [4, 62, 78]
Chì thuộc vào loại chất độc bảng A. Tuy vậy, do ít gây hại cho
thực vật nên chì ít được sử dụng làm thuốc trừ sâu. Đối với động vật và
con người, chì và các hợp chất của nó đều rất độc. Bình thường, con
người tiếp nhận hàng ngày 0,1 – 0,2mg Pb từ các nguồn không khí,
nước và thực phẩm, nhưng nếu tiếp nhận lâu dài 1,0mg Pb/ngày sẽ bị
nhiễm độc chì mãn tính và nếu hấp thụ trên 1,0 gam Pb/ngày có thể
dẫn đến tử vong.
Khi xâm nhập vào cơ thể, chì tập trung chủ yếu ở xương. Tại đây,
chì tương tác với photphat trong xương rồi chuyển vào các mô mềm của
cơ thể và thể hiện độc tính của nó. Ngoài ra, chì còn ngưng đọng ở gan, lá
lách, thận… Chì phá hủy quá trình tổng hợp hemoglobin và các sắc tố cần
thiết khác trong máu như cytochrom. Khi tích lũy trong các tế bào hồng
cầu, chì làm giảm thời gian sống của hồng cầu, do đó làm tăng chứng

Trích đoạn Biến tính đá ong bằng cách sử dụng chất hoạt động bề mặt Biến tính đá ong bằng cách sử dụng đồng thời các dung dịch muối: Nghiên cứu thành phần của đá ong tự nhiên và đá ong biến tính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status